Anhbaque’s Blog

Just another WordPress.com weblog

Archive for the ‘Uncategorized’ Category

HCM-Một cuộc đời (Chương 5)

Posted by anhbahoa on May 3, 2010

HỒ CHÍ MINH-MỘT CUỘC ĐỜI

CHƯƠNG V

GƯƠM THẦN

Trên chuyến tau tới Hồng Công nhìn những cánh đồng lúa xuân xanh mơn mởn, Nguyễn Aí Quốc chắc đang có những suy nghĩ lẫn lộn về tình cảnh hiện tại của mình. Kết quả hai năm làm việc của ông tại Quảng Châu của ông là dáng hài lòng xét về một số mặt. Ông đã xây nên những nền tảng vững chắc cho một đảng Cộng sản tương lai ở Đông Dương và đã đào tạo gần một trăm chiến sĩ tận tâm, một số đã trở về ba kỳ của Việt Nam để xây đựng một mạng lưới cách mạng. Tuy nhiên, vụ tấn công phủ đầu của Tưởng Giới Thạch vào đảng Cộng sản Trung Quốc ở Quảng Châu là một bước thụt lùi nghiêm trọng cho tổ chức non trẻ này. Việc tiếp tục hoạt động của Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam ở miền nam Trung Quốc giờ rất khó khăn, và đại bản doanh cũng phải rời đi nơi khác. Bản thân ông cũng đã bắt đầu một cuộc hành trình vào nơi vô định, và các mối liên lạc của ông đối với các cộng sự chắc sẽ bị cắt đứt, có thể là trong nhiều năm.

Nguyễn Aí Quốc (vẫn hoạt động dưới cái tên Lý Thụy) ban đầu có thể hi vọng ở lại Hồng Công, thuộc địa của Anh, trong một thời gian dài để duy trì liên lạc với các thành viên khác của Hội và tìm một địa điểm mới để đặt đại bản doanh. Nhưng nhà chức trách địa phương nghi ngờ giấy tờ tùy thân của ông nên đã ra lệnh cho ông phải rời khỏi Hồng Công trong vòng 24 giờ. Ngày hôm sau, ông đi bằng tàu biển đến Thượng Hải. Thành phố thương mại khổng lồ này vẫn còn kinh hoàng sau vụ “khủng bố trắng” của Tưởng Giới Thạch tháng trước nhằm vào các phần tử cộng sản ở trong vùng. Để tránh bị phát hiện, Nguyễn Aí Quốc thuê một phòng ở một khách sạn đắt tiền và ăn mặc như một nhà tư sản giàu có. Tiền bạc cũng nhanh chóng cạn kiệt nhưng cuối cùng ông cũng lên được tàu đi Vơ-la-đi-vô-xtốc.

Tại Vơ-la-đi-vô-xtốc, đại bản doanh của các hoạt động cách mạng ở vùng Viễn Đông, Nguyễn Aí Quốc đã gặp lại người bạn cũ, Giắc-cơ Đô-ri-ô, một ngôi sao đang lên của Đảng Cộng sản Pháp. Ông cũng gặp Gri-gô-ry Voi-tin-xki, nhân viên Quốc tế Cộng sản III, người đã xúc tiến việc thành lập phong trào Cộng sản ở Trung Quốc. Đô-ri-ô đề nghị ông trở về châu Âu và sau đó về Xiêm để cố gắng gây dựng lại phong trào ở Đông Dương với sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Pháp và những nhà hoạt động của Hội tại đó. Voi-tin-xki gợi ý rằng ông trở lại Thượng Hải để làm việc với các binh lính Việt Nam đóng tại tô giới của Pháp tại thành phố này.

Nguyễn Aí Quốc lắng nghe Voi-tin-xki một cách lịch sự, nhưng ông nghiêng mạnh về đề nghị của Đô-ri-ô. Thực tế, trước khi rời khỏi Quảng Châu, ông đã kết luận rằng ông chỉ có hai sự lựa chọn – ở lại Trung Hoa với rủi ro bị bắt giữ hay sang Xiêm để khôi phục liên lạc với phong trào ở Đông Dương láng giềng. Ông đi tàu tới Mát-xcơ-va và tới nơi vào đầu tháng 6. Ở đó, ông gửi một yêu cầu đến Văn phòng Viễn Đông, lập luận rằng ông muốn sang Xiêm hơn là quay trở lại Trung Hoa. Ông nói, nhiệm vụ quan trọng nhất là củng cố phong trào bên trong Đông Dương vì tin tức về các sự kiện gần đây ở Trung Hoa rõ ràng đã làm người ta nản lòng. Ông thấy rằng mình có thể gây ảnh hưởng đến các sự kiện ở Đông Dương từ Xiêm hiệu quả hơn là từ Thượng Hải.

Trong yêu cầu gửi cho Văn phòng Viễn Đông, Nguyễn Ái Quốc nói rằng ông xin kinh phí cho chuyến đi Xiêm, và từ đó đến Đông Dương để “thời gian lưu lại ở thuộc địa này khoảng hai năm”. Trong khi chờ đợi quyết định của Quốc tế Cộng sản III, ông được chỉ định giữ một vị trí tạm thời ở đại bản doanh của Quốc tế Cộng sản III, và trong lúc nhàn rỗi, ông viết một số bài báo cho đăng trên tờ Inprecor về hoàn cảnh ở Đông Dương. Sau một thời gian nghỉ ở nhà điều dưỡng tại Ép-pa-to-ri-a, gần Cơ-rưm trên bờ biển Đen, nơi ông được điều trị một chứng bệnh chưa được biết đến, ông nhận được Trường Xta-lin chấp thuận lập một bộ phận riêng cho các sinh viên Việt  Nam, những người trước đó đã được sắp xếp để gửi đi học từ Quảng Châu. Trong số năm học viên hiện đang ở Mát-xcơ-va có Trần Phú, một chiến sĩ trẻ mạnh mẽ có nét mặt thanh người gốc Quảng Ngãi. Là con của một viên quan triều đình, Trần Phú theo học tại trường Quốc học Huế và gia nhập một trong những đảng quốc gia chủ nghĩa ở miền Trung Việt Nam. Được các đồng sự gửi sang Quảng Châu để đàm phán với Nguyễn Ái Quốc để lập một liên minh, ông quyết định gia nhập Hội và được cử đi Mát-xcơ-va năm 1927 và ở đó ông sớm tạo được ấn tượng với sự thông minh xuất chúng và tận tụy của mình.

Tháng 11 năm 1927, Nguyễn Ái Quốc nhận được hồi âm từ phía Quốc tế Cộng sản III đối với đề nghị đi công tác của mình. Thay vì đi Xiêm, ông được chỉ thị đi Pháp để giúp đỡ Đảng Cộng sản Pháp soạn thảo một chương trình hành động hữu hiệu để xây dựng một phong trào cách mạng ở Đông Dương, không những chỉ trong số những người Việt sống tại Pháp, mà còn bằng việc thiết lập một cơ sở ở Xiêm hoặc nơi khác trong khu vực. Tuy nhiên, không có khoản kinh phí nào dành cho việc ông trở về châu Á trong tương lai.

Trên đường trở về Pháp, ông dừng lại ít lâu ở Béc-lin, nơi ông giúp các đồng chí Đức tại đó thiết lập một chi nhánh Liên đoàn chống đế quốc, một tổ chức vỏ bọc cho các hoạt động của Liên Xô ở nước ngoài. Sau đó, ông tiếp tục sang Pa-ri bằng một tên giả, nơi ông báo cáo với đại bản doanh của Đảng Cộng sản Pháp ở Mông-mác-tơ. Đảng Cộng sản Pháp không dành cho ông việc gì cũng như không giúp đỡ ông về tài chính, điều đó rõ ràng làm ông bực mình. Trong thư gửi một đồng sự ở Mát-xcơ-va tháng 5 năm đó, ông bày tỏ sự thất vọng đối với việc Đảng Cộng sản Pháp tiếp tục không giải quyết các vấn đề thuộc địa. Mặc dù thừa nhận rằng Đảng Cộng sản Pháp đã dành một sự chú ý nào đó cho các vấn đề thuộc địa, ông phàn nàn rằng hầu hết các tiến bộ mới chỉ đạt được trên giấy. Để chứng minh cho quan điểm của mình, ông dẫn kinh nghiệm của bản thân: “Trong thời gian một tháng rưỡi tôi ở Pa-ri, Đô-ri-ô đang bị cầm tù và tôi không có cơ hội để nói chuyện với những người khác. Tôi thường xuyên đề nghị có một địa chỉ để tôi có thể liên lạc với họ sau khi tôi trở về Viễn Đông, nhưng họ từ chối. Họ nói rằng Ban Thuộc địa có ngân sách cho các hoạt động liên quan đến thuộc địa, nhưng tôi được biết là ngân sách đó trống rỗng. Tôi cho rằng các khoản tài chính của Ban Thuộc địa cần phải được điều tra và Ban này cần phải thường xuyên báo cáo cho các đồng chí khác về hoạt động và kế hoạch của mình. Hơn nữa, ủy ban phải tổ chức các phương tiện hữu hiệu hơn để liên lạc với người của chúng tôi ở Đông Dương để tôi có thể giữ liên lạc được với họ”.

Nguyễn Aí Quốc có thể có ý định ở lại pháp cho đến khi ông có được khoản tài chính cho việc trở về châu Á, nhưng những người quen cảnh báo ông rằng mật thám đã nghe được tin đồn ông đã trở về Pháp và đang tăng cường các nỗ lực để tìm ông. Vào đầu tháng 12, ông đi Bỉ để dự một cuộc họp của hội đồng chấp hành của Liên Đoàn chống đế quốc. Không có tư liệu nói về việc ông phát biểu công khai tại hội nghị, nhưng ông đã tận dụng cơ hội để làm quen với một số đại biểu tại hội nghị, trong đó có các nhân vật theo chủ nghĩa dân tộc như Su-ca-no của In-đô-nê-xi-a, Mô-ti-la-la Nê ru (bố đẻ của thủ tướng tương lai Gia-oa-hác-lơn Nê-ru) của Ấn-Độ và vợ góa của Tôn Dật Tiên, bà Tống Khánh Linh. Ông cũng nối lại tình bạn với nhà cộng sản Nhật Ka-ta-y-a-ma Sen, người ông biết tại Pa-ri và Mat-xcơ-va. Vào một thời điểm quan trọng sau này, bà Tống là người đặc biệt hữu ích đối với ông.

Sau khi hội nghị kết thúc vào giữa tháng 12, Nguyễn Aí Quốc về Pháp ở một thời gian ngắn, và sau đó đi tàu hỏa đến Béc-lin. Khi đến nơi, ông viết một bức thư cho Thô-mát Đôm-ban ở Mat-xcơ-va, giải thích rằng ông hi vọng được trở về Đông Dương trong vòng hai hoặc ba tuần và đề nghị Quốc tế nông dân cung cấp tài chính cho việc đi lại cũng như các kế hoạch hành động để giúp cho công việc tương lai của ông. Nhưng trong thư trả lời của Đôm-ban, lá thư mãi đến đầu tháng giêng mới tới nơi, lại không có cam kết gì về đề nghị giúp đỡ tài chính của ông, lấy lý do là ông ta không biết rõ về tình hình ở Đông Dương, Đôm-ban gợi ý với ông rằng trước tiên nên chuyển hướng sang nhiệm vụ huy động nông dân ở các tỉnh ở các tỉnh ở cả hai phía của biên giới Trung Hoa, tổ chức các hội nông dân và tiến hành tuyên truyền, nhưng ông ta không đả động gì đến khả năng trợ giúp tài chính.

Trong vòng vài tháng tiếp theo, Nguyễn Ái Quốc ở lại Béc-lin trong khi chờ đợi một câu trả lời rõ ràng cho đề nghị của ông. Để hạn chế chi tiêu đến mức tối đa, ông sống cùng với một người quen là đảng viên của Đảng Cộng sản Đức. Ông viết báo về nhiều chủ đề, trong đó có một bài về phong trào Xô-viết Ha Lu Feng của Peng Pai ở tỉnh Quảng Đông, và đưa ra kế hoạch viết một cuốn hồi ký về những kinh nghiệm của ông khi làm việc với phong trào nông dân ở Trung Hoa. Trong một bức thư gửi một đồng chí ở Mát-xcơ-va, ông ước tính rằng cuốn sách sẽ vào khoảng 120 trang và chia làm 5 phần. Tuy nhiên, vào tháng 4, tiền nong cạn kiệt, ông ngày càng trở nên sốt ruột và gửi thư khẩn cho Văn phòng Viễn Đông báo cáo về tình hình của mình. Lá thư có vẻ ngắn, nhưng diễn cảm:

“Do không thể làm việc ở Pháp, chẳng có ích gì ở Đức, nhưng ở Đông         Dương lại cần đến, nên tôi đã yêu cầu trơ về đó. Trong lúc bức thư gửi các đồng chí tôi đã đưa ra số tiền chi phí đi lại và làm việc. Khi Đô-ri-ô ghé qua Béc-lin, ông ta hứa sẽ chú ý đến tình hình của tôi. Tôi nói với ông ta rằng nếu không có kinh phí để hoạt động, tối thiểu cũng phải cấp cho tôi chi phí đi lại để tôi có thể đi, vì hơn một năm qua, tôi đã lang thang không mục đích từ nước này sang nước nọ trong khi ở Đông Dương  lại có rất nhiều việc phải làm. Nhưng cho đến bây giờ, tôi vẫn không nhận được chỉ thị nào từ các đồng chí hoặc trả lời tử Đô-ri-ô. Bây giờ tôi đang ở một tình thế khó khăn 1) chờ đợi vô thời hạn (chờ chỉ thị đã bốn tháng), 2) không có tiền để sống, nên tôi đã nói với MOPRE (cơ quan thuộc Quốc tế Công sản III được chỉ thị giúp đỡ các đồng chí cách mạng) nhưng họ nói rằng họ không thể cung cấp tài chính vô tận cho tôi, chỉ có mười tám mác một tuần (số tiền đó     không đủ để sống ). Vậy chỉ thị hãy cho tôi càng  sớm càng tốt tôi phải làm gì và khi nào tôi có thể đi.”

Hai tuần sau, cuốc cùng ông cũng nhận được một bức thư từ Mát-xcơ-va cho phép ông trở về Đông Dương, với tiền đi lại và ba tháng tiền thuê phòng và tiền ăn do Đảng Cộng sản Pháp cung cấp. Giữa tháng 5, ông viết thư cho Văn phòng Viễn Đông nói rằng ông đã được phép đi và sẽ đi vào cuối tháng.

Cuối tháng 6, Nguyễn Ái Quốc rời Béc- lin và đi bằng tàu hỏa sang Thụy Sĩ đến I-ta-li-a. Nhiều năm sau, ông nhớ lại chuyến đi:

“Khi (tôi) yêu cầu cấp giấy phép đi qua I-ta-li-a, chính phủ phát xit hỏi rất nhiều câu hỏi phức tạp. Tại biên giới, lính biên phòng tra cuốn từ điển Chống Quốc tế Cộng sản III gồm hai nghìn trang, trong đó cung cấp tên của các nhà cách mạng của tất cả các nước từ A đến Z, họ không thấy tên tôi ở đó nên cho phép tôi đi qua.”

Đi qua Mi-lan, ông tiếp tục hành trình đến Rô-ma, nơi ông bị đưa đến đồn cảnh sát, bị thẩm vẫn, và (theo chính ông kể lại) bị đánh đến gần như bất tỉnh. Sau đó, tên chỉ huy hỏi cung bắt tay ông và mời ông hút thuốc, sau đó tiếp tục hỏi cung. Với những người thiếu kinh nghiệm, Nguyễn Ái Quốc sau này cảnh báo người đọc, rất dễ rơi vào bẫy của bọn tư bản. Sau khi được thả, ông tiếp tục đến Napoli, nơi ông đáp một chuyến tàu biển Nhật Bản để đi Xiêm vào cuối tháng 6.

Nguyễn Ái Quốc đến Băng – cốc vào khoảng tháng 7 năm 1928. Bởi vì Xiêm không phải là thuộc địa của châu Âu và có một xã hội tương đối ổn định, chính phủ cho phép người nước ngoài đi lại khá tự do, kể cả nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc nổi tiếng Vương quốc này cũng có khá nhiều người Việt Nam sinh sống (người Việt Nam hải ngoại được người Việt Nam gọi là Việt kiều), hầu hết sống ở vùng đồng bằng khô ráo ở Khô-rát, miền Đông Bắc của nước này. Ở miền Đông Bắc, các đảng viên của Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam, theo mệnh lệnh của ông, đã bắt đầu thiết lập một chi nhánh hoạt động trong cộng đồng Việt kiều. Điều có ý nghĩa là chỉ đi bộ khoảng 2 tuần từ Đông Bắc Xiêm qua núi Trường Sơn là đến miền Trung Việt Nam.

Người Việt Nam chống thực dân đã sử dụng khu vực này như một thánh địa trong nhiều năm. Hầu hết trong số hơn hai mươi nghìn người Việt Nam sống ở Xiêm thời đó là người di cư đến Xiêm hồi đầu thế kỷ. Nhiều người đã ủng hộ phong trào Cần Vương và phong trào chống thuộc địa của Phan Bội Châu. Sau khi một số các môn đồ của mình bắt đầu định cư ở đó, ông Châu thăm Băng-cốc năm 1908 và đề nghị chính phủ hoàng gia cho phép họ được làm nghề nông. Nhiều quan chức Xiêm không tin người Pháp và có cảm tình với sự nghiệp của người Việt Nam, nên họ đã chấp thuận đề nghị của ông và một trang trại của người Việt Nam đã được lập nên ở Phi-chít, ở thung lũng Chao Phơ-rây-a phía Bắc Băng-cốc. Vài năm sau, Quang phục Hội của ông Châu đã thiết lạp một chi nhánh ở Xiêm, và một số người Việt Nam cấp tiến, trong đó có những thành viên tương lai của Hội như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái, đã qua đất Xiêm sang Trung Hoa. Sau khi đến Quảng Châu từ Mát-xcơ-va năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã bắt đầu các kế hoạch thiết lập một cơ sở của Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam tại khu vực này. Năm 1925, Hồ Tùng Mậu đã được cử sang đó để thiết lập bốn chi nhánh, tại Phi-chít và ở các cộng đồng người Việt tại Na-khôn Pha-nôm, U-đôn Tha-ni và Sa-côn Na-khôn ở vùng Đông Bắc. Ở đây, cộng đồng được tổ chức chặt chẽ, các hợp tác xã đã được thiết lập để tiến hành việc canh tác và sản xuất vì lợi ích chung.

Tháng 8 năm 1928, một người Việt Nam mặc bộ quần áo địa phương giản dị và tự nhận là cậu Chín đột nhiên tới Ban-đông, huyện Phi-chít, khoảng hai trăm dặm phía Bắc Băng-cốc. Làng này có khoảng hơn hai chục gia đình Việt Nam, và một chi nhánh của Hội đã được lập tại đó năm 1926. Người lạ mặt ở lại làng khoảng hai tuần, thăm từng gia đình một và thông báo cho họ tình hình thế giới và các điều kiện ở Đông Dương.

Tháng 12, sau khi đi đến kết luận rằng cộng đồng ở đó quá nhỏ, không thể làm căn cứ hoạt động được, Nguyễn Ái Quốc (vẫn đang mang tên Cậu Chín) rời Ban-đông và đi U-đôn Tha-ni ở Đông Bắc. Chuyến đi gian khổ đó mất mười lăm ngày, trong đó có mười ngày đi bộ theo đường rừng. Những người trong nhóm mang theo đồ dự phòng và hành lý riêng. Thoạt tiên, Cậu Chín gặp khó khăn và bị tụt lại sau những người khác, chân ông trầy da, thở gấp. Nhưng bằng nghị lực, ông vẫn quyết tâm đi, vào cuối chuyến đi, ông đã cho thấy bản lĩnh của mình và có những ngày đi được 70 cây số.

U-đôn là một thị trấn lớn hơn nhiều so với Ban-đông, và có cộng đồng người Việt lớn hơn và là đầu mối giao thông thuận tiện với các trung tâm đô thị khác ở vùng đồng bằng Khô-rát. Vì vậy, chi nhánh địa phương của Hội thiết lập năm 1926 trở thành đại bản doanh cho mọi hoạt động của Hội ở Xiêm. Vẫn mang tên Cậu Chín (chỉ một số nhỏ các thành viên của cộng đồng người Việt biết tên thật của ông), ông đã chỉ ra cho các cộng sự cần thiết phải mở rộng tổ chức và xây dựng một cơ sở quần chúng cho Hội bằng cách kêu gọi tập hợp toàn bộ dân cư địa phương chứ không chỉ các thanh niên cấp tiến.

Nguyễn Ái Quốc ở lại U-đôn vài tháng, đề xuất các thay đổi trong thói quen làm việc và sinh sống của các đồng bào mình. Hầu hết người Việt ở Đông Bắc Xiêm là tiểu thương và thợ thủ công, những người không quen lao động nặng nhọc. Ít ai có mối liên hệ với dân cư địa phương hoặc có học tiếng Thái. Ông đã rất nỗ lực để thay đổi những thói quen này, cố gắng làm gương bằng cách tham gia lao động nặng nhọc (khi chính phủ cho phép thành lập trường học địa phương, ông đã giúp xây trường bằng cách khuân gạch). Các buổi tối, ông nói chuyện với dân làng về các sự kiện trên thế giới và tình hình ở Đông Dương. Cộng đồng người Việt địa phương đã dần dần cải thiện mối quan hệ với cư dân Thái-lan ở các khu vực lân cận bằng cách đào giếng, đốn cây và xây trường học. Bản thân ông cũng cố gắng học tiếng Thái, đặt ra thời khóa biểu chặt chẽ phải nhớ được mười từ mỗi ngày và đã xây dựng các trường học cho cư dân Việt Nam để học tiếng Thái và đề cao các phong tục địa phương. Ông quả quyết với đồng bào mình rằng người Xiêm thông cảm với cuộc đấu tranh ở Đông Dương, vì Xiêm tồn tại được như là một quốc gia độc lập nhờ có có sự rộng lượng nhân từ của các nước thực dân trong khu vực.

Nguyễn Ái Quốc cũng bắt đầu có các bước để nâng cao nhận thức chính trị đồng bào mình, viết các bài thơ và vở kịch miêu tả một cách sống động việc Việt Nam bị mất độc lập vào tay người Pháp. Hoạt động dưới cái lốt Hiệp hội Thân ái, một tổ chức đã được các đảng viên của Hội lập ra trong khu vực, ông di chuyển liên tục, lập các chi bộ mới cho các hoạt động của Hội từ Mu-kha-han ở miền Đông đến Nông Khai, nơi chỉ vượt qua sông Mê-công là đến thủ đô hành chính Viêng Chăn của Lào. Để nâng cao hiệu quả tuyên truyền của Hội, ông tổ chức lại tạp chí tiếng Việt địa phương Đồng thanh, đặt tên mới là Thân ái, và đơn giản hóa văn phong để làm cho người đọc địa phương dễ đọc hơn.

Đầu năm 1929, Nguyễn Ái Quốc đi Sa-kon Na-khon, nơi có nhiều người Việt hơn ở U-đôn. Tuy nhiên, theo sự hồi tưởng của các thành viên của Hội sống tại khu vực, Việt kiều tại Sa-kon Na-khon có giác ngộ chính trị kém hơn ở U-đôn. Nhiều người theo Thiên Chúa giáo, những người khác theo Phật giáo hoặc thờ anh hùng quân sự Việt Nam truyền thống Trần Hưng Đạo.

Nhận thấy nhiều người vẫn còn đi cúng ở các đền địa phương để chữa bệnh, ông đã giới thiệu y học hiện đại với họ và mời các bác sĩ về khu vực này khám bệnh. Tuy nhiên, ông không ngần ngại sử dụng các tín ngưỡng địa phương cho các mục tiêu của mình và viết lời cho các bài hát về Trần Hưng Đạo: “Tại đền Diên Hồng và trước các thánh thần chúng tôi cầu khấn, Nhân dân, tất cả một lòng, tất cả quyết tâm, Và bất kỳ ai muốn cướp nước Việt Nam Phải giết hết chúng ta đến người cuối cùng Chừng nào chỉ còn một người Việt Nam còn lại trên mảnh đất này Non sông Việt Nam vẫn còn là tổ quốc của chúng ta.”

Các nhà chức trách Pháp không biết hành tung của Nguyễn Ái Quốc trong suốt hai năm sau khi ông rời Quảng Châu tháng 5 năm 1927. Tuy nhiên, các báo cáo phỏng đoán rằng ông đã ở Mát-xcơ-va, và cuối cùng mật vụ cũng khẳng định được rằng ông đã ở Pa-ri trong một thời gian ngắn cuối năm 1927. Nhưng họ mất dấu vết của ông sau khi ông rời khỏi Brúc-xen tháng 12 năm đó. Tuy nhiên, năm 1928 và 1929, họ có nghe tin đồn rằng ông đang có mặt ở Xiêm và về một người lạ mặt đi quanh các làng Việt kiều ở miền Đông của Xiêm. Ông phải rất thận trọng trong các hành động của mình; cả người Pháp và chính phủ triều đình Huế đều đang tìm kiếm ông. Ngày 10 tháng 10 năm 1929, một tòa án ở Vinh đã kết án tử hình vắng mặt ông về tội xúi giục bạo loạn ở An Nam. Trong hồi ký của mình, ông viết rằng người Pháp biết ông đang ở Xiêm, nhưng vì họ không biết chính xác ông ở đâu, họ đã phái cảnh sát đến để tìm kiếm ông. Có một dịp, ông đã bị đuổi gấp và phải trốn vào trong một ngôi chùa, cắt tóc ngắn để cải trang.

Trong khi Nguyễn Ái Quốc trên đường đến Xiêm, các cộng sự của ông ở nam Trung Hoa phải rất vất vả để duy trì được hoạt động của Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam. Hầu hết các thành viên của tổ chức đã bị bắt, nhưng lại nhanh chóng được thả và cố gắng nối lại các hoạt động của mình ở Quảng Châu dưới sự lãnh đạo của Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu. Tuy nhiên, họ đã chuyển đại bản doanh sang một thung lũng gần phố Ren Xing, gần cửa Da Dong và vị trí ban đầu của viện đào tạo. Tháng 12 năm 1927, các nhà hoạt động tuyệt vọng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tiến hành một cuộc nổi dậy ở thành phố. Một số thành viên của Hội đã tham gia cuộc nổi dậy này và một vài người đã bị lính Quốc dân Đảng giết khi chính phủ đến đàn áp. Những người khác, trong đó có Lê Hồng Sơn, bị bắt và bị bỏ tù vì tội lật đổ. Nhưng các nhà chức trách Quốc dân Đảng không thể chứng minh được tội của họ trước tòa, do vậy những người bị giam giữ cuối cùng cũng được thả, mặc dù họ bị buộc rời khỏi Trung Hoa. Trong khi đó, Hồ Tùng Mậu đã chuyển đại bản doanh của Hội sang Hồng Công, nơi Hội tạm thời bị mất liên lạc với Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc tế Cộng sản III ở Mát-xcơ-va.

Mặc dù có những thất bại đó, vào đầu năm 1928, Hội trở thành một cơ sở đã được định hình của phong trào kháng chiến Việt Nam. Hội đã mở rộng mạng lưới của mình ở trong nước, và tiếp tục đàm phán với các đảng dân tộc chủ nghĩa phi cộng sản để thành lập một mặt trận thống nhất chế độ thuộc địa của Pháp. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán với các nhóm dân tộc chủ nghĩa khác vẫn thường xuyên bị bao trùm bởi sự nghi ngờ lẫn nhau và các khó khăn  nảy sinh từ việc Hội luôn khăng khăng rằng tất cả các đảng phái khác đặt dưới sự lãnh đạo của Hội. Tháng 12 năm 1927, một đảng mới tên là Việt Nam Quốc dân Đảng (VNQDĐ) đã được những người dân tộc chủ nghĩa cấp tiến ở Hà Nội đã được thành lập. Mặc dù đảng mới có cùng tên với tổ chức lưu vong của Phan Bội Châu ở Trung Hoa, tổ chức hiện gần như không còn tồn tại, đảng này là một nhóm riêng biệt, bao gồm các giáo viên và nhà báo trẻ ở Bắc Kỳ và miền Bắc Trung Kỳ. Trong những tháng sau khi thành lập, VNQDĐ đã đàm phán với Hội. Một lần, đảng này thậm chí còn cử đại diện sang Xiêm để đàm phán với các đại diện của Hội, nhưng các đại diện của Hội đã không đến gặp. Tuy nhiên, cũng có những khác biệt lớn về ý thức hệ: các nhà lãnh đạo VNQDĐ đi theo hướng chủ nghĩa xã hội trung dung, lấy “ba nguyên tắc của nhân dân” của Tôn Dật Tiên làm cương lĩnh chính thức của mình, phản đối khái niệm đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác. Ở mức độ chiến thuật cũng có sự khác biệt, vì các nhà lãnh đạo của VNQDĐ khăng khăng giữ quyền lãnh đạo của tổ chức mình ở trong nước. Kết quả là sự cạnh tranh giữa hai nhóm này trở nên gay gắt.

Ngoài các khó khăn để đạt được một lập trường chung với các nhóm chống thực dân khác ở Việt Nam, Hội cũng bắt đầu gặp phải các rạn nứt nội bộ sâu sắc. Mặc dù Hội đã trở thành một lực lượng năng động nhất trong số các phong trào dân tộc chủ nghĩa Việt Nam, tuyển mộ được nhiều người từ cả ba kỳ cũng như trong số Việt kiều ở nước ngoài, phía sau vẻ bề ngoài đó đã bắt đầu có sự bất bình. Hội đã xây dựng với hai cương lĩnh cạnh tranh lẫn nhau, với các mâu thuẫn tiềm tàng do người này sáng lập đầy mưu mẹo, Nguyễn Ái Quốc khéo léo điều chỉnh. Mặc dù có nguồn động viên là khát vọng độc lập dân tộc, Hội dưới sự lãnh đạo của ông có cam kết thực hiện các mục tiêu quốc tế của chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít. Đối với một người Mác-xít, xung đột cơ bản của xã hội hiện đại bắt nguồn từ sự bất bình đẳng giữa các dân tộc bị áp bức và những nước bóc lột họ. Tuy nhiên, việc tuyên truyền của Hội lại tập trung chủ yếu vào vấn đề độc lập dân tộc, và đặc điểm của những người ủng hộ Hội cũng có xu hướng phản ánh một thực tế là nhiều thành viên của Hội từng là đảng viên của các đảng dân tộc chủ nghĩa khác chuyển sang.

Nguyện vọng của Nguyễn Ái Quốc vận dụng luận cương của Lê-nin kết hợp hai vấn đề về chủ nghĩa dân tộc và đấu tranh giai cấp trong điều kiện ở Đông Dương tiếp tục được phản ánh trong sự chỉ đạo ngay sau khi ông rời Quảng Châu mùa xuân năm 1927. Nhưng trong khi một số người kế cận của ông, như các thành viên cựu trào của Tâm Tâm Xã là Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn rõ ràng là đã say mê chủ nghĩa Mác, những thành viên cựu trào khác như Lâm Đức Thu lại theo xu hướng chủ nghĩa dân tộc. Rạn nứt trở nên rõ ràng vào mùa xuân năm 1928, khi Hội tổ chức một cuộc họp không chính thức tại nhà riêng của Lâm Đức Thu tại Hồng Công. Tại cuộc họp, ông Thu tiếp quản vị trí lãnh đạo của tổ chức và đã thông qua một cương lĩnh nhấn mạnh chủ nghĩa dân tộc hơn là cách mạng xã hội.

Trong ba năm tồn tại đầu tiên của Hội, đấu tranh giữa chủ nghĩa dân tộc và cách mạng xã hội đã được kiềm chế. Nhưng sau cuộc họp ở Hồng Công, mâu thuẫn đã nổ ra công khai, và cuối cùng dẫn đến sự phá hủy Hội. Trước tiên, sự bất bình tập trung quanh nhóm lãnh đạo của Ủy ban khu vực của Hội ở Bắc Kỳ; bí thư thứ nhất của Ủy ban Trần Văn Cung. Là một người gốc Nghệ An và là một đảng viên cũ của Đảng Cách mạng Tân Việt, người đã tham gia cuộc nổi dậy năm 1927 ở Quảng Châu và ngồi tù một thời gian ở nhà tù Trung Hoa, ông Cung đã dự cuộc họp tại nhà của Lâm Đức Thu và thất vọng với điều mà ông cho là sự ủy mị về ý thức hệ của đường lối mà ban lãnh đạo mới của Hội đưa ra. Ông không tin là chủ đề về độc lập dân tộc và lòng yêu nước sẽ nhận được sự ủng hộ của nông dân nghèo và công nhân. Ông thấy cần phải giải quyết các lợi ích kinh tế thiết thực của họ. Lập luận của ông Cung không được hoan nghênh lắm tại cuộc họp. Khi quay về Hà Nội, ông thuyết phục các đảng viên khác thuộc ủy ban khu vực Bắc Kỳ về tính đúng đắn của quan điểm của mình và họ bắt đầu lên kế hoạch ứng phó.

Mối lo ngại của họ là thành phần hội viên của tổ chức. Theo quan điểm của ông Cung, Hội không có những nỗ lực đúng mức để nhận vào hội viên thuộc giai cấp vô sản tuy còn ít ỏi nhưng đang gia tăng. Nhà tổ cwhcs công nhân Tôn Đức Thắng là một ngoại lệ. Sau khi làm thợ máy hải quân ở Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông quay về Đông Dương để lập nên một hội của những người bốc vác ở Sài Gòn, và một vài công đoàn “đỏ” đã được thành lập trong các nhà máy ở các thành phố công nghiệp miền Trung Việt Nam. Tuy nhiên, ở các nơi khác, rất ít công nhân được kết nạp vào Hội. Việc kết nạp tiếp tục chủ yếu là do các hoạt động của các học viên, những người thuộc tầng lớp gia đình trí thức trở về từ Trung Hoa. Họ đã nhân rộng sự ủng hộ đối với phong trào trong bạn bè và người thân.

Giống như vậy, hoạt động của các đảng viên của Hội tại các khu vực nông thôn tương đối ít, mặc dù một số hội nông dân đã được thành lập năm 1928. Thậm chí dù các cuộc bạo động chống Pháp đã nổ ra ở các khu vực nông thôn kể từ khi bị Pháp chiếm vào cuối thế kỷ trước, Hội cũng không có các nỗ lực lớn để xây dựng cơ sở ở ngoài các thành phố. Đa số các hội viên của Hội (mật vụ ước tính khoảng 90 phần trăm) xuất thân từ giai cấp tư sản thành thị.

Bất bình thứ hai đối với Trần Văn Cung và các cộng sự của ông là thái độ chậm trễ của giới lãnh đạo Hội trong việc hướng tới thành lập một Đảng Cộng sản, một quyết định mà họ thấy vô cùng cần thiết để củng cố  các nền tảng ý thức hệ của phong trào cách mạng Việt Nam. Theo ông Cung, khi ông đưa vấn đề này ra tại cuộc họp tháng 5 năm 1928 ở Hồng Công, Lâm Đức Thu đã né tránh bằng một câu đơn giản “để xem”.

Những bất bình cấp tiến như vậy rõ ràng đã xuất hiện trước khi triệu tập Đại hội lần thứ VI của Quốc tế Cộng sản III ở Mát-xcơ-va vào mùa hè năm 1928. Tuy nhiên, Đại hội tổ chức lần đầu tiên kể từ năm 1924 khi đó Nguyễn Ái QUốc cũng tham dự, rõ ràng đã tăng thêm sức nặng cho những lời bất bình trên, vì các quyết định đưa ra tại Mát-xcơ-va báo hiệu sự chuyển hướng lớn trong chiến lược toàn cầu của chủ nghĩa cộng sản. Thất vọng với những diễn biến tại Trung Hoa, nơi mà liên minh Lê-nin-nít giữa những người cộng sản và những người dân tộc chủ nghĩa đã chấm dứt bằng cuộc thảm sát đẫm máu các nhà hoạt động của Đảng Cộng sản Trung Quốc và do các cân nhắc chính trị trong nước phải áp dụng một đường lối tả khuynh hơn trong các vấn đề đối nội, Giô-sép Xta-lin (người đã tranh giành với Li-ông Tờ-rốt-xki quyền lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô) thúc ép các đại biểu tại Đại hội từ bỏ chiến lược một mặt trận thống nhất rộng lớn mà Đại hội II đưa ra tám năm về trước. Các Đảng Cộng sản ở các nước trong các khu vực thuộc địa được chỉ thị từ chối liên minh với các đảng tư sản dân tộc chủ nghĩa với lý do là những người tư sản bản địa đã quay lưng lại với cách mạng và không thể là liên minh đáng tin cậy của giai cấp vô sản. Thêm vào đó, bản thân các Đảng Cộng sản phải thanh lọc các phần tiểu tư sản và “bôn-sê-vích hóa”. Thực tế, điều này có nghĩa là cần phải tăng đại diện của giai cấp công nhân trong đó tất cả các tổ chức cộng sản và phải tiến hành các phong trào chỉnh đốn Đảng để loại bỏ những phần tử không trong sạch. Các đảng viên có nguồn gốc trung lưu cần phải qua một quá trình “vô sản hóa” (thông thường, điều đó có nghĩa khoác áo công nhân và tìm việc tại các nhà máy) để tăng nhận thức của họ về quan điểm của giai cấp vô sản.

Dưới sức ép của Xta-lin, Đại hội VI tuyên bố rằng một làn sóng cách mạng mới sắp trào dâng trong khi sự bất ổn kinh tế ngày càng tăng ở châu Âu cho thấy nguy cơ của một cuộc suy thoái mới trên thế giới. Các tổ chức cộng sản và ủng hộ cộng sản trên khắp thế giới được chỉ đạo phải làm hết sức mình không những để nâng cao khả năng đáp ứng với bất bình ngày càng tăng trong xã hội của mình mà còn khuyến khích nâng cao giác ngộ cách mạng bằng cách tổ chức các cuộc đình công và biểu tình quần chúng trong công nhân và nông dẫn nghèo và thành lập cơ sở Đảng tại các nhà máy, trường học và làng mạc, tất cả đều nhằm chuẩn bị cho một cao trào cách mạng trong tương lai.

Vì chưa phải là một Đảng Cộng sản chính thức nên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên không có đại diện chính thức tại Đại hội VI nhưng ba người Việt Nam đã dự Đại hội với tư cách là đại biểu của Đảng Cộng sản Pháp. Trong số đó có Nguyễn Văn Tạo, người gốc Nghệ An, bị đuổi học ở Sài Gòn vì tham gia các hoạt động cấp tiến thời kỳ giữa những năm 1920 và sau đó bí mật sang Pháp. Tại đại hội này, với tên gọi mới là An, ông đã trình bày một bài phát biểu chính. Ông lập luận rằng mặc dù có một số người cho rằng Việt Nam chưa sẵn sàng cho việc thành lập một Đảng Cộng sản nhưng trên thực tế trong nước hiện đã có một giai cấp vô sản, tuy ít ỏi nhưng đang trên đà gia tăng và rất cần có một Đảng Cộng sản, bởi tầng lớp tư sản trong nước không thể lãnh đạo cách mạng. Trên thực tế, những tổ chức “cách tân quốc gia” như Đảng Duy Tân và Đảng An Nam độc lập (do Nguyễn Thế Truyền, một thời là cộng sự của Nguyễn Ái Quốc thành lập tại Pa-ri) là “cực kỳ nguy hiểm” vì các tổ chức này ủng hộ việc người Pháp rút lui hòa bình khỏi Đông Dương, và điều đó có thể làm giảm sự ủng hộ rộng rãi cho một cuộc cách mạng xã hội chân chính. Sau khi Đại hội VI kết thúc, Quốc tế Cộng sản đã gửi một chỉ thị bí mật thông qua Đảng Cộng sản Pháp đến Hội để hướng dẫn hoạt động của Hội trong tương lai.

Những quyết định của Đại hội VI tới Việt Nam vào cuối năm đã làm gay gắt thên cuộc tranh luận và tăng quyết tâm của nhóm cấp tiến ở Bắc Kỳ chuyển Hội thành một Đảng Cộng sản đặt trọng tâm nhiều hơn vào ý thức hệ. Đứng đầu những người có tâm trạng bức xúc vẫn là Trần Văn Cung, người đã từng làm công nhân tại một nhà máy và kinh nghiệm của ông cho thấy nếu thiếu những khẩu hiệu yêu nước rõ ràng thì không thể thuyết phục những người công nhân thành thị ủng hộ Hội. Đảng phải chú trọng đến những vẫn đề quan trọng nhất đối với công nhân như tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc, giảm giờ làm để có sự ủng hộ mạnh mẽ của người lao động. Và ông có cảm giác là điều này sẽ không thực hiện được nếu không chuyển Hội thành một Đảng Cộng sản thực sự.

Vấn đề này đã trở thành vấn đề nổi bật tại Đại hội chính thức đầu tiên của Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng ở Hồng Công năm 1929. 17 đại biểu đã có mặt tại đại hội đại diện cho 1.200 thành viên trong đó có 800 của Bắc Kỳ, 200 của Trung Kỳ và 200 của Nam Kỳ. ngay sau khi đến nơi Nguyễn Văn Cung đã gặp ngay Lê Hồng Sơn yêu cầu giải tán Hội để thay bằng một Đảng Cộng sản. Lê Hồng Sơn không hoàn toàn bác bỏ đề nghị đó. Ngay từ đầu đã là một thành viên của nhóm cộng sản của Nguyễn Ái Quốc tại Việt Nam và là một trong những nhân vật gây ấn tượng nhất của phong trào, ông Sơn tất nhiên trung thành với việc nhất thiết phải chuyển Hội thành một tổ chức Mác- xít Lê-nin nít vững chắc. Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau, Đại hội này chưa phải là thời điểm thích hợp để đưa ra một quyết định như vậy. Thứ nhất, như ông đã nói chuyện riêng với Trần Văn Cung, nhiều đại biểu đến dự đại hội tại Hồng Công hoặc là không có sự tinh tế chính trị hoặc là không có đủ sự cấp tiến để có thể trở thành những đảng viên thực thụ của một đảng mới. Thứ hai, việc thành lập một Đảng Cộng sản tại Đại hội Hồng Công tất nhiên sẽ do chính quyền Trung Hoa tại tỉnh Quảng Đông bên cạnh chú ý và khuyến khích họ gia tăng các biện pháp trấn áp Hội. Lê Hồng Sơn khuyên là nên thận trọng và nên bắt đầu một quá trình chuyển đổi dần dần và kín đáo để biến Hội thành một tổ chức có thể thực hiện hiệu quả hơn những chỉ đạo của Đại Hội VI của Quốc tế Cộng sản.

Tuy nhiên, ông Cung cứng rắn vẫn kiên quyết đưa vấn đề ra thảo luận tại Đại hội. Khi ông và những đại biểu khác của Bắc Kỳ chính thức đưa vấn đề ra trước đại hội, họ thấy người phản đối chủ yếu là Chủ tịch Lâm Đức Thu, người tiếp tục phản đối việc thành lập một Đảng Cộng sản và nói rằng đề nghị này là không thể thực hiện được. Trong lúc tức giận, Trần Văn Cung và tất cả đại biểu Bắc Kỳ, trừ một người đã rời đại hội, tuyên bố họ sẽ quyết tâm thành lập một đảng gồm những người cùng lý tưởng với họ khi trở lại Việt Nam. Ngay khi về đến Hà Nội, họ đã thành lập một tổ chức mới có tên là Đông Dương Cộng sản Đảng và bắt đầu đấu tranh với Hội trong việc thu hút đảng viên mới và nói rằng Hội chỉ gồm toàn những người “cách mạng giả hiệu” không bao giờ nỗ lực vì các tầng lớp vô sản hoặc tuân thủ Quốc tế Cộng sản.

Trong khi đó, những đại biểu còn lại cố giải quyết rạn nứt đó. Hầu hết đều thông cảm với lập trường của Trần Văn Cung về mặt nguyên tắc nhưng lại ngần ngại lên tiếng chống lại người đồng sự cao niên Lâm Đức Thu. Sau việc ra đi của các đại biểu Bắc Kỳ, đại hội đã dự thảo một chương trình hành động và nghị quyết trong đó nêu rõ Đông Dương cần có một Đảng Cộng sản nhưng thời gian chưa chín muồi bởi tầng lớp lao động của Việt Nam chưa có sự tinh tế về chính trị và thiếu hiểu biết về lý luận cách mạng. Sau khi thông qua nghị quyết, các đại biểu chính thức yêu cầu Quốc tế Cộng sản công nhận và sau đó bế mạc Đại hội.

Tranh chấp nhanh chóng chuyển từ một cuộc khủng hoảng thành một sự lố bịch. Trong những tháng sau Đại hội, Đông Dương Cộng sản Đảng (CPI) bắt đầu thuyết phục các thành viên của Hội rút khỏi Hội, buộc lãnh đạo ở Hồng Công phải nhận ra rằng họ đã gây ra một sai lầm chiến thuật nghiêm trọng khi không nhận ra được mức độ ủng hộ việc cần có một Đảng Cộng sản trong hàng ngũ của Hội và ở Việt Nam. Vào tháng 8 khi được trả tự do ở Quảng Châu, Hồ Tùng Mậu và Lê Quang Đạt đã trở về Hồng Công và được sự đồng ý của Lê Quang Sơn họ đã quyết định thành lập một Đảng Cộng sản bí mật của riêng mình nằm trong khuôn khổ của Hội gọi là An Nam Cộng sản Đảng (ACP) bao gồm những thành viên tiến bộ nhất của Hội. Ban chấp hành là một “chi nhánh đặc biệt” bao gồm Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Quang Đạt và hai người khác. Vì nhóm đó không tin tưởng Lâm Đức Thu nên ông không được tham khảo ý kiến trong vấn đề này.

Tại Nam Kỳ, những cơ sở đầu tiên của Đảng mới đã được thành lập vào tháng tám năm 1929 và chính tại đây, dù mang tên An Nam Cộng sản Đảng, Đảng vẫn thu hút đảng viên mới một cách có hiệu quả. Nhưng sự rạn nứt trong nội bộ phong trào vẫn chưa được hàn gắn. Cùng tháng đó, Hồ Tùng Mậu đã gửi một bức thư cho Trần Văn Cung và lãnh đạo Đông Dương Cộng sản Đảng gợi ý rằng những đại biểu của hai Đảng nên gặp nhau tại Quảng Châu để thảo luận việc hợp nhất lại. Nhưng những nhà lãnh đạo của Đông Dương Cộng sản Đảng trả lời một cách khinh khỉnh rằng họ không thể dự được vì “quá bận”. Thất vọng, Hồ Tùng Mậu đã đề nghị Quốc tế Cộng sản hỗ trợ thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất: “Nếu chúng ta không chú ý đến việc thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất ngay lập tức tôi sợ rằng chúng ta sẽ rơi vào tình trạng có hai đảng riêng biệt, một ở miền Bắc và một ở miền Nam. Một khi cùng có hai đảng được thành lập ở Việt Nam thì rất khó có thể thống nhất được. Đến lúc đó làm thế nào chúng tao có thể dựa vào Quốc tế Cộng sản III để giải quyết vấn đề? Chúng ta tự giải quyết vấn đề này có tốt hơn không?”

Những đảng viên cấp tiến của Tân Việt Cách mạng Đảng tại miền Trung Việt Nam đã làm cho tình hình phức tạp hơn khi họ vào cuộc. Trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm giữ chân những đảng viên của mình, nhiều người đã đi theo những Đảng đối địch, họ đã đổi tên tổ chức của mình thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Vì vậy, ngoài Hội lúc đó gần như đã không còn tồn tại, ở Đông Dương thuộc Pháp có ba Đảng Cộng sản. Chính vào lúc này, Lê Hồng Sơn vẫn còn ở Hồng Công và biết được Nguyễn Ái Quốc đang ở Phi-chít. Là người sáng lập ra Hội và là người lãnh đạo của Hội được tất cả mọi người kính trọng, Nguyễn Ái Quốc có thể sử dụng tài đàm phán xuất chúng của mình để tìm ra một con đường giải quyết vấn đề. Ông Sơn đã chỉ thị cho một cộng sự, ông Lê Huy Diệm, sang Xiêm tìm Nguyễn Ái Quốc và đề nghị ông trở về Hồng Công giúp gỡ rối tình hình mà không báo cho Lâm Đức Thu. Cuối tháng tám, ông Diệm rời Hồng Công.

Phản ứng của Mát-xcơ-va đối với những sự kiện rắc rối diễn ra tại Việt Nam là có thể dự đoán được. Ngày 27 tháng 10, Quốc tế Cộng sản đã gửi một chỉ thị nghiêm khắc cho ban lãnh đạo An Nam Cộng sản Đảng chỉ trích tổ chức đã không ngăn chặn được sự chia rẽ giữa các lực lượng cách mạng ở Việt Nam thành ba phe đối lập. Theo Quốc tế Cộng sản việc thiếu một đảng thống nhất vào thời điểm đầy hứa hẹn này đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản và là “hoàn toàn sai lầm”. Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản đã công khai ủng hộ nhóm của Trần Văn Cung ở Hà Nội và khẳng định rằng những điều kiện khách quan cho một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã hiện hữu ở Việt Nam và rằng “việc không có một Đảng Cộng sản trong khi phong trào công nhân và nhân dân đang phát triển là rất nguy hiểm đối với tương lai trước mắt của cách mạng Đông Dương”. Hội đã bị phê bình vì đã tỏ ra “thiếu quyết đoán và hờ hững” và vì không cố gắng nhiều hơn nữa để kết nạp thêm công nhân Việt Nam. Cuối cùng, Mát-xcơ-va kết luận rằng “nhiệm vụ quan trọng và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản tại Đông Dương là việc thành lập một đảng cách mạng mang những đặc trưng giai cấp của những người vô sản, đó chính là một Đảng Cộng sản của quảng đại quần chúng ở Đông Dương”. Để tháo gỡ những khó khăn trước mắt, Quốc tế Cộng sản đề nghị triệu tập một cuộc họp dưới sự chủ tọa của một đại diện của Quốc tế Cộng sản được cử đến với tư cách là người trung gian hòa giải.

Lời kêu gọi cấp thiết phát đi từ Mát-xcơ-va rõ ràng đã mạnh mẽ hơn do những sự kiện xảy ra tại thế giới tư bản, khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ sự thất bại trong ngành ngân hàng Áo ngày càng trầm trọng. Khi tin tức về sự sụp đổ đột ngột cảu thị trường chứng khoán Nưu Ước lan đến Liên Xô, ban lãnh đạo Xô-viết chắc hẳn đã tin rằng sự tan rã được dự đoán từ lâu của hệ thống tư bản chủ nghĩa cuối cùng đã tới.

Trong suốt thời gian còn lại của nwam 1929, ba nhóm tiếp tục tranh chấp với nhau từ việc cạnh tranh thu hút thêm đảng viên mới đến việc chỉ trích lẫn nhau (từ hay được dùng nhất là “Men-sê-vích”, trước đây được dùng để chỉ những đối thủ tương đối cấp tiến của Lê-nin trong phong trào cách mạng của Nga trước cách mạng Bôn-sê-vích). Một bức thư của nhóm ông Cung tố cáo An Nam Cộng sản Đảng và Hội là phản cách mạng và phải bị giải tán và sáp nhập vào Đông Dương Cộng sản Đảng. Nếu Quốc tế cộng sản nhất quyết đòi thống nhất phong trào thì các nhà lãnh đạo Đông Dương Cộng sản Đảng sẽ đồng ý nhưng chỉ rõ những khó khăn có thể nảy sinh. Từ Hồng Công, Hồ Tùng Mậu, đại diện của An Nam Cộng sản Đảng, cố gắng xoa dịu các đối thủ của mình, lập luận rằng thành phần của Hội vào mùa xuân năm 1929 còn quá hỗn tạp, khó có thể thành lập một Đảng Cộng sản chính thức; vì nhiều thành viên của Hội còn thiếu những phẩm chất cách mạng của một người cộng sản, việc gợi ý thành lập Đảng Cộng sản vào thời điểm đó sẽ là một việc làm dại dột. Ông cũng cảnh báo rằng nếu đơn giản chỉ thành lập một Đảng Cộng sản bí mật được người ta dán cho mác “bôn-sê-vích” thì về nguyên tắc đó cũng chỉ là bình mới rượu cũ.

Nhưng Đông Dương Cộng sản Đảng không sẵn sàng thỏa hiệp. Đầu tháng 10, Đảng này nhắc lại yêu cầu đòi Hồ Tùng Mậu phải giải tán hoàn toàn Hội. Ông Cung cho rằng ông và những cộng sự của mình đã nhận thấy rằng tại hội nghị tháng năm, chỉ có họ là muốn thành lập một đảng bí mật. Họ đã đề nghị “ghi vào lịch sử cách mạng rằng Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên không phải là cộng sản, và làm cho nhân dân thấy được sự khác nhau giữa Hội và những người cộng sản thực sự”. Khi Hội nghị bác bỏ đề nghị của họ, họ quyết định ra khỏi Hội và thành lập một tổ chức của riêng mình. Nhằm tìm kiếm một giải pháp cho sự chia rẽ này, ông Cung đề nghị rằng bất kỳ cá nhân nào với đầy đủ phẩm chất cách mạng đều có thể gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng. Những người khác có thể đợi và gia nhập sau. Ông cũng nói rằng Đông Dương Cộng sản Đảng sẵn sàng hợp tác với Việt Nam Quốc dân Đảng trên cơ sở tạm thời nhưng vẫn coi Việt Nam Quốc dân Đảng là tổ chức dân tộc chủ nghĩa đơn thuần. Hợp tác chỉ có thể có nếu Việt Nam Quốc dân Đảng chấp nhận không phản đối việc Đông Dương Cộng sản Đảng tìm cách lôi kéo các đảng viên của Đảng này về với Đông Dương Cộng sản Đảng. Đối với khả năng Nguyễn Ái Quốc có thể trở về Hồng Công tìm cách hợp nhất, ông Cung tuyên bố một cách khó hiểu rằng “nếu ông ấy trở về, chúng tôi sẽ theo ông ấy cũng như theo các ông”.

Cuối tháng 10, Đông Dương Cộng sản Đảng cử một đại diện là ông Đỗ Ngọc Du đến Hồng Công theo yêu cầu của ông Hồ Tùng Mậu để gặp lãnh đạo An Nam Cộng sản Đảng nhằm đạt một giải pháp không có sự can thiệp từ bên ngoài. Nhưng ông Du, có lẽ theo lệnh cấp trên, vẫn khăng khăng cho rằng có thể hợp nhất An Nam Cộng sản Đảng trước tiên phải giải tán, và các đảng viên sau đó có thể gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng với tư cách cá nhân. Chẳng có gì ngạc nhiên khi các đại biểu An Nam Cộng sản Đảng từ chối đề nghị này.

Trong khi tranh chấp vẫn tiếp tục, lãnh đạo An Nam Cộng sản Đảng ở Hồng Công chờ đợi chuyến thăm của thanh tra viên mà Quốc tế Cộng sản đã nhắc tới trong bức thư ngày 27-10. Họ đã được một đồng sự ở Mát-xcơ-va thông báo qua thư rằng họ chưa thể gia nhập Quốc tế Cộng sản chứng nào việc thanh tra chưa được hoàn tất. Thực ra, Văn phòng Viễn Đông (còn gọi là Văn phòng Viễn Đông, FED) mới mở một văn phòng chi nhánh ở Thượng Hải mùa thu năm 1928, vừa quyết định thành lập một cơ cấu mới để điều phối mối quan hệ với các tổ chức cộng sản trong khu vực. Kế hoạch này kêu gọi thành lập một tổ chức mới có tên là Liên đoàn các nhóm cộng sản Insulinde đóng trụ sở tại Xin-ga-po. Tất cả các tổ chức Cộng sản ở châu Á hiện chưa thuộc một đảng quốc gia (thí dụ như những tổ chức còn non nớt ở Đông Nam Á, bao gồm cả Đông Dương) sẽ được đặt dưới sự kiểm soát của tổ chức này, còn bản thân tổ chức này sẽ chịu sự kiểm soát trực tiếp của một “ban thư ký của các dân tộc bị áp bức ở phương Đông” thuộc Văn phòng Viễn Đông ở Thượng Hải. Rõ ràng, lãnh đạo An Nam Cộng sản Đảng được biết về kế hoạch này vào khoảng mùa thu; một bức thư do Hồ Tùng Mậu viết vào giữa tháng cho thấy một đại biểu Trung Hoa trên đường từ Xin-ga-po tới Thượng Hải để thảo luận về kế hoạch này đã dừng chân ở Hồng Công ngày 2-11 và cho họ biết về dự án đó. Tuy nhiên, những người Việt Nam lại không thích ý tưởng này. Đảng Cộng sản Nam Dương được thành lập ở Xin-ga-po vào giữa những năm 1920 và được cho rằng sẽ chỉ đạo văn phòng khu vực mới ở đó, chủ yếu bao gồm những Hoa kiều từ Xin-ga-po và chịu sự giám sát của trụ sở Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Thượng Hải. Như vậy, trên thực tế, phong trào cách mạng Việt Nam sẽ bị đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong con mắt nhiều đồng chí Việt Nam, các nhà cách mạng Trung Hoa có xu hướng tập trung chủ yếu vào những mục tiêu của riêng họ và thường có thái độ trịch thượng đối với các hoạt động các dân tộc khác. Lê Hồng Sơn cử Lê Quang Đạt tới Thượng Hải để lập luận cho việc An Nam Cộng sản Đảng phải là một đảng quốc gia đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Văn phòng Viễn Đông.

Ngày 16-12-1929, ông Hồ Tùng Mậu cùng một cộng sự đã gặp một đại diện  Quốc tế Cộng sản đang ở Hồng Công trong chuyến đi thanh tra tất cả các tổ chức cộng sản trong khu vực. Vị đại diện này đã nói với hai ông rằng cả Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (hay sau này là An Nam Cộng sản Đảng), Đông Dương Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đều chưa được xem là “cộng sản” và không thể được Quốc tế Cộng sản chính thức công nhận. Chừng nào một đảng hợp nhất chưa được thành lập thì mọi chỉ thị cho tất cả các nhóm mácxít ở Đông Dương đều do Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra.

Tại Xiêm, Nguyễn Ái Quốc đã được nghe về sự chia rẽ trong nội bộ Hội do hai đại biểu dự Đại hội tháng 5-1929 kể lại, và vào tháng 9, ông đã viết một bức thư gửi các nhà lãnh đạo của Đông Dương Cộng sản Đảng, trong đó ông tuyên bố thẳng thừng rằng ông không thể tin tưởng ai ngoại trừ những người cộng sản thực sự. Ông viết rằng họ có thể thể hiện sự trung thành của mình bằng cách liên kết với Quốc tế Cộng sản, và ông đã mời họ cử một đại diện tới dự một cuộc họp dự kiến được tổ chức trong năm 1930 tại Vla-đi-vốt-xtoocs. Nhưng những nhà lãnh đạo Đông Dương Cộng sản Đảng nhận bức thư từ một Việt kiều gửi từ Xiêm và đọc bức thư đó trước một cuộc họp Đảng tại Hà Nội, đã không đưa ra quyết định nào về vấn đề này. Nguyễn Ái Quốc đã hai lần cố vào Việt Nam nhưng không qua được biên giới do có cảnh sát canh giữ cẩn mật. Ông đang chuẩn bị thử lần thứ ba thì một cộng sự mới đến từ Hồng Công (có lẽ là Lê Duy Diệm) thông báo cho ông biết về tính khẩn cấp của tình hình. Ngay lập tức Nguyễn Ái Quốc đi Băng-cốc để rồi từ đó lên tàu tới Quảng Châu.

Ngày 20-1-1930, Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu, vào ở tại một khách sạn và viết thư cho các cộng sự ở Hồng Công, yêu cầu họ tới gặp ông tại Quảng Châu. Có lẽ ông sợ bị cảnh sát Anh luôn cảnh giác phát hiện tại biên giới. Tuy nhiên, cuối cùng thì họ đã thuyết phục ông rằng gặp gỡ ở Hồng Công sẽ an toàn fhown vì ở đó chính quyền Anh khá khoan dung đối với các hoạt động của người nước ngoài trên lãnh thổ của họ nếu những hành động đó không trực tiếp đe dọa sự ổn định láng giềng, và dân số chủ yếu là người Trung Hoa ở đây cũng tở ra khá im hơi lặng tiếng mặc dù trong những năm 1920 cũng đã nổ ra một vài cuộc đình công. Hồ Tùng Mậu cử một cộng sự của mình tháp tùng Nguyễn Ái Quốc trở lại Hồng Công bằng xe lửa, tại đó ông vào ở tại một khách sạn tại Cửu Long.

Sau khi tới Hồng Công, Nguyễn Ái Quốc tới ngay căn hộ của Lê Hồng Sơn, tại đó ông làm quen với tình hình và thảo luận với ông Mậu và những thành viên khác của Hội. Ông phê bình họ vì đã xa rời quần chúng và vì họ không dự đoán  trước được sự chia rẽ mà theo ông là “trẻ con”. Ông cũng liên lạc với trụ sở của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại đây. Sau đó, ông mời các thành viên của ba phái tranh chấp ở Đông Dương tới Hồng Công để chuẩn bị hợp nhất ba nhóm thành một Đảng mới.

Cuối tháng 1-1930, đại diện An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Đảng từ Đông Dương đã tới Hồng Công. Các đại biểu Đông Dương Cộng sản liên đoàn đã rời Đông Dương trên một chuyến tàu nhưng bị bắt trên đường do bị quân của những người lao động ở Cửu Long. Sau đó, hội nghị đã phải di chuyển tới một số địa điểm khác, trong đó có một phiên họp được diễn ra dưới một sân vận động ở Cửu Long. An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Đảng đều có hai đại biểu mỗi đảng. Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu dự hội nghị với tư cách là đại diện cho đại bản doanh của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cũ ở Hồng Công.

Theo một số người tham dự kể lại hội nghị dễ dàng đi đến thống nhất một cách đáng ngạc nhiên. Nguyễn Ái Quốc đã khai mạc hội nghị bằng cách tự giới thiệu mình và sau đó phê bình nhẹ nhàng các đại biểu vì đã để xảy ra sự chia rẽ. Ông cho rằng cả hai bên đều phải chịu trách nhiệm, và nhấn mạnh rằng vấn đề chủ yếu lúc này là khôi phục sự thống nhất của phong trào. Hội nghị cũng nhanh chóng nhận thấy rằng những mâu thuẫn tồn tại giữa các thành viên của hai phái là do mâu thuẫn cá nhân và những vấn đề nhạy cảm mang tính khu vực hơn là ý thức hệ. Các đại biểu Bắc Kỳ và Nam Kỳ nghi ngờ về tư chất cách mạng thực sự của nhau (người miền Bắc thường cho rằng người miền Nam lười biếng và dễ dãi, trong khi người miền Nam lại cho rằng người miền Bắc quá nghiêm khắc và ngoan cố) và đều không bằng lòng vì những đảng viên gốc Nghệ An quê của Nguyễn Ái Quốc lại nắm giữ những vị trí chủ chốt trong lãnh đạo phong trào. Đối với lãnh đạo An Nam Cộng sản Đảng, do tác động của bức thư chỉ trích của Mát-xcơ-va hồi tháng 10, họ đã thấy được sự cần thiết của việc thành lập một Đảng Cộng sản chính thức. Vấn đề lớn duy nhất còn lại cần giải quyết là làm thế nào chấm dứt sự chia rẽ và hợp nhất các phái, bao gồm cả Đông Dương Cộng sản Liên đoàn hiện đang vắng mặt, vào thành một đảng duy nhất với những điều khoản thỏa mãn tất cả các bên. Lúc này, tư cách đại diện Quốc tế Cộng sản của Nguyễn Ái Quốc rất có lợi cho ông. Ông gợi ý rằng giải pháp đơn giản nhất không phải là nhập đảng này vào đảng khác hay sáp nhập các đảng lại mà là giản tán cả hai và thành lập một tổ chức mới, với các chương trình và điều lệ mới, và tất cả những ai ủng hộ mục tiêu và đáp ứng các tiêu chuẩn cần thiết đều có thể trở thành thành viên của tổ chức này. Tất cả các đại biểu đều chấp nhận đề nghị này một cách nhanh chóng và có thể mọi người đều thấy thoải mái.

Vấn đề duy nhất còn gây tranh cãi là tên của đảng hợp nhất mới. Nguyễn Ái Quốc đã suy nghĩ đến vấn đề này trước khi triệu tập hội nghị. Trong một ghi chép cá nhân ngày 6-1, ông đã liệt kê năm điểm chính cần đưa ra trước hội nghị; một trong những vấn đề đó là thống nhất tên gọi mới của đảng. Tại hội nghị, ông đưa ra ý kiến của mình, cho rằng tên của các đảng hiện nay đều là chưa đủ, vì “Đông Dương” hàm ý chỉ toàn bộ Đông Nam Á, trong khi “An Nam”, một từ Hán có nghĩa là “miền nam yên bình”, giờ đây lại được người Pháp sử dụng để chỉ vùng đất họ bảo hộ ở miền trung Việt Nam. Ông gợi ý rằng đảng mới phải có tên mới, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông gợi ý rằng đảng mới phải có tên mới, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước khi triệu tập hội nghị, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định rằng của tên gọi này là thích hợp. Việt Nam không chỉ là tên gọi chính thức của đất nước dưới triều Nguyễn độc lập trong thế kỷ 19, mà Việt Nam còn gợi lại hình ảnh đất nước Nam Việt đầu tiên được hình thành ở đồng bằng sông Hồng trước khi quân Trung Hoa sang xâm chiếm vào thế kỷ thứ hai trước Công nguyên. Các đại biểu ngay lập tức chấp nhận cái tên này.

Sau khi giải quyết được những vấn đề gai góc nhất, những vấn đề còn lại được dàn xếp một cách dễ dàng. Những phiên họp sau, được cho là tiến hành trong “không khí đoàn kết và thân ái”, đã thảo ra chương trình hành động, các quy định và điều lệ của đảng mới. Nguyễn Ái Quốc đã xem một báo cáo tóm tắt về kết quả Đại hội lần thứ 6 của Quốc tế Cộng sản và ít ra là cũng đã biết chút ít về những thay đổi trong đường lối chung của phong trào vào thời điểm đó. Nhưng rõ ràng là ông chưa nhận được văn bản chỉ trích chương trình hành động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên mới được thảo tại trụ sở Quốc tế Cộng sản ở Mát-xcơ-va. “Những nhiệm vụ cấp bách của những người cộng sản Đông Dương”, rõ ràng được viết vào khoảng tháng 12 và gửi tới trụ sở Đảng Cộng sản Pháp tại Pa-ri, nhưng vì lý do nào đó lại không được gửi tới trụ sở của Hội ở Hồng Công.  Lê Hồng Phong, một trong những người đồng sáng lập Hội, đang được đào tạo ở Liên Xô, đã có được một bản ở Mát-xcơ-va và gửi văn bản này cho một cộng sự ở Nam Kỳ. Nhưng không may là tài liệu này đã tới nơi sau khi kết thúc hội nghị hợp nhất.

Quốc tế Cộng sản chỉ trích chương trình của Hội vì tính mập mờ trong một số vấn đề. Mặc dù Quốc tế Cộng sản thừa nhận rằng cuộc cách mạng duy nhất có khả năng nổ ra lúc này ở VIệt Nam là cách mạng dân chủ tư sản, nhưng việc giai cấp công nhân đóng vai trò lãnh đạo trong cuộc đấu tranh này là vấn đề sống còn. Để đóng vai trò bao trùm trong phong trào, Đảng Cộng sản tương lai phải ra sức đấu tranh chống lại sự ảnh hưởng của “chủ nghĩa cải lương dân tộc” (thí dụ như Đảng hợp hiến) và tìm cách tận dụng sự chia rẽ của giai cấp tư sản địa phương. Tài liệu này cũng chỉ trích các giải thích về chương trình cách mạng hai giai đoạn của Lê-nin. Về thuyết giành quyền lực trong nhiều giai đoạn, tài liệu này cho rằng thuyết này “là một hình thức của chủ nghĩa cải lương chứ không pahir của chủ nghĩa cộng sản, vì không thể dự đoán trước sự tồn tại của các  giai đoạn trong phong trào cách mạng để có thể chuyển phong trào từ một thành công nhỏ nhất sang tấn công trực tiếp vào chế độ”. Tài liệu này cảnh báo rằng cách tiếp cận như vậy sẽ “trên thực tế chỉ kìm hãm hành động của quần chúng nhân dân và làm suy yếu họ thay vì phải động viên họ”. Bản chỉ trích này còn cho rằng trong bất kỳ trường hợp nào thuyết về một cách mạng nhiều giai đoạn sẽ cho phép một nhóm nhỏ trí thức cộng sản lãnh đạo cuộc đấu tranh, một kết cục trái ngược với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác. Mát-xcơ-va nhấn mạnh rằng “nhân dân là những người làm cách mạng và những người cộng sản chỉ có nhiệm vụ hướng dẫn, tổ chức và chỉ đạo nhân dân”. Cuối cùng, Mát-xcơ-va kết luận rằng không cần phải đợi đến khi An Nam Cộng sản Đảng được tổ chức hoàn chỉnh mới khuấy động một cuộc khởi nghĩa cách mạng.

Lời kêu gọi được thảo ra tại hội nghị tháng 2-1930 cho thấy sự chuyển hướng chiến lược được thông qua trước đó tại Đại hội lần thứ 6 tháng 7-1928 cũng đã tác động đến suy nghĩ của Nguyễn Ái Quốc. Trong khi lời kêu gọi này nhằm mục tiêu là đa số dân chúng Việt Nam (công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh, “các anh chị em” bị áp bức bóc lột), nó cũng xóa bỏ quan điểm cũ của Nguyễn Ái Quốc về một đội tiên phong của giai cấp vô sản và nông dân (ám chỉ một cuộc cách mạng giai cấp rộng lớn hơn) và tuyên bố một cách công khai rằng tổ chức mới này là “đảng của giai cấp vô sản” sẽ đấu tranh lật đổ thực dân Pháp, chế độ phong kiến cũng như giai cấp tư sản phản cách mạng, và thành lập một “chính quyền công-nông-binh”. Chính quyền đó sẽ dần nhường bước cho giai đoạn thứ hai, giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, rõ ràng là Nguyễn Ái Quốc chưa sẵn sàng từ bỏ hoàn toàn cách tiếp cận của Lê-nin về một mặt trận thống nhất rộng rãi mà ông đã chủ trương trong suốt thời gian tồn tại của Hội. Một văn kiện chiến lược được thông qua tại hội nghị kêu gọi cần có những nỗ lực giành sự ủng hộ của trí thức, trung nông (thuật ngữ của Đảng chỉ những người nông dân có đủ đất để sống nhưng không thuê nhân công), tiểu tư sản, cũng như những nhóm dân tộc chủ nghĩa như Đảng Thanh niên Hy vọng của Nguyễn An Ninh. Ngay cả những phú nông và địa chủ nhỏ cũng có thể được tập hợp nếu họ không phản cách mạng. Chỉ có Đảng Hợp hiên do nhà cải lương ôn hòa Bùi Quang Chiêu lãnh đạo bị coi là phản động.

Từ những nhận xét trong bức thư ngày 18-2 gửi Văn phòng Viễn Đông được viết sau khi hội nghị kết thúc, có thể thấy rõ là Nguyễn Ái Quốc đã tin rằng những văn kiện soạn thảo ra tại hội nghị hợp nhất đều phù hợp với đường lối của Quốc tế Cộng sản. Tuy nhiên, trên thực tế họ đã xa rời chiến lược mới của Mát-xcơ-va trong một số điểm; mặc dù Nguyễn Ái Quốc vẫn là một người trung thành với chiến lược của Lê-nin về các khu vực thuộc địa, nhưng Mát-xcơ-va trước đó đã có sự thay đổi. Chính sự chệch hướng đó đã gây khó khăn đối với ông trong những năm sau này.

Cuối hội nghị, các đại biểu đã bầu ra ban chấp hành trung ương lâm thời và sau đó họ chuẩn bị trở lại Đông Dương để thành lập bộ máy ở đại phương cho đảng mới này. Một vài ngày sau, Nguyễn Ái Quốc đến Thượng Hải. Trước khi đi, ông viết thư gửi Lê Quang Đạt, nói với ông này rằng ông dự định giải quyết vấn đề quan hệ của đảng mới ở Đông Dương với Văn phòng Viễn Đông. Sau đó, trong bức thư ngày 18-2, ông thông báo kết quả hội nghị hợp nhất với I-la-rê Nu-lăng-xơ, người đứng đầu mới của Văn phòng Viễn Đông tại Thượng Hải. Hội – tổ chức mà ông miêu tả như “một vỏ trứng mà từ đó nở ra một chú chim non cộng sản” – lúc này đã chính thức bị xóa bỏ và một đảng mới đã được thành lập. Đảng có 204 đảng viên ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, 51 đảng viên ở Nam Kỳ và 40 đảng viên ở Xiêm. Các tổ chức quần chúng của sinh viên, nông dân và công nhân do Hội và những đảng kế nhiệm của Hội lập ra cuối những năm 1920 vào thời điểm đó đã có 3.500 hội viên.

Với việc thành lập một đảng mới vào tháng 2 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc sẵn sàng chuyển cách mạng Việt Nam sang một giai đoạn mới. Như ông đã miêu tả trong thư gửi cho Nu-lăng-xơ, đảng này chỉ là một trong số các đảng và phe phái chính trị ở Việt Nam bao gồm Đảng Hợp hiên, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (đảng sẽ sớm bị giải thể và hầu hết các đảng viên gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam), Việt Nam Quốc dân Đảng ở Hà Nội, và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên không còn tồn tại. Mặc dù Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn nhỏ bé và non trẻ, nhưng ông nói rằng đó là “một đảng có tổ chức tốt nhất và năng động nhất trong tất cả các đảng”. Giờ đây, khi cuộc chiến giữa hai phái cộng sản nổi bật nhất đã chấm dứt, ông tin tưởng rằng Đảng Cộng sản Việt Nam được trang bị bằng một chính sách đúng đắn và tinh thần đoàn kết nội bộ mới sẽ nhanh chóng phát triển. Cuối cùng, Nguyễn Ái Quốc đã cầm thanh gươm thần, vũ khí mà Lê Lợi, nhà yêu nước hồi thế kỷ thứ 15 sử dụng, để giành lại tự do cho đồng bào mình từ tay kẻ thù.

Advertisements

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

HCM-Một cuộc đời (Chương 4)

Posted by anhbahoa on January 1, 2010

HỒ CHÍ MINH-MỘT CUỘC ĐỜI

CHƯƠNG IV

NGƯỜI CON CỦA RỒNG

Châu Á ngày Nguyễn Ái Quốc quay trở về vào cuối năm 1924 khác so với châu Á mà ông đã từ đó ra đi 13 năm trước. Trong khi hệ thống thuộc địa ở Nam và Đông Nam Á vẫn không thay đổi sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), tình hình ở Trung Hoa đã thay đổi mạnh mẽ. Vào mùa thu năm 1911, một biến động lớn đã gây ra sự tan rã của hệ thống phong kiến cũ ở Bắc Kinh. Bốn tháng sau khi Nguyễn Ái Quốc rời cảng Nhà Rồng vào tháng 6, một cuộc nổi dậy của các thành viên của đảng cách mạng của Tôn Dật Tiên đã nhanh chóng dẫn đến sự sụp đổ của triều đại Mãn Châu và sự xuất hiện của một chính phủ mới ở Trung Hoa. Nhưng những đảng viên của Tôn Dật Tiên đã không tận dụng được tình thế. Tướng Viên Thế Khải, chỉ huy trưởng các lực lượng vũ trang Mãn Châu, khéo léo và khôn ngoan hơn cả về chính trị lẫn quân sự, nên vào tháng 2 năm 1912, ông Tôn bị buộc phải nhường cho tướng Viên chức Chủ tịch nước cộng hoà mới sẽ được thiết lập ở Bắc Kinh.

Tướng Viên, với hy vọng sẽ tuyên bố một triều đại mới mang tên mình, đã cố gắng khôi phục luật pháp và trật tự dựa vào các phương pháp cai trị chuyên quyền truyền thống. Điều này đã gây xung đột với đảng của ông Tôn, đảng viên của đảng này chiếm gần một nửa số ghế của Quốc hội mới được thành lập. Tháng 1 năm 1914, Viên đã giải tán quốc hội và cố gắng cai trị bằng sắc lệnh. Đảng của ông Tôn bị tuyên bố là bất hợp pháp và ông Tôn trốn đi Nhật Bản. Nhưng sau khi Viên chết đột ngột vì bị ốm năm 1916, Trung Hoa lại bắt đầu tan rã, vì các chỉ huy quân sự của các vùng, thường được gọi là tư lệnh, đã nắm quyền kiểm soát ở nhiều tỉnh khác nhau trên toàn đất nước. Mặc dù một chính phủ suy yếu vẫn tiếp tục nắm quyền ở Bắc Kinh, một làn sóng bất an trong xã hội và giới trí thức bắt đầu bùng nổ trên khắp đất nước; năm 1919, các cuộc biểu tình lớn của sinh viên đã nổ ra ở thủ đô và các thành phố lớn khác. Cùng năm đó, Tôn Dật Tiên đã thiết lập thành công cơ sở cho đảng Cách mạng của mình, nay được đặt tên là Quốc dân đảng ở Quảng Đông, thủ phủ của tỉnh Quảng Đông, đặt dưới sự bảo hộ của ông Trần là tư lệnh ở vùng đó. Tháng 4 năm 1921, ông Tôn chính thức tuyên bố thành lập một chính phủ quốc gia mới do ông làm chủ tịch.

Trong hai năm sau cuộc cách mạng Bôn-sê-vích, chính phủ Xô-viết mới ở Mát-xcơ-va không thể tận dụng được những sự kiện đang diễn ra ở Trung Hoa và chính phủ quan tâm hơn đến việc thiết lập quyền kiểm soát ở nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn của đất nước một thời là đế chế Nga ở Xi-bê-ri, lúc đó tạm thời bị các lực lượng chống cộng sản chiếm giữ. Nhưng đến mùa xuân năm 1920, sự thống trị của Liên Xô đối với vùng này đã được củng cố và một Ban thư ký Viễn Đông đã được thành lập ở I-cút-xcơ để chỉ đạo các hoạt động của cộng sản ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương rộng lớn. Tháng 4 năm đó, Gri-gô-ri Vôi-tin-xki, lúc đó là một nhân viên của Quốc tế cộng sản đóng ở I-cút-xcơ đã đi Bắc Kinh. Sau khi dừng lại ở Bắc Kinh một thời gian ngắn, ông đi tiếp đến Thượng Hải, nơi ông đã giúp thành lập một tổ chức lâm thời gồm những nhà cách mạng đang hoạt động ở vùng đó. Mùa hè sau, những người theo đường lối cấp tiến trên mọi miền của Trung Hoa đã tập trung tại Thượng Hải và chính thức thành lập đảng Cộng sản Trung Quốc.

Một trong những quyết định đầu tiên mà đảng mới phải đưa ra là liệu có hợp tác với chế độ cách mạng mới của Tôn Dật Tiên ở Quảng Đông không. Một số đản viên, do tin rằng các thành viên chủ chốt của đảng của ông Tôn về cơ bản là phản cách mạng, đã không muốn hợp tác với lực lượng Quốc dân đảng. Nhưng nhà cộng sản người Hà Lan, ông Ma-rinh, người kế nhiệm Vôi-tin-xki làm trưởng đại diện của Quốc tế cộng sản ở Trung Hoa lại rất cương quyết. Tháng 1 năm 1923, Tôn Dật Tiên và đại diện Liên Xô là An-đốp Giô-phơ đã ký một thoả thuận ở Thượng Hải nhằm thiết lập một mặt trận thống nhất giữa hai đảng và dàn xếp để Liên Xô hỗ trợ cho việc hoàn thành thống nhất Trung Hoa. Thoả thuận đó, được mô tả là “liên minh bên trong”, đã kêu gọi các đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc gia nhập Quốc dân đảng, là lực lượng chính trị chủ chốt ở Quảng Đông.

Bắt đầu từ cuối năm 1923, hai đảng này với sự giúp đỡ của phái bộ mới của Quốc tế cộng sản của Mi-khai-in Bô-rô-đin đã bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc hành trình về phương bắc để hạ bệ các chế độ tư lệnh tham tàn đã tồn tại ở Trung Hoa kể từ sau cái chết của Viên Thế Khải. Tuy là một đối tác ở cấp thấp hơn trong liên minh và không có người ủng hộ cũng như uy tín của Quốc dân đảng, rõ ràng rằng đảng Cộng sản Trung Quốc là một lực lượng mới và năng động trong nền chính trị Trung Hoa, một đảng của tương lai chứ không phải là quá khứ.

Ở Đông Dương thuộc Pháp cũng đang có những thay đổi, mặc dù cùng tốc độ với Trung Hoa. Dân số của ba vùng này gia tăng nhanh chóng. Từ bảy triệu năm 1880 đã lên đến khoảng 16 triệu năm 1926, với sáu triệu ở Bắc Kỳ, năm triệu ở Trung Kỳ và khoảng bốn triệu ở Nam Kỳ. Mặc dù hơn ba phần tư dân số vẫn sống ở nông thôn, dân số thành thị đã tăng mạnh, lên đến gần 1 triệu người vào giữa những năm 1920. Hầu hết trong số này sống ở các thành phố lớn là Sài Gòn và Hà Nội.

Trong mười ba năm kể từ khi Nguyễn Ái Quốc rời Sài Gòn, phong trào khôi phục nền độc lập của Việt Nam đã mất chỗ đứng. Với việc Phan Châu Trinh đã bị bắt và đày sang Pháp, người chủ trương cải cách phi bạo lực đã có uy tín nhất đã tạm thời im lặng. Trong khi đó, tổ chức một thời đầy hứa hẹn của Phan Bội Châu, được sự ủng hộ của nhiều nhà yêu nước có uy tín nhất Việt Nam, đã dần dần không còn quan trọng như trước nữa sau nhiều lần nổi dậy không thành công và tiếp đó là việc chính nhà lãnh đạo phong trào dân tộc chủ nghĩa bị bắt và bỏ tù ở Nam Trung Hoa.

Khi nghe tin về cuộc cách mạng năm 1911 ở Trung Hoa, Phan Bội Châu đã bỏ kế hoạch thành lập một chế độ quân chủ lập hiến và thay vào đó thành lập một chính đảng mới, gọi là Quang Phục Hội nhằm thiết lập một nền cộng hoà độc lập theo mô hình của Tôn Dật Tiên. Rõ ràng là Phan Bội Châu đã hy vọng có được sự giúp đỡ của Trung Hoa để lật đổ người Pháp; trong một cuộc họp với Tôn Dật Tiên ở Quảng Đông đầu năm 1912, ông Tôn đã hứa với Phan Bội Châu rằng Việt Nam sẽ là nước đầu tiên được Trung Hoa giúp đỡ một khi các nhà cách mạng củng cố quyền lực của mình ở Trung Hoa. Tuy nhiên, ít lâu sau, Phan Bộ Châu bị một tư lệnh địa phương bắt vì tội thực hiện các hoạt động lật đổ. Đến khi Phan Bộ Châu ra tù năm 1917, đảng của Tôn Dật Tiên đã mất quyền và bản thân ông Tôn đang ở Nhật Bản. Hy vọng được sự giúp đỡ của nước ngoài lại một lần nữa tiêu tan, Phan Bội Châu có vẻ như đã mất phương hướng. Trong lúc tuyệt vọng, ông thậm chí đã đề xuất hợp tác với người Pháp miễn là họ giữ lời hứa thực hiện các cuộc cải cách kinh tế chính trị ở Đông Dương. Cho đến đầu những năm 1920, tổ chức cách mạng ở Việt Nam hầu như đã tan rã. Ông vẫn bị đày ở Trung Hoa, xung quanh là một nhóm môn đệ trung thành, một nhân vật đã ngày càng trở nên không hợp thời. Rõ ràng là Phan Bội Châu đã hết thời.

Sự sụp đổ phong trào của Phan Bội Châu và việc Phan Châu Trinh bị đi đày cho thấy có những thay đổi lớn hơn diễn ra trong xã hội Việt Nam; dấu chấm hết thời của hai người họ Phan trùng với sự đi xuống của giới học giả truyền thống đã từng có ảnh hưởng lớn đối với nền chính trị Việt Nam trong nhiều thế kỷ. Mặc dù được hối thúc bởi các nhân vật yêu nước như Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, nhiều nhà Nho đã bỏ niềm tin trước kia của họ và cố gắng tham gia vào chính trị quần chúng, với tư cách một giai cấp họ chưa bao giờ cảm thấy thoải mái thực sự trong vai trò mới này; nhiều người thấy khó có thể thích nghi với những điều kiện đang thay đổi dưới sự thống trị  của thực dân Pháp. Phan Bội Châu rất thích phong trào gồm “mười nghìn anh hùng vô danh” chỉ tồn tại trên sách báo. Họ là những người sẽ đuổi người Pháp ra biển, nhưng xét cho cùng đảng, của ông chủ yếu bao gồm những người thuộc giới thượng lưu và được giáo dục tốt trong xã hội và hầu như không có nông dân tham gia. Mặc dù phong trào của ông đã cố gắng thúc đẩy thương mại và công nghiệp làm phương tiện để làm giàu cho xã hội Việt Nam, các thành viên có thâm niên của phong trào là đại diện của giới quý tộc địa chủ. Các nhà Nho yêu nước có thiện chí mặc áo thụng mở cửa hàng để gây quỹ và khuyến khích thương mại ở địa phương và sau đó đã làm khách hàng xa lánh mình do thái độ kẻ cả của họ.

Vào cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất, ảnh hưởng của các nhà Nho (khoảng 20.000 người vào cuối thế kỷ trước) trong xã hội Việt Nam đã bắt đầu suy yếu. Các kỳ thi Nho giáo đã bị loại bỏ trên cả ba vùng lãnh thổ và được thay thế bằng một hệ thống giáo dục mới do người Pháp đặt ra. Quốc ngữ, chuyển tự từ tiếng Việt sang hệ chữ cái La-tinh, lúc đó được thúc đẩy mạnh mẽ bởi cả các nhà truyền giáo đạo Cơ đốc ở Nam Kỳ và các trí thức theo đường lối cải cách ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ và ngày càng được thừa nhận là hệ thống thay thế hữu ích cho hệ thống chữ Nôm phức tạp. Trong khi hầu hết người Việt Nam trẻ tuổi tiếp tục được hưởng giáo dục truyền thống ở làng quê của họ thì con em của nhiều người trong giới Nho học, giờ đây đã không còn được hưởng hệ thống giáo dục Nho giáo để tiến bộ , được đào tạo ở các trường Pháp Việt mới như trường Quốc học Huế, nơi mà các bài giảng là bằng tiếng Pháp. Nhiều người sang Pháp để học tiếp.

Trong khi đó, một tầng lớp trung lưu người Việt mới và Tây hoá hơn đã xuất hiện. Một số đã thành lập các công ty thương mại và sản xuất để đáp ứng như cầu và nguyện vọng của các gia đình khá giả sống ở các thành phố lớn. Những người khác làm cho các công ty của châu Âu, theo các nghề khác nhau hoặc giữ một vị trí trong bộ máy hành chính quan liêu. Mặc dù nhiều thành viên của giới thành thị mới này ngưỡng mộ Phan Bội Châu và các môn đệ của ông về lòng yêu nước của họ, họ kín đáo chế nhạo các bậc đàn anh về thái độ bảo thủ và cổ hủ. Những người thuộc thế hệ mới này cũng cam kết đối với sự nghiệp độc lập dân tộc, đã từ bỏ quá khứ và có kiến thức tinh tế hơn về phương Tây. Nhiều người mặc đồ Tây, uống rượu Pháp và nói chuyện bằng tiếng Pháp. Như nhà báo Pháp Pôn Mô-nê đã viết, những người thuộc thế hệ mới này là “hình mẫu của nền văn hoá (Pháp) của chúng ta, không còn niềm tin truyền thống và rời bỏ mảnh đất của tổ tiên, hoàn toàn không quan tâm đến đạo Khổng, đạo đức mà họ không thích bởi vì họ không hiểu về nó”. Các quan chức Pháp thường coi những bước phát triển này như là một dấu hiệu về sự thành công của sứ mệnh văn minh hoá, nhưng họ cũng sớm nhận ra rằng thế hệ này sẽ là một thách thức lớn hơn so với các cha ông của họ.

Các quan chức cao cấp của Pháp đã vô tình làm người Việt Nam càng bực tức hơn đối với những hậu quả của chế độ thực dân. Năm 1919, kẻ thù tương lai của Nguyễn Ái Quốc là An-be Xa-rô, lúc đó là toàn quyền Đông Dương, đã làm cho những trái tim Việt Nam cảm động vì lời hứa của ông về một kỷ nguyên cải cách mới. Ông nói với những người cấp dưới của mình: “Tôi sẽ đối xử với các bạn như một người anh đối với một người em và sẽ dần dần cho các bạn chân giá trị của một con người”. Những lời lẽ đó đã làm loé lên hy vọng ở Việt Nam và thậm chí Nguyễn Ái Quốc đã khâm phục lời lẽ đó. Ông vẫn là người luôn ngưỡng mộ nền văn hoá đã sản sinh ra khẩu hiệu cách mạng “tự do, bình đẳng và bác ái”.

Tuy nhiên, sau khi Xa-rô rời Hà Nội đi Pa-ri để làm Bộ trưởng Thuộc địa, những lời hứa của ông về cải cách vẫn chưa được thực hiện. Thí dụ, hệ thống giáo dục mới hầu như không nhận được nguồn tài trợ từ chính quyền thực dân và kết quả là chỉ có ảnh hưởng nhất định đối với dân chúng địa phương.  Các trường làng đặc biệt thiếu kinh phí và đa số trẻ Việt Nam được đi học không đến bốn năm. Vào giữa những năm 1920, chỉ có khoảng 5.000 học sinh trên toàn đất nước được học đến cấp tương đương trung học. Những thống kê đó cho thấy đạo đức giả của người Pháp khi họ nói rằng họ đang thực hiện sứ mệnh khai hoá văn minh ở Đông Dương; trong khi đó theo hệ thống truyền thống, khoảng một phần tư dân số có thể đọc được các bài viết bằng chữ Hán, trong thập kỷ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tỷ lệ biết chữ quốc ngữ và chữ Nôm ước tính chỉ khoảng 5% dân số.

Trong suốt khi đó, mặc dù nhiều người Việt Nam đã đóng góp cho sự nghiệp của Pháp trong suốt Chiến tranh thế giới thứ nhất, các nhà cầm quyền thực dân vẫn từ chối cho các thần dân của mình quyền đóng một vai trò tích cực trong nền chính trị trên đất nước của mình. Khoảng 10.000 viên chức thực dân ở Đông Dương được trả lương nhiều hơn so với người Việt Nam làm cùng một công việc. Nhiều người trong số 40.000 người châu Âu sống và làm việc ở Đông Dương, một số khi đến hầu như không có gì ngoài một chiếc áo sơ-mi khoác trên người, đều thường xuyên đối xử thô bạo và có thái độ trịch thượng đối với dân bản địa. Người nước ngoài, trong đó có hơn 200.000 Hoa kiều sống chủ yếu ở các thành phố và thị trấn tiếp tục chi phối nền kinh tế đô thị. Ghê thay, một nhà văn Pháp đã cho các chính sách cải cách của Xa-rô, những chính sách đôi khi được mô tả là “nền chính trị hợp tác”, lá sự gian dối, trong khi Tổng thống Pháp Ray-mông Pôn-ca-rê thừa nhận rằng các chính sách đó chỉ được thực hiện về mặt hình thức.

Trong khi đó, đa số dân chúng phải chịu các mức thuế gia tăng và sự độc quyền của chính phủ đối với việc sản xuất và buôn bán thuốc phiện, muối và đồ uống có cồn , điều này làm tăng giá bán lẻ tất cả ba loại sản phẩm này. Ở Nam Kỳ, các chủ đất vắng mặt mua đất trống ở châu thổ sông Cửu Long đã đòi lãi suất quá cao đối với người thuê mới, đôi khi chiếm tới hơn 50% tổng giá trị mùa màng trên mảnh đất đó, trong khi các chủ đát này vẫn có dinh cơ ở Sài Gòn. Trên khắp đất nước có khoảng hơn nửa triệu nông dân không có đất, so với khoảng 50 nghìn địa chủ. Trong một cuốn sách có tựa đề Forceries humaines được viết vào giữa thập kỷ, tác giả Gioóc-giơ Ga-rốt đã nhận xét rằng nếu bị khiêu khích như vậy thì chắc hẳn người Pháp đã nổi dậy rồi. Thực ra, như Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét một cách giận dữ với nhà báo Ô-síp Man-de-xtam trong cuộc phỏng vấn năm 1923 ở Mát-xcơ-va thì Việt Nam là một “dân tộc chìm trong bóng tối”.

Nỗi thất vọng về tình hình đó đã dấy lên một làn sóng chính trị mạnh mẽ mới vào giữa những năm 1920. Đứng đầu là một thế hệ các trí thức trẻ thuộc tầng lớp trung lưu được giáo dục theo hệ thống của Pháp. Giống như những người cùng cảnh ngộ ở thế giới thuộc địa, nhiều người có tình cảm phức tạp với nền văn hoá phương Tây, họ ngưỡng mộ nhưng lại không chấp nhận nền văn hoá đó. Nhiều người trong số họ đọc tiểu thuyết và tạp chí bằng tiếng Pháp, trong đó có các tạp chí viết bằng chữ quốc ngữ như Phụ nữ Tân Văn phục vụ thị hiếu phương Tây và các nhìn nhận thanh niên có học thức. Nhưng họ lại phẫn nộ về việc người Pháp đối xử với dân thuộc địa của mình bằng một thái độ trịch thượng và nghi ngờ, tại sao các quan niệm của Pháp được quảng cáo nhiều như tự do, bình đẳng và bác ái mà họ được học ở trường lại không thể áp dụng được ở Đông Dương.

Những dấu hiệu thay đổi đầu tiên xuất hiện ở Sài Gòn, thành phố mà so với tất cả các thành phố khác ở Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất bởi sự có mặt của thực dân Pháp. Một tỷ lệ lớn người châu Âu ở Đông Dương đã đến định cư ở đây vì Nam Kỳ là một thuộc địa và do đó trực thuộc chính quyền Pháp, và vì cơ hội thu lợi nhuận từ các đồn điền cao-su, chè và cà-phê được dựng ở các khu vực lân cận. Ở Sài Gòn, có nhiều công nhân nhà máy hơn bất cứ vùng nào ở Việt Nam. Ở Sài Gòn, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, người bản xứ và người nước ngoài rõ ràng nhất. Tại đây, ngay cả người Việt Nam giàu có nhất cũng có lý do bất bình về việc người nước ngoài thâu tóm toàn bộ nền kinh tế. Các thương nhân Hoa kiều quản lý các nhà máy sản xuất gạo, các ngân hàng và các tiệm cầm đồ, trong khi người châu Âu sở hữu hầu hết các nhà máy lớn và chi phố xuất nhập khẩu. Nhà nông học giàu có Bùi Quang Chiểu, người mà Nguyễn Ái Quốc đã gặp trước khi đi sang châu Âu, đã đi đầu trong việc thổi bùng lên thái độ bất bình này. Là một chủ đất nhưng ở Sài Gòn, ông Chiểu cũng tham gia nhiều hoạt động kinh doanh và sáng lập ra tờ báo Diễn đàn người bản xứ đại diện cho lợi ích của thương nhân địa phương. Vài năm sau, ông cùng với người quen thành lập đảng Hiến pháp, đảng chính trị chính thức đầu tiên ở Đông Dương thuộc Pháp. Trong khi Bùi Quang Chiểu và các cộng sự của mình hy vọng ép người Pháp dành cho người Việt Nam một vị trí cao hơn trong tiến trình chính trị thì một mục tiêu nữa là giảm sự chi phối của các thương nhân Trung Hoa đối với nền kinh tế ở Nam Kỳ.

Cũng như ở nhiều xã hội ở Đông Nam Á, các thương nhân Trung Hoa từ lâu đã là lực lượng chi phối các nền kinh tế đô thị ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Con cháu của những người nhập cư trong các thế kỷ trước đến vùng này từ các vùng duyên hải ở Nam Trung Hoa thường được những người sản xuất và thương mại trong khi không khuyến khích người dân bản địa làm như vậy. Thường thì họ sống trong các khu nhà ổ chuột ở đô thị và tiếp tục duy trì văn hoá Trung Hoa, trong đó có đạo Khổng và tiếng Hán. Khi Bùi Quang Chiểu và các cộng sự của ông chú trọng đến việc giảm ảnh hưởng của Hoa kiều hơn là các nhà cầm quyền thực dân, họ có thái độ tương tự như thái độ ở một số thuộc địa khác trong khu vực.

Một đối thủ nguy hiểm hơn ông Chiểu, theo người Pháp,  là nhà trí thức được đào tạo ở Pa-ri tên là Nguyễn An Ninh. Là con của một nhà Nho Nam Kỳ có liên hệ với Trường Đông kinh Nghĩa thục Hà Nội, và sau đó phục vụ trong phong trào của Phan Bội Châu, ông Ninh học luật ở Pháp, nơi mà ông nói là đã gặp Nguyễn Ái Quốc và từ đó có say mê chính trị. Khi trở về Sài Gòn vào đầu những năm 1920, ông sáng lập một tờ báo có tên là Cái chuông nứt, nhằm nâng cao tinh thần yêu nước của người Việt Nam và thúc giục người Pháp tiến hành cải cách chính trị. Giống như Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh cũng là người ngưỡng mộ cuồng nhiệt văn hoá phương Tây và tin rằng nó là chuẩn mức để điều chỉnh hệ thống Nho giáo truyền thống mà ông tin là đã bóp nghẹt khả năng sáng tạo của đồng bào mình và giúp Pháp chinh phục họ.

Vào đầu và giữa những năm 1920, nhà báo trẻ theo trường phái châm biếm này đã trở nên nổi tiếng trong giới thanh niên Nam Kỳ. Các bài phát biểu không thường xuyên của ông được người đọc mong đợi. Trong một bài phát biểu tháng 10 năm 1923 tại Nha học chính ở Sài Gòn, ông đã kêu gọi mọi người hưởng ứng một nền văn hoá mới không bị ảnh hưởng bởi các ý tưởng du nhập của Khổng Tử, Mạnh Tử và Lão Tử. Giống như Ma-hát-ma Gan-di ở Ấn Độ, ông Ninh lập luận rằng giải pháp cho các vấn đề của Việt Nam cơ bản là tinh thần và câu trả lời chỉ có thể do người dân tìm ra.

Ảnh hưởng của các hoạt động của Nguyễn An Ninh đối với thanh niên Nam Kỳ ngày càng làm cho các nhà chức trách Pháp lo ngại, cuối cùng ông được triệu tập đến nói chuyện với Phó Toàn quyền Mô-rít-xơ Cô-nhắc, người đã cảnh báo ông rằng các hoạt động của ông bị các nhà chức trách kiểm soát chặt chẽ và rằng nếu ông quyết định thực hiện các hoạt động của mình thì họ sẽ dùng các biện pháp cần thiết để buộc ông chấm dứt. Cô-nhắc cho rằng người Việt Nam quá chất phác để có thể hiểu thông điệp của ông Ninh. Ông nói thêm một cách châm biếm, nếu ông Ninh muốn kêu gọi các trí thức thì hãy đến Mát-xcơ-va. Tuy nhiên, lời cảnh báo của Cô-nhắc bị bỏ qua và Nguyên An Ninh lại thực hiện chiến dịch của mình.

Và ngày Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Đông bằng tàu từ Vla-đi-vốt-xtốc giữa tháng 11 năm 1924, thành phố bị xáo động, với hàng ngàn người chen lấn trên đường phố gần bến cảng để bày tỏ sự ủng hộ của họ đối với chính phủ của Tôn Dật Tiên và tiễn vị chủ tịch đi Bắc Kinh. Từ tháng 2 năm 1923, ông Tôn đã thực hiện chiến lược “khối liên minh bên trong” đã được thương lượng với nhân viên Ma-rinh của Quốc tế cộng sản vài tháng trước đó. Ông Tôn đã chuyển Quốc dân đảng sang cánh tả bằng cách đưa thêm một số đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc vào các vị trí có trách nhiệm. Sau khi nhân viên Quốc tế cộng sản Mi-khai-in Bô-rô-đin đến từ Mát-xcơ-va vào tháng 10, đảng đã được tổ chức lại theo đường lối của chủ nghĩa Lê-nin và một học viện quân sự mới được thành lập ở đảo Hoàng Phố để cung cấp các sĩ quan được đào tạo. Tưởng Giới Thạch, một trong những sĩ quan trẻ tin cậy của Tôn Dật Tiên, được coi là sĩ quan chỉ huy của trường, trường nằm cách thành phố vài dặm xuôi theo sông. Chu Ân Lai trở thành chính uỷ của trường.

Tuy nhiên, việc Tôn Dật Tiên chuyển sang cánh tả không phải là không phải trả giá; quan hệ giữa chính phủ ông với các đại diện quyền lợi châu Âu ở Quảng Đông đã bắt đầu xấu đi. Đối với nhiều thương gia và nhà ngoại giao phương Tây ở thành phố, quyết định của ông Tôn thiết lập một quan hệ chính thức với nước Nga Xô-viết và đảng Cộng sản Trung Quốc đã cung cấp chứng cứ cho phép kết luận rằng ông và đảng của ông về cơ bản là chống phương Tây và đã trở thành tay sai của Mát-xcơ-va.

Trong những tháng sau, tình hình càng trở nên căng thẳng hơn, Mùa hè năm 1924, các cuộc đình công phản đối các công ty của Anh ở Quảng Đông đã nổ ra trước một sự cố do các nhà chức trách Anh khiêu khích. Người Anh đã áp đặt sự kiểm soát của cảnh sát để trấn áp các cuộc biểu tình trên đường phố ở đảo Sa Diện, một nhượng tô của người Pháp dọc bờ sống phía Tây. Chính phủ của ông Tôn đã tuyên bố ủng hộ những người đình công. Mùa thu năm đó, Hiệp hội các thương nhân Quảng Đông, bị chi phối bởi những lợi ích thương mại của châu Âu, đã thiết lập một lực lượng quân sự của ông Tôn và các vụ xô xát đã xảy ra giữa các đơn vị dân quân và quân đội của chính phủ.

Trong khi đó, tình hình bên ngoài Quảng Đông thay đổi đột ngột, U Pê-phu, một tư lệnh đã nhiều năm kiểm soát các vùng ở phía bắc Trung Hoa, bị lật đổ bởi “vị tướng đạo Thiên chúa” là Pheng I-ung-xi-ang. Mặc dù Pheng cũng là một tư lệnh, ở Quảng Đông ông được coi là thấu hiểu công cuộc cách mạng Trung Hoa hơn là U Pê-phu; khi Pheng mời Tôn Dật Tiên đến Bắc Kinh để đàm phán một dàn xếp hoà bình, ông Tôn đã đồng ý.

Mặc dù Nguyễn Ái Quốc không được cử đi Trung Hoa với tư cách chính thức nhưng không phải là ông không có liên lạc với ai. Ngay lập tức ông đã liên hệ với Mi-khai-in Bô-rô-đin. Mi-khai-in Bô-rô-đin đã mời Nguyễn Ái Quốc đến ở căn hộ của ông ở Bao-gông Guan, một biệt thự kiểu Tây rộng rãi bao quanh là một khu vườn trải dài từ các trụ sở của Quốc tế cộng sản đến trung tâm thành phố. Ở tầng trệt của toà nhà là văn phòng của 20 đại diện của Quốc tế cộng sản được cử từ Mát-xcơ-va đến. Trên tầng hai là căn hộ riêng của Bô-rô-đin, nơi Nguyễn Ái Quốc làm thành phòng nghỉ riêng của mình. Để tự vệ trước sự giám sát của Pháp hay khỏi bị các nhà chức trách bắt giữ vì nhập cư trái phép, Nguyễn Ái Quốc tự xưng là người Trung Hoa có tên là Lý Thuỵ. Chỉ có Bô-rô-đin có thể sẽ giúp ích rất nhiều cho người đồng nghiệp trẻ của mình.

Sau khi dọn đến ở nơi ở mới, Nguyễn Ái Quốc được cử làm tại văn phòng của thông tấn xẽ Xô-viết ROSTA nằm ở tầng trệt của trụ sở của Quốc tế cộng sản ở Bao-gông Guan. Nguyễn Ái Quốc đã viết bài cho thông tấn xã này, những bài báo này được gửi về Mát-xcơ-va và in với bút danh Ni-lốp-xki, ông cũng làm phiên dịch và đại diện địa phương không chính thức của Quốc tế Nông dân. Tuy nhiên, mục tiêu chính của ông là gây dựng hạt nhân cho đảng cách mạng Việt Nam mới được xây dựng theo mô hình của Lê-nin. Sau đó có thể ông bắt đầu theo đuổi mục tiêu dài hạn hơn là lập trật tự cho phong trào kháng chiến của Việt Nam và biến nó thành một lực lượng đáp ứng những mong ước của ông.

Chiến lược cách mạng do Quốc tế cộng sản đưa ra tại Đại hội lần thứ hai ở Mát-xcơ-va đã cho ông đường lối chung để khởi động tiến trình cách mạng. Một trong những chỉ dẫn đó là cần phải có biện pháp hợp tác với các nhóm chủ nghĩa dân tộc phi cộng sản hiện đang hoạt động, một mục tiêu mà ông đã đưa ra trong các báo cáo của mình gửi lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản ở Mát-xcơ-va. Nhưng Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức được rằng những chỉ dẫn đó không đáp ứng hoàn toàn đầy đủ nhu cầu của ông. Tại một cuộc họp nhằm thảo luận vấn đề thuộc địa tại Đại hội của Quốc tế Cộng sản lần thứ năm mùa hè năm 1924, ông đã hỏi Đi-mi-tơ-ri Ma-nu-in-xki, chuyên gia vè thuộc địa của Quốc tế cộng sản, rằng những người công nhân cộng sản châu Á cần phải làm gì khi không có đảng dân tộc nhân dân. Không rõ Ma-nuyn-xki, một người ít có kinh nghiệm về các vấn đề châu Á, đã bao giờ nghĩ đến câu hỏi này chưa. Tuy nhiên, ông vẫn cố gắng giải thích chiến lược “mặt trận thống nhất” của Lê-nin theo lối ứng khẩu, cho rằng khi không có phong trào dân tộc quần chúng thì đảng cộng sản trong nước cần phải có sáng kiến thành lập một phong trào dưới sự lãnh đạo của đảng.

Thực hiện gợi ý của Ma-nuyn-xki ở Đông Dương không dễ dàng chút nào. Như Nguyễn Ái Quốc đã báo cá cho các đồng nghiệp của Quốc tế Cộng sản trong khi ông vẫn sống ở Mát-xcơ-va, giai cấp công nhân Việt Nam, có thể là lực lượng đầu đàn trong đảng Mác Lê-nin sau này, vẫn còn trong giai đoạn phôi thai, chỉ chiếm khoảng 20% dân số, bao gồm công nhân mỏ, những người sống rải rác ở cả ba miền là Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Về nhận thức chính trị thì công nhân Việt Nam xếp sau các đồng nghiệp của mình ở nước Trung Hoa láng giềng và thiếu nhiều khả năng lãnh đạo phát động một cuộc khởi nghĩa của dân chống thực dân Pháp.

Ở Mát-xcơ-va, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy rằng chính các trí thức yêu nước đã lãnh đạo cuộc kháng chiến đầu tiên của người Việt Nam chống lại hệ thống thuộc địa. Thật không may ở Pháp chẳng mấy người hiểu biết tư tưởng Mác-xít. Quan điểm cấp tiến về xã hội trong giới trí thức đã có ít nhất từ cuộc cách mạng năm 1789; ở Nga, những quan điểm này đã nảy sinh vào giữa thế kỷ 19 với Na-rốt-nic-xơ; ngay ở Trung Hoa, các tư tưởng cấp tiến từ phương Tây như chủ nghĩa vô chính phủ và chủ nghĩa cộng sản đã trở nên quen thuộc với các thành viên hàng đầu của phong trào tiến bộ vào đầu thế kỷ 20. Nhưng ỏ Việt Nam, những tư tưởng cách mạng nước ngoài bị cấm đoán vì chỉ bắt đầu du nhập trong những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Ngay cả khi các trí thức Việt Nam bắt đầu biết về cuộc cách mạng Bôn-sê-vích thì những tin tức về cuộc cách mạng chủ yếu là tin tiêu cực hoặc các tin tức bị kiểm duyệt của Pháp bóp méo nghiệm trọng. Sách về Các Mác hay nước Nga Xô-viết bị cấm ở Đông Dương trong khi các bài báo trên những tờ báo và tạp chí địa phương nói đến các đề tài đó bị các quan chức Pháp thường xuyên tịch thu. Chỉ một số người có đủ may mắn để có được các bản sao về các tác phẩm của Các Mác hoặc tờ Người cùng khổ của Nguyễn Ái Quốc được chuyền cho nhau một cách lén lút đọc được về mặt sau của vấn đề.

Người Việt Nam bình thường do không có kiến thức sâu sắc về chủ nghĩa Mác nên không thể hiểu biết về cách mạng Bôn-sê-vích. Thành phần xã hội và quan điểm thế giới của giới cách mạng của Việt Nam làm cho các tư tưởng Mác-xít khó có thể được chấp nhận một cách thực sự một khi những tư tưởng này trở nên phổ biến hơn. Đối với đa số trí thức Việt Nam, cuộc sống đô thị là một kinh nghiệm tương đối mới. Được nhắc đén trong tư tưởng Nho giáo, tư tưởng có thành kiến sâu sắc chống lại việc chạy theo lối sống đô thị như thương mại và công nghiệp, những trí thức này không chắc đã thấy được sự liên quan của học thuyết Mác với những vấn đề của một nước Việt Nam đa số là ở nông thôn. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác đã được những người đang chờ đợi một sự thay thế mang tính thuyết phục cho thế giới quan Nho giáo chấp nhận; việc những người theo chủ nghĩa Mác có ác cảm sâu sắc đối với chủ nghĩa đế quốc phương Tây chẳng gây hại cho ai. Như một người theo chủ nghĩa dân tộc Việt Nam đã nói: “Chúng tôi sẽ không đi theo chủ nghĩa cộng sản mà đén với những người theo chủ nghĩa cộng sản, vì ở đây, như ở các nước khác, khi những người cộng sản hứa đem lại cho mọi người dân quyền tự quyết, họ sẽ được chờ đợi như những vị cứu tinh”. Nhưng như lẽ thường, thái độ của họ là ngây thơ. Một người Việt yêu nước có nói: “Nếu bị phương Tây ghét thì hẳn người Nga và những người cộng sản phải là những người tốt”.

Nguyễn Ái Quốc ý thức được điều này. Năm 1922, trong một bài báo viết ở Pa-ri, ông đã nhận xét rằng chỉ có một số trí thức ở các thuộc địa như Việt Nam hiểu được ý nghĩa của chủ nghĩa cộng sản, và hầu hết trong số những người hiểu được thì lại thuộc giới tư sản trong nước và thích “mặc áo có mác và chỉ quan tâm đến quyền lợi của mình”. Ông nhận thấy, đối với hầu hết những người dân ở các thuộc địa, chủ nghĩa Bôn-sê-vích “có nghĩa là tiêu huỷ tất cả hoặc giải phóng khỏi ách áp bức của nước ngoài”. Nghĩa thứ nhất đưa dân chúng ngu dốt và nhút nhát rời xa chúng ta; nghĩa thứ hai đưa họ lại gần với chủ nghĩa dân tộc. Cả hai nghĩa này đều nguy hiểm như nhau.

Hàm ý của nó là Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng cho sự thành lập một đảng cộng sản. Dân chúng “tỏ ra sẵn sàng nổi dậy nhưng hoàn toàn không có học thức. Họ muốn tự giải phóng nhưng lại không biết làm như thế nào”. Giới có học thức bồn chồn không biết phải làm gì nhưng không sẵn sàng chấp nhận luận thuyết Mác. Cần phải có thời gian để người Việt Nam dần dần nhận thấy rằng cách mạng xã hội chính là câu trả lời cho các vấn đề của họ. Trong khi đó, một chính đảng cần được thành lập để có thể đại diện cho các ý tưởng của Mác và Lê-nin tuy ở dạng phôi thai nhưng có thể tập hợp quần chúng xoay quanh một vấn đề chính: độc lập dân tộc.

Một người Việt bất đồng ý kiến nổi tiếng nhất lúc đó sống ở Trung Hoa là Phan Bội Châu. Sau khi ra khỏi tù năm 1917 và sau một thời gian thử nghiệm tư tưởng thoả hiệp với người Pháp, Phan Bội Châu đã quay lại với quan điểm chống Pháp trước khi ông bị bắt. Tuy già nhưng vẫn khoẻ mạnh, với bộ râu màu nâu và cặp kính, người chiến binh 55 tuổi đến ở Hàng Châu, một khu nghỉ có quang cảnh đẹp ở tây nam Thượng Hải, nhà của Hồ Học Lâm, một người ủng hộ sau này đóng vai trò quan trọng trong phong trào suốt Chiến tranh thế giới thứ hai. Mặc dù Phan Bội Châu không còn các hạt nhân của tổ chức chống thực dân yêu nước ở Đông Dương, tên của ông vẫn có sức lôi cuốn quần chúng; đầu những năm 1920, một số người Việt Nam yêu nước đầy nhiệt huyết đã đến nam Trung Hoa để gia nhập đội ngũ những môn đệ của ông. Trong số này nổi bật nhất có Lê Hồng Phong, Lê Văn Phan (trong phong trào cách mạng được biết đến nhiều hơn với tên Lê Hồng Sơn), Lê Quang Đạt và Trương Văn Lệnh. Tất cả những người này cuối cùng đã trở thành thành viên sáng lập của tổ chức cách mạng đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc.

Khi ở Nam Trung Hoa, những thành viên đầy nhiệt huyết này trở nên mất kiên nhẫn trước hoạt động không hiệu quả của tổ chức của Phan Bội Châu; tháng 3 năm 1924, tám tháng trước khi Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Đông, họ quyết định tự tách ra, thành lập một đảng mới gọi là Tâm Tâm Xã (Hiệp hội những người cùng chí hướng, dịch sát nghĩa là Hội những trái tim cùng nhịp đập). Cũng như hầu hết các tổ chức yêu nước được thành lập ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20, lãnh đạo của đảng mới là thành viên của giai cấp trí thức truyền thống. Các cuộc biểu tình của sinh viên nổ ra vào giữa những năm 1920 làm họ có tư tưởng cấp tiến, họ quyết định bỏ học để tham gia các hoạt động chống thực dân. Một vài người trong số họ làm lao động chân tay trước khi quyết định di cư ra nước ngoài. Hầu hết tất cả đều cùng quê Nghệ An với Nguyễn Ái Quốc.

Các thành viên của tổ chức mới, với tính hoạt động sôi nổi và dễ nghiêng ngả về thiên hướng chính trị, đã cho rằng hệ tư tưởng không phù hợp với nhu cầu cách mạng trước mắt. Triết lý của họ tương tự như triêt lý trong phong trào nổi dậy của Au-gút-xtê Bờ-lanh-qui ở châu Âu ở thế kỷ 19. Phong trào khuyến khích nổi dậy, tuy không thành công ở Pháp, I-ta-li-a và Tây Ban Nha. Mục tiêu cuối cùng của họ là dùng tuyên truyền và các hành động khủng bố để làm dấy lên một biến động của dân chúng nhằm lật đổ chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương.

Một trong những việc đầu tiên mà đảng mới dự định thực hiện là việc ám sát toàn quyền Đông Dương người Pháp, ông Mác-xi-an Méc-lanh, nhân chuyến thăm Quảng Đông của ông sau một chuyến đi thăm chính thức một số thành phố ở Đông Á giữa tháng 6 năm 1924. Với sự cố vấn và hỗ trợ về tài chính của Lâm Đức Thứ, một công dân 36 tuổi từ Bắc Bộ, người trước đó đã đến Quảng Đông để gặp Phan Bội Châu cách đó vài năm, nhóm này đã đưa ra những kế hoạch giết Méc-lanh bằng cách nổ bom trong các lễ kỷ niệm ở tô giới châu Âu là đảo Sa Diện. Mặc dù lấy một người vợ giàu có và bản thân ông già hơn nhiều so với các đồng sự của mình, ông Thứ (tên thật là Nguyễn Công Viên) được xem là một thành viên tích cực của tổ chức vì có khả năng gây quỹ và liên hệ với người Pháp. Do xuất thân từ một gia đình phản đối sự xâm chiếm của Pháp, không ai nghi ngờ sự trung thành của ông đối với công cuộc chống chủ nghĩa thực dân. Trụ sở của tổ chức được đặt ở tiệm thuốc tây do ông Thứ và vợ quản lý trong một ngõ nhỏ trên đường De Zheng và cách các trụ sở của Quốc tế cộng sản không xa.

Lúc đầu, người ta quyết định rằng nhà cách mạng trẻ tuổi đẹp trai có nước da sẫm Lê Hồng Sơn sẽ được chọn để thực hiện hoạt động đó, bởi vì ông đã ám sát một gián điệp hai mang trong nội bộ đảng; do cách biểu lộ tình cảm mạnh mẽ của ông nên thậm chí các đồng sự của ông cũng sợ ông như sợ một “kẻ giết thuê” của tổ chức. Nhưng Lê Hồng Sơn cũng bị các nhà chức trách biết rõ tung tích, do đó việc này cuối cùng được giao cho Phạm Hồng Thái, một người Việt Nam trẻ tuổi vừa mới đến từ Đông Dương để gia nhập tổ chức khủng bố. Thái là con trai của một công chức tỉnh Nghệ An, tham gia phong trào Cần Vương của Phan Đình Phùng, thời thanh niên. Thái đã học tại trường Pháp Việt ở Hà Nội và sớm say mê các lý tưởng cách mạng. Sau khi học xong, ông xin làm thợ cơ khí ở ga-ra ôtô và sau đó làm việc ở mỏ than. Đầu năm 1924, ông đến Trung Hoa với bạn là Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Phong và trở thành thành viên của Tâm Tâm Xã.

Rõ ràng là do khao khát được hy sinh vì sự nghiệp, Phạm Hồng Thái đã đồng ý nhận trách nhiệm đưa quả bom đến mục tiêu định trước. Tối ngày 19 tháng 6, các quan chức Pháp đã thu xếp một bữa tiệc ở khách sạn Víc-to-ri-a ở đảo Sa Diện để chào mừng Toàn quyền Méc-lanh và giới thiệu ông với các thành viên có uy tín của cộng đồng doanh nghiệp địa phương. Bữa tiệc sẽ được tổ chức ở một phòng ăn lớn cạnh khu phố đó. Vào khoảng 8 giờ 30 tối, ngay khi xúp được đem ra, ông Thái đã ném quả bom qua cửa sổ vào phòng tiệc. Quang cảnh được một tờ báo địa phương mô tả như sau: “Tiếng nổ kinh hoàng vang khắp đảo Sa Diện; sức của nó mạnh đến nỗi tất cả dao dĩa trên bàn tiệc văng vào các nhân viên, gây ra những vết thương khủng khiếp… Một nhân chứng ở gần khách sạn vào thời điểm xảy ra vụ việc và đến giúp mô tả cảnh tượng cho chúng tôi bằng những từ đơn giản: kinh hoàng, rất kinh hoàng. Khách nằm trên ghế hoặc trên đất vưói những vết thương khủng khiếp”.

Năm người khách đã chết vì vụ nổ đó (ba người chết tại chỗ và những người khác chết do bị thương nặng) và hàng chục người bị thương. Tuy nhiên, thật kỳ lạ là Toàn quyền Mác-xi-an Méc-lanh đã sống sót. Trong khi tìm cách chạy vào đất liền, Phạm Hồng Thái đã nhảy từ trên cầu xuống Châu Giang và chết đuối. Méc-lanh đã đi Hà Nội trên một tàu chở khách của Pháp ngày hôm sau để tránh có thể lại bị tấn công trong lễ tang của kẻ ám sát trẻ tuổi.

Méc-lanh đã thoát chết vì ông có ngoại hình rất giống một trong số những người khách, người đã chết vì trúng bom. Nhưng những người chủ mưu nghi ngờ về việc một kẻ phản bội trong hàng ngũ của họ đã chuyển thông tin về kế hoạch ám sát cho Pháp. Những nghi ngờ dồn về Lâm Đức Thứ, những thói quen và mối liên hệ với các quan chức Pháp của ông ta đã làm ông ta trở thành kẻ bị tình nghi. Lê Quang Đạt, một trong những thành viên của Tâm Tâm Xã đã kể cho Lê Hồng Sơn về mối lo sợ của mình, nhưng Sơn trả lời rằng Lâm Đức Thứ đã liên hệ với người Pháp để gây các quỹ cho các hoạt động bí mật của tổ chức. Quan hệ của Thứ với tổ chức vẫn tạm được duy trì.

Vụ nổ bom ở khách sạn Vích-to-ri-a là cố gắng đầu tiên của các nhà cách mạng châu Á nhằm ám sát một quan chức cao cấp thực dân Pháp và việc này đã làm cho cộng đồng người Pháp ở Đông Dương bị sốc. Ở Hà Nội, báo chí thực dân đã đổ lỗi về vụ tấn công cho các cán bộ phong trào Xô-viết. Nhưng vụ ám sát này đã làm cho Phạm Hồng Thái thành người hy sinh vì sự nghiệp chống chủ nghĩa đế quốc. Chính phủ của Tôn Dật Tiên đã dựng một ngôi mộ cho người thanh niên Việt Nam yêu nước tại nghĩa trang ở Quảng Đông, nghĩa trang dành riêng cho các liệt sĩ hy sinh vì cách mạng Trung Hoa; Phan Bội Châu đã có tuyên bố gián tiếp nói rằng ông Thái là một thành viên của tổ chức của ông và tuyên bố rằng kế hoạch ám sát là nhằm trả đũa các hoạt động tàn ác của người Pháp ở Đông Dương. Phan Bội Châu đặt một câu hỏi cường điệu, việc giết và áp bức thì việc nào tồi hơn? Sau đó ông viết một bài miêu tả đầy chi tiết không đúng sự thật về cuộc đời của ông Thái.

Phan Bội Châu cũng nhân sự kiện Sa Diện được biết đến rộng rãi để khôi phục tổ chức chính trị của mình ở Nam Trung Hoa, tổ chức này đã trở nên suy yếu trong những năm ông ở trong tù. Tháng 7 năm 1924, ông đến Quảng Đông để tham dự một lễ xây mộ cho Phạm Hồng Thái. Ở đó ông nói chuyện với một số môn đệ của mình về việc thay thế Việt Nam Quang Phục hội của ông bằng một số tổ chức chính trị mới có tên là Việt Nam Quốc dân đảng, theo Quốc dân đảng của Tôn Dật Tiên. Phan Bội Châu trở lại Hàng Châu vào tháng 9.

Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Đông năm tháng sau vụ ám sát hụt ở đảo Sa Diện. Vài ngày sau đó, trong vai một nhà báo Trung Hoa tên là Oang San-y, ông đã liên lạc với các thành viên của Tâm Tâm Xã. Hoạt động cấp tiến của họ rõ ràng là đã làm nhà cách mạng trẻ tuổi đồng cảm. Tất nhiên, việc họ thiếu lý tưởng chủ đạo sẽ thuận tiện vì như vậy Mác và Lê-nin sẽ lấp lỗ hổng đó. Và việc nhiều thành viên hàng đầu của nhóm là đồng hương với ông không gây phiền phức gì cả. Rõ ràng là Nguyễn Ái Quốc đã có ấn tượng với Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu, nhưng đặc biệt là với Lê Hồng Phong, người thấp, chắc nịch, có đôi vai rộng và con của một gia đình gia giáo ở Nghệ An mà Phan Bội Châu đã tuyển để đi học nước ngoài.

Nguyễn Ái Quốc đã không mất nhiều thời gian để thuyết phục những người này theo quan điểm của ông. Trong một bức thư gửi trụ sở của Quốc tế cộng sản ở Mát-xcơ-va đề ngày 18 tháng 12 năm 1924, ông báo cáo rằng ông đã liên lạc với một số “nhà cách mạng dân tộc” Việt Nam và bắt đầu hợp tác với họ. Cho đến tháng hai năm sau, ông đã thành lập một nhóm bí mật gồm 9 thành viên, lấy tên là Quốc dân đảng Đông Dương. Một số người đã trở về Đông Dương để tuyển thêm người, trong khi những người khác gia nhập quân đội của Tôn Dật Tiên hoặc xin gia nhập đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm người trong số này được ông mô tả là ứng cử viên của một đảng cộng sản tương lai. Mặc dù vậy, ông nhấn mạnh rằng ông rất cần có thêm kinh phí và tài liệu tuyên truyền để thực hiện các hoạt động bổ sung.

Rất có thể là qua các thành viên của Tâm Tâm Xã mà Nguyễn Ái Quốc đã liên lạc được với Phan Bội Châu. Mặc dù Nguyễn Ái Quốc không đồng tình với các phương pháp của nhà hoạt động cao tuổi này, có thể ông đã coi Phan Bội Châu là một công cụ hữu ích để xây dựng một tổ chức cho riêng mình. Về phần mình, Phan Bội Châu rõ ràng là đã nghe nói về những kỳ công của một con người bí ẩn là Nguyễn Ái Quốc khi ông còn sống ở Hàng Châu, mặc dù có thể ông chưa nhận ra ngay được lai lịch thực của Nguyễn Ái Quốc vốn là con trai của người bạn cũ của ông là Nguyễn Sinh Sắc. Hơn nữa, Phan Bội Châu đã quan tâm hơn đến chủ nghĩa xã hội và tư tưởng Các Mác, mặc dù theo ý kiến chung thì sự hiểu biết của ông về hệ tư tưởng Mác còn rất sơ sài.

Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Đông hai tháng sau khi Phan Bội Châu đi Hàng Châu vào tháng 9, nhưng rõ ràng là ông đã biết đến bài phát biểu của ông từ các thành viên của Tâm Tâm Xã. Theo các nguồn tin tình báo Pháp, Nguyễn Ái Quốc đến Thượng Hải vào tháng 1 năm 1925 để gặp Phan Bội Châu. Tuy nhiên, mật thám Pháp đã tường thuật rằng không có sự liên hệ nào giữa hai người vào thời điểm đó.

Cho đến lúc đó, Phan Bội Châu đã biết được lai lịch thật của Lý Thuỵ, vì vào khoảng tháng 2 hay tháng 3, ông đã viết thư cho Nguyễn Ái Quốc từ Hàng Châu, ca ngợi công việc của Nguyễn Ái Quốc và nhắc ông nhớ về cuộc gặp trước đó của họ ở làng Kim Liên hai thập kỷ trước đó. Phan Bội Châu cũng bày tỏ mong muốn cộng tác với người đồng hương trẻ và muốn đến Quảng Đông để gặp anh ta. Đáp lại, Nguyễn Ái Quốc đã cố gắng giải thích về sự cần thiết phải tổ chức lại đảng của Phan Bội Châu và nói về chiến lược của ông và học thuyết Lê-nin đằng sau chiến lược đó. Phan Bội Châu đã đồng ý hợp tác và cung cấp cho người thanh niên danh sách các thành viên trong tổ chức của mình.

Nhưng Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng nhận ra rằng Phan Bội Châu và nhiều đồng sự nhiều tuổi của ông không thể làm cơ sở cho phong trào cách mạng mới mà ông đã thấy trước. Ông nhanh chóng tập trung mọi sức lực để chuyển Tâm Tâm Xã thành một tổ chức cách mạng Mác-Lê-nin mới. Bước đầu tiên của ông là thành lập một hạt nhân gồm những môn đệ tận tâm thành một cộng sản Đoàn mới, hoạt động dưới danh nghĩa một tổ chức lớn hơn mà ông vừa thành lập. Trong số những thành viên sáng lập này là năm nhân vật chủ chốt của Quốc dân đảng Đông Dương, gồm có Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong và Hồ Tùng Mậu. Họ cùng lập một danh sách các cá nhân từ năm tỉnh khác nhau ở Đông Dương làm cơ sở cho một tổ chức cách mạng trong nước. Các đặc phái viên được cử từ Quảng Đông đến hộ tống họ sang  Trung Hoa để đào tạo các phương pháp tổ chức; sau đó, những người được tuyển dụng sẽ quay về các tỉnh nhà. Các thành viên nhiều hứa hẹn khác của phong trào sẽ được cử đến Mát-xcơ-va để được truyền bá học thuyết và thực tiễn cách mạng ở Trường Xta-lin. Nguyễn Ái Quốc cũng đã thực hiện các bước để thiết lập một cơ sở cách mạng ở Xiêm cũng như ở một số thành phố khác ở Nam Trung Hoa, nơi một trụ sở tạm thời có thể sẽ được đặt ở đó trong trường hợp các hoạt động ở Quảng Đông bị làm gián đoạn. Cuối cùng, ông có kế hoạch tuyển dụng các đảng viên trong số những thuỷ thủ Việt Nam phục vụ trên tàu dọc theo bờ biển Nam Trung Hoa để làm đầu mối liên lạc đáng tin cậy giữa các trụ sở và nhiều cơ sở đảng ở Đông Dương.

Sự xuất hiện đột ngột của người thanh niên lạ mặt đầy nhiệt huyết ở trụ sở của Quốc tế cộng sản đã gây sự chú ý của các nhà chức trách Pháp ở Quảng Đông và cả ở Đông Dương. Trung tuần tháng 2 năm 1925, theo các báo cáo thì người mới đến tự xưng là Lý Thuỵ đã liên lạc với các thành phần cấp tiến trong cộng đồng người Việt lưu vong ở Nam Trung Hoa dẫn đến việc các nhà chức trách Pháp ở Hà Nội và Quảng Đông lo lắng kêu gọi Bộ Thuộc địa làm rõ nơi ở hiện tại của Nguyễn Ái Quốc. Lúc đầu, Pa-ri báo là Nguyễn Ái Quốc vẫn đang ở Mát-xcơ-va, nhưng sau vài tuần các nhà chức trách Pháp bắt đầu nghi ngờ ông Lý Thuỵ đầy bí ẩn thực ra là Nguyễn Ái Quốc. Ở Quảng Đông, một sĩ quan cảnh sát người Pháp mới đến với tên hiệu là “Nô-en” đã thúc điệp viên của mình xác minh lai lịch của người lạ đó.

Điệp viên được việc nhất của Nô-en là đồng sự của Nguyễn Ái Quốc tên là Lâm Đức Thứ, người mà dù có phẩm chất yêu nước đã đồng ý làm người cung cấp tin tức cho Pháp. Với bí danh “Pi-nốt”, Thứ đã cung cấp cho Pháp thông tin hữu ích về các hoạt động của phong trào cách mạng Việt Nam cho đến cuối thập kỷ. Lúc đầu, Thứ tức giận khi phải cố sức thu thập thông tin để xác minh lai lịch của người mới đến. Ông cho biết là Lý Thuỵ rất thận trọng và từ chối không chụp ảnh. Nhưng ông đã chụp được ảnh của Lý Thuỵ cùng với một nhóm đông người trước trụ sở của Quốc dân đảng vào tháng 3. Từ bức ảnh đó, các điệp viên của Sở Mật thám khẳng định rằng Lý Thuỵ chính là Nguyễn Ái Quốc.

Cuối mùa xuân, nỗ lực của Nguyễn Ái Quốc nhằm thiết lập một tổ chức cách mạng hoạt động theo các nguyên tắc Mác-Lê-nin và với sự hướng dẫn của Quốc tế cộng sản đã tiến triển tốt đẹp. Theo một trong những thành viên chính nhớ lại, quyết định chính thức về việc thành lập một đảng cách mạng mới đã được đưa ra vào khoảng đầu tháng 6. Vài ngày sau đó, cuộc họp đầu tiên đã được tổ chức tại nhà của Lâm Đức Thứ ở trung tâm Quảng Đông. Các thành viên chủ chốt của Nhóm cộng sản của Nguyễn Ái Quốc cũng được tham gia với tư cách là các thành viên sáng lập. Mặc dù tên chính thức của tổ chức mới này vẫn còn chưa ngã ngũ, chẳng bao lâu sau nó được biết đến với cái tên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

Nguyễn Ái Quốc cũng bắt đầu xuất bản tờ báo Thanh Niên, để tuyên truyền tư tưởng của nhóm, một trường đào tạo đã được thành lập ở trung tâm Quảng Đông để tuyên truyền cho những người mới được tuyển. Nguyễn Ái Quốc vẫn áp dụng chiến thuật mà ông đã sử dụng thành công ở Pa-ri bằng cách thiết lập một liên minh rộng mở hơn gồm các nhà hoạt động cấp tiến từ một số nước thuộc địa và bán thuộc địa ở châu Á. Vào cuối tháng 6, ông đã phối hợp với nhân viên người Ấn Độ của Quốc tế cộng sản M.N.Roi và nhà lãnh đạo cánh tả Quốc dân đảng Li-ao Dông-cai thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức. Li-ao Dông-cai lãnh đạo tổ chức này và Nguyễn Ái Quốc làm tổng thư ký kiêm thủ quỹ. Hội bao gồm các thành viên từ Triều Tiên, Ấn Độ, Trung Hoa và Đông Ấn thuộc Hà Lan (nhiều người trong số đó đã bị cuốn hút bởi Quảng Đông, được biết đến với cái tên “Đông Mát-xcơ-va” do quan hệ giữa Tôn Dật Tiên với Quốc tế cộng sản), cũng như từ Đông Dương. Hội đã tổ chức cuộc họp đầu tiên ở Quảng Đông vào giữa tháng 7. Một tuyên bố được đưa ra nhân dịp đó lên án nghiêm khắc những hành động tàn ác của chủ nghĩa đế quốc và kêu gọi nhân dân bị áp bức ủng hộ phong trào cách mạng thế giới.

Trong thời gian ngắn lưu lại ở Quảng Đông, Nguyễn Ái Quốc chủ yếu dành thời gian cho hoạt động của hội. Hội được thành lập một cách khôn khéo để thể hiện những đánh giá của ông về tình hình đang nổi lên ở Đông Dương. Nhu cầu trước mắt là thu hút các trí thức yêu nước và các thành phần cách mạng dân tộc khác tham gia sự nghiệp chung để cung cấp những nhân vật chủ chốt cho việc thành lập một đảng cộng sản chính thức. Vì những lý do thực tiễn, cơ sở chính cho lời kêu gọi đó là cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc. Tuy nhiên, điều cần thiết là giành được sự ủng hộ của công nhân và nông dân bị áp bức, những người mà đối với họ độc lập dân tộc không thiết thực bằng cuộc đấu tranh cùng cực vì miếng cơm manh áo hằng ngày. Hội cũng cần đặt nền móng cho giai đoạn hai của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Những bài báo của tờ Thanh Niên, nhiều mục trong đó do chính Nguyễn Ái Quốc viết, đã cẩn thận đặt nền móng cho một tầm nhìn mới vượt qua vấn đề độc lập dân tộc và bao gồm cả mục tiêu cách mạng thế giới rộng lớn hơn.

Do đó, chương trình của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã tập trung vào hai trụ cột là chủ nghĩa dân tộc và cách mạng xã hội. Khi gắn kết hai vấn đề này, Nguyễn Ái Quốc trung thành với mô hình của Lê-nin mà trước đó đã được Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ hai thông qua năm 1920. Nhưng khi Lê-nin coi tình cảm dân tộc chủ yếu là một thủ đoạn mang tính chiến thuật để giành được sự ủng hộ của các thành phần theo chủ nghĩa dân tộc chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc thế giới, chương trình của Hội và nhiều bài viết trong tờ báo của Hội dường như coi trọng vấn đề chủ nghĩa dân tộc không kém, nếu không muốn nói là hơn so với vấn đề cách mạng thế giới.

Việc nhấn mạnh chủ nghĩa dân tộc trong chương của Hội, một đặc điểm sau này trở thành một phần không thể thiếu được của hình ảnh Nguyễn Ái Quốc với tư cách là một người yêu nước và một nhà cách mạng, là một trong các yếu tố mà qua thời gian, một số nhà quan sát đã đặt dấu hỏi về sự gắn bó của ông đối với ý thức hệ Mác-xít và cuộc đấu tranh để xây dựng xã hội cộng sản không tưởng. Thực ra, trong những năm 1920, nghi ngờ về sự trung thành của ông với học thuyết Mác-xít thậm chí đã xuất hiện ở Mát-xcơ-va và một số thành viên của chính tổ chức đảng của ông; như chúng ta thấy, vài năm sau, sự chỉ trích đó đã xuất hiện trên các ấn phẩm.

Có các lý do xác đáng để lập luận rằng Nguyễn Ái Quốc trước hết là một nhà yêu nước. Năm 1961, chính ông đã thừa nhận trong một bài báo ngắn “Con đường đưa tôi đến chủ nghĩa Lê-nin” rằng chính khát vọng giành độc lập cho Việt Nam trước tiên đã đưa ông đến với chủ nghĩa Mác. Và  trong khi người thầy của ông, Lê-nin dường như xem mối quan hệ giữa những người cộng sản và những người tư sản dân tộc như một thủ đoạ chiến thuật để tăng cường các đảng cộng sản ở các xã hội có giai cấp công nhân còn bé nhỏ thì Nguyễn Ái Quốc lại nhìn nhận vấn đề độc lập dân tộc như là mục tiêu cuối cùng và chế độ cộng sản không tưởng chỉ là một ý tưởng đến sau và có thể trì hoãn đến một tương lai vô định. Ông thường nói rằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam sẽ được tiến hành vào thời điểm thích hợp.

Tuy nhiên, cũng có các bằng chứng thuyết phục chứng tỏ rằng Nguyễn Ái Quốc thời trẻ nhìn nhận chủ nghĩa Mác-Lê-nin không chỉ là một công cụ để đánh đuổi người Pháp. Dù ông hiếm khi đề cập học thuyết Mác-xít trong các bài viết của mình, trong những năm ông ở Pa-ri và trong thời gian học tập sau này ở Mát-xcơ-va, ông luôn nói về tương lai của cách mạng thế giới với sự nhiệt thành ngày càng tăng rằng, theo suy nghĩ của ông, cách mạng thế giới nhất định sẽ chấm dứt hệ thống bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Ông cho rằng cuộc đấu tranh chống lại các lực lượng đế quốc ở châu Á sẽ lên đến đỉnh cao là một cuộc cách mạng toàn cầu. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn một phóng viên Xô-viết trước khi qua đời, Hồ Chí Minh thừa nhận rằng nhiệt tình cách mạng tuổi trẻ của ông có thể đã hơi thái quá và buồn bã nói rằng khi sống ở Liên Xô, ông đã mắng mỏ một phụ nữ trẻ vì đã mặc váy lụa dài và đi giày cao gót. Ông nhớ lại rằng cô này đã đáp lại đầy phẫn uất rằng tự tay cô đã làm tất cả những thứ đó. Cô hỏi: “Giới trẻ ngày nay có cơ hội để ăn ngon mặc đẹp có phải là điều tồi tệ không?”. Nhiều thập kỷ sau, lời nói của cô vẫn còn đọng lại trong tâm trí ông.

Nếu nói hồi đó ông vừa là người dân tộc chủ nghĩa, vừa là nhà Mác-xít là đúng thì làm thế nào ông có thể kết hợp hài hoà giữa chủ nghĩa yêu nước và những đòi hỏi của chủ nghĩa Mác-xít quốc tế? Câu trả lời có thể tìm thấy ở Lê-nin. Khi định nghĩa về khái niệm cuộc cách mạng hai giai đoạn trong “Luận cương về các vấn đề Dân tộc và Thuộc địa” của mình, Lê-nin đã đưa ra khái niệm một “liên bang” đóng vai trò như một giai đoạn chuyển tiếp giữa độc lập dân tộc và giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản, khi có sự “thống nhất hoàn toàn của nhân dân lao động thuộc các quốc gia khác nhau”. Lê-nin xem các liên bang được lập ra vào đầu những năm 1920 giữa nước Nga cách mạng và Phần Lan, Hung-ga-ri và Lát-vi-a, giữa A-déc-bai-dan và Ác-mê-ni-a như là các mô hình có thể cho các nước liên kết các quốc gia độc lập và “các liên minh liên bang” như các thí dụ làm thế nào các liên minh có thể được thiết lập trong giai đoạn quá độ chuyển sang chủ nghĩa cộng sản toàn cầu trong một tương lai lâu dài. Nguyễn Ái Quốc rõ ràng là đã tiếp thụ được các học thuyết đó khi ông sống tại Liên Xô năm 1923-1924, và ông đã đề cập khái niệm này trong một bức thư gửi Ban Chấp hành Quốc tế cộng sản III vào tháng 5 năm 1934 khi ông cố gắng biện minh cho đề xuất tuyển thêm các nhà cách mạng châu Á vào Trường Xta-lin như là một bước tạo “nền tảng mà trên đó Liên bang cộng sản của phương Đông có thể được xây dựng”.

Lần thứ hai Nguyễn Ái Quốc đề cập vấn đề một liên bang quá độ là trong một văn bản được phát hiện mới đây trong kho lưu trữ của Mát-xcơ-va. Trong khi tác giả chỉ được nêu là “Nguyễn” thì gần như chắc chắn là tài liệu này được Nguyễn Ái Quốc viết vào khoảng thời gian năm 1924. Trong báo cáo, “Nguyễn” bàn về ý tưởng một đảng cộng sản Việt Nam tương lai và tuyên bố rằng, với tầm quan trọng của vấn đề quốc gia tại đó, điều tối quan trọng là phải “giương cao ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc bản địa dưới danh nghĩa Quốc tế Cộng sản III”. Theo như nhận xét của một người quan sát tư sản thì đây là một “nghịch lý táo bạo”, nhưng lại là một “thực tế tuyệt vời”. Ông lập luận rằng hiện tại, không thể nào giúp nhân dân Việt Nam mà lại không tôn trọng thực tế cơ bản về tình hình xã hội đặc trưng của họ. Ông tiên đoán rằng vào thời điểm cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của họ thắng lợi “phần lớn thế giới đã được Xô-viết hoá, và như vậy, chủ nghĩa quốc gia tất yếu sẽ trở thành chủ nghĩa quốc tế”.

Sau khi đến Quảng Đông, Nguyễn Ái Quốc một lần nữa đề cập khái niệm này trong một dự thảo Cương lĩnh cho tương lai của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được viết vào tháng 2 năm 1925. Bản thảo hứa hẹn dành cho tất cả những ai muốn gia nhập tổ chức mới: thứ nhất, tham gia cuộc đấu tranh lật đổ chủ nghĩa đế quốc và tái thiết lập độc lập dân tộc, sau đó chuyển sự chú ý sang cuộc đấu tranh xoá bỏ phân biệt giai cấp và tham gia cách mạng thế giới, “mục tiêu cuối cùng của cuộc đấu tranh của chúng ta”. Lời cam kết xuất hiện trong chương trình của Hội và cuối cùng được đưa ra vào tháng 6 và được đề cập trong một bài báo phát hành tháng 7 trên tờ Thanh Niên: “Sau cuộc cách mạng chính trị và xã hội vẫn còn có những dân tộc bị áp bức. Vẫn còn có sự khác biệt giữa các quốc gia. Khi đó điều cần thiết là phải có một cuộc cách mạng thế giới. Sau đó, các dân tộc ở khắp bốn phương trên trái đất sẽ là bè bạn của nhau. Đó sẽ là kỷ nguyên của tình anh em trên toàn thế giới”

Tại sao Nguyễn Ái Quốc lại tin rằng cần phải có cuộc cách mạng thế giới? Tại sao một cách tiếp cận phi bạo lực để giành độc lập dân tộc lại không đủ? Suy nghĩ của ông về các vấn đề này thường không xuất hiện trên các ấn phẩm, nhưng một bức thư ông viết từ Quảng Đông cho Nguyễn Thượng Huyền, một học trò của Phan Bội Châu đang sống cùng với nhà yêu nước lớn tuổi này ở Hàng Châu đã cho thấy một số điểm  thú vị về những quan điểm của ông. Ông Huyền là cháu của Nguyễn Thượng Hiền, một học giả yêu nước, từng là hiệu trưởng của Trường Đông kinh Nghĩa thục Hà Nội. Mùa xuân năm 1925, ông Huyền đã gửi cho ông Nguyễn Ái Quốc một bản sao bài báo về cách mạng mà ông vừa viết dự định sẽ cho xuất bản và hỏi ý kiến của ông Nguyễn. Trong bài viết, đó ông Huyền lấy nguồn gốc của khái niệm cách mạng từ cuốn sách Trung Hoa cổ Kinh Dịch trong đó nói rằng cách mạng tương đương với thay đổi triều đại. Sau đó, ông kết luận rằng cuộc đấu tranh chống lại chế độ thuộc địa đã thất bại bởi sự tàn bạo của người Pháp và rằng cách tốt nhất để giành độc lập là bằng các chiến thuật phi bạo lực tương tự phong trào tẩy chay mà Ma-hát-ma Gan-di phát động ở Ấn Độ thuộc Anh.

Trong thư trả lời, Nguyễn Ái Quốc nêu lên sự hoài nghi về nguồn gốc Trung Hoa của khái niệm này (Nguyễn Ái Quốc cho rằng cách mạng có nguồn gốc văn hoá phương Tây) và đưa ra định nghĩa riêng của mình, trong đó đối lập cách mạng với cải cách. Cải cách, theo như Nguyễn Ái Quốc, liên quan đến những thay đổi về thể chế của một nước cụ thể nào đó. Cho dù cải cách có hay không đi kèm bạo lực thì một số trật tự cũ vẫn luôn tồn tại. Thay đổi triều đại, mặt khác hoàn toàn xoá bỏ một hệ thống và thay bằng một hệ thống khác. Vì vậy, thay đổi triều đại không tương đương với cách mạng, vì những người chiến thắng vẫn giữ lại hệ thống quân chủ. Đối với trường hợp của Gan-di, Nguyễn Ái Quốc nói thêm, vị lãnh đạo tinh thần của Ấn Độ rõ ràng là một người cải cách hơn là nhà cách mạng, vì ông chỉ đòi hỏi người Anh cải cách các thể chế của Ấn Độ mà không kêu gọi người Ấn Độ nổi dậy giành độc lập, và ông cũng không đòi hỏi người Anh tiến hành các thay đổi toàn diện trong chính phủ Ấn Độ. Nguyễn Ái Quốc nhận xét rằng chỉ sau khi Anh từ chối các yêu sách của mình, Gan-di mới kêu gọi tẩy chay.

Đối với nhận xét của ông Huyền rằng cách mạng đã thất bại ở Việt Nam vì sự tàn ác của người Pháp, Nguyễn Ái Quốc đáp lại với đôi chút bực bội: “Anh trông đợi điều gì? Anh nghĩ rằng họ sẽ cho chúng ta tự do muốn làm gì thì làm, để chúng ta làm mọi cách để đuổi họ đi ư? Anh nghĩ rằng họ sẽ khoanh tay ngồi nhìn chúng ta tấn công vào lợi ích của chính họ ư? Thay vì trách cứ người khác, tôi cho rằng tốt hơn hết là tự trách mình. Chúng ta phải tự hỏi rằng “Tại sao người Pháp lại có thể đàn áp chúng ta? Tại sao nhân dân chúng ta lại ngu muội như vậy? Tại sao cách mạng của chúng ta chưa thành công? Bây giờ chúng ta phải làm gì?” Anh so sánh chúng ta với những kinh nghiệm thành công của Ai Cập và Ấn Độ, nhưng họ thì giống như cái ô tô có bánh xe và lái xe, còn chúng ta chỉ như cái khung gầm xe. Ấn Độ và Ai Cập có các đảng chính trị, có các đảng viên, các nhóm nghiên cứu, các hội nông dân. Và tất cả họ đều biết phải yêu nước như thế nào. Gan-di đã thực hiện chính sách tẩy chay, liệu chúng ta có làm được như vậy không? Các đảng của chúng ta đâu? Chúng ta chưa có đảng, không có tuyên truyền, không có tổ chức và anh vẫn muốn chúng ta sẽ tẩy chay người Pháp”.

Nguyễn Ái Quốc kết luận bằng một câu cách ngôn của La Phông-ten về những con chuột không dám gắn chuông vào con mèo để được báo động trước khi bị tấn công. Thế còn những người con của Rồng (tức là người Việt Nam), ông nêu câu hỏi: “Chúng ta mà lại như chuột à? Thật là nhục nhã”.

Tại Hàng Châu, Phan Bội Châu đã quan tâm chút ít đến sự xuất hiện của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Nguyễn Ái Quốc đã hứa sẽ giúp nhà yêu nước cao tuổi theo kịp các nhà hoạt động của mình, và họ đã nhất trí rằng Phan Bội Châu sẽ dàn xếp một chuyến đi đến Quảng Đông trong mùa hề năm 1925. Trong bức thư gửi Nguyễn Ái Quốc đầu năm đó, Phan Bội Châu đã ca ngợi sự sáng suốt và bề dày kinh nghiệm của người thanh niên này và tuyên bố rằng ông vui mừng khi biết có ai đó sẽ làm tiếp công việc của ông khi ông đã cao tuổi và trở nên lạc hậu. Tuy nhiên, Phan Bội Châu cũng nói rõ rằng ông muốn tham gia phong trào; trong một lá thư khác gửi Hồ Tùng Mậu, một trong các đồng sự của Nguyễn Ái Quốc, ông đã ngầm chỉ trích Nguyễn Ái Quốc bằng việc cảnh cáo những người yêu nước trẻ tuổi này không nên đi quá nhanh.

Thậm chí trước khi Phan Bội Châu có thể thực hiện các kế hoạch đi đến Quảng Đông, ông đã phàn nàn rằng Nguyễn Ái Quốc đang phớt lờ mình. Vào giữa tháng 5, Phan Bội Châu rời Hàng Châu đi Thượng Hải bằng tàu hoả, nhưng giới chức Pháp ở Trung Hoa đã được một mật thám là chính tuỳ tùng của ông thông báo về kế hoạch này. Khi tới nhà ga Thượng Hải, là tô giới quốc tế của thành phố, Phan Bội Châu đã bị các nhân viên an ninh cải trang thành lái tắc-xi của Pháp bắt và đưa về Hà Nội để xét xử với tội danh phản quốc.

Câu chuyện này đã gây tranh cãi kéo dài nhất trong lịch sử rối rắm của phong trào dân tộc chủ nghĩa Việt Nam. Ngay từ đầu, nhiều đảng viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã nghi ngờ rằng người phản bội Phan Bội Châu thông báo cho người Pháp là Nguyễn Thượng Huyền, thư ký riêng của ông. Bản thân Phan Bội Châu cũng viết tương tự trong hồi ký của mình. Tuy nhiên, một số nguồn tin dân tộc chủ nghĩa phi cộng sản lại cho rằng thủ phạm chính là người cộng sự gần gũi của Nguyễn Ái Quốc, ông Lâm Đức Thứ, hoặc thậm chí chính Nguyễn Ái Quốc đồng loã với ông Thứ cố tình phản bội Phan Bội Châu để giành tiền thưởng và tạo ra một vật hy sinh cho sự nghiệp dân tộc chủ nghĩa. Lời cáo buộc này cũng được một số cây viết phương Tây nhắc lại, dù không có bằng chứng cụ thể nào để khẳng định. Các nguồn tin cộng sản luôn luôn phủ nhận lời cáo buộc này, nhắc lại rằng âm mưu phản bội Phan Bội Châu là của Nguyễn Thượng Huyền, người cuối cùng đã rời bỏ phong trào cách mạng để làm việc cho Pháp.

Cuộc tranh cãi diễn ra chủ yếu là theo hướng ý thức hệ. Bằng chứng từ kho lưu trữ của Pháp không đưa ra kết luận dứt khoát, nhưng dường như cho rằng Nguyễn Ái Quốc không chịu trách nhiệm về vụ này. Cũng có những khả năng để buộc tội rằng Lâm Đức Thứ là chỉ điểm, vì khi là thành viên của Hội, ông đã là chỉ điểm rồi, và có tin rằng ông đã nhận trách nhiệm về hành động đó trong những năm về sau. Nhưng giả thuyết đó có thể không có cơ sở; một báo cáo của mật vụ viết tại thời điểm đó khẳng định rằng có một chỉ điểm Pháp – có thể, nhưng không chắc chắn là Nguyễn Thượng Huyền – đã sống với gia đình Hồ Hắc Lâm ở Hàng Châu. Ông ta có thể có các thông tin tốt hơn về phong trào của Phan Bội Châu và có thể cung cấp các thông tin đó cho người Pháp. Ông Thứ được nhiều người biết đến như một kẻ khoác lác và có thể đã nhận có dính líu đến vụ bắt giữ này để khuếch trương tầm quan trọng của bản thân. Rất có khả năng là ông Huyền đã phản bội Phan Bội Châu.

Trong tình huống nào đi nữa, khó có khả năng là Nguyễn Ái Quốc được lợi gì khi Phan Bội Châu bị Pháp bắt. Điều này không có nghĩa là phủ nhận khả năng ông có thể phản bội nhà yêu nước cao tuổi này nếu ông tin rằng điều đó phục vụ lợi ích cách mạng. Giá trị của Phan Bội Châu rõ ràng đã bị hạn chế bởi tuổi tác, thiếu tinh tế chính trị và thái độ miễn cưỡng tán thành cách tiếp cận bạo lực. Vào năm 1925, ông rõ ràng là có giá trị như một biểu tượng của chủ nghĩa dân tộc hơn là một người thực sự tham gia phong trào kháng chiến và sự căm thù dấy lên ở Việt Nam do việc ông bị bắt và bị kết án có thể là hành động tuyên truyền nào đó cho sự nghiệp cách mạng. Mặt khác, Hội cũng không chú trọng lắm đến tuyên truyền việc Phan Bội Châu bị bắt mà vẫn tiếp tục tập trung sự chú ý vào sự hy sinh anh dũng của Phạm Hồng Thái, cái chết của ông đã là phương tiện thúc đẩy chính cho việc giáo dục người mới tuyển ở Quảng Đông.

Liệu nhu cầu tài chính có thể là động cơ Nguyễn Ái Quốc trao Phan Bội Châu cho Pháp như một số người lập luận? Không thể bị phủ nhận hoàn toàn lời cáo buộc này bởi vì Nguyễn Ái Quốc chỉ có được nguồn tài trợ hạn hẹp của đảng Cộng sản Trung Quốc và đôi khi buộc phải dùng nguồn tài chính riêng để tiến hành các hoạt động của mình. Nhưng mặt khác, Nguyễn Ái Quốc chưa chắc đã dám mạo hiểm làm việc đó vì có thể chính người Pháp lại công khai tiết lộ âm mưu này và làm mất uy tín của Hội và ngưòi lãnh đạo bí mật của Hội. Xét cho cùng, ông chắc phải nhận thấy rằng việc Phan Bội Châu tự do sẽ có lợi hơn vì ông có thể đóng vai trò người đứng đầu không có thực quyền, một người đứng ở phía trước để kiểm soát trong một mặt trận thống nhất do những người cộng sản chiếm đa số. Điều đáng nói là trong các phát biểu đưa ra trong thời gian sống lưu vong cho đến cuối đời, Phan Bội Châu tiếp tục đánh giá cao Nguyễn Ái Quốc và không bao giờ nói công khai rằng ông có thể buộc trách nhiệm về việc mình bị bắt giữ ở Thượng Hải cho người đồng sự trẻ tuổi hơn này.

Phiên toà xử Phan Bội Châu được mở ở Hà Nội trước Uỷ ban Hình sự Hà Nội ngày 23 tháng 11 năm 1925. Bên bị được hai luật sư giúp đỡ, nhưng mặc dù có sự có mặt của một đám đông lớn biểu tình ủng hộ Phan Bội Châu – khi bên nguyên yêu cầu tử hình, một ông già thậm chí còn yêu cầu chết thay cho ông – ông  phải nhận bản án chung thân khổ sai. Năm đó Phan Bội Châu 58 tuổi. Ngày hôm sau, biểu tình diễn ra trên toàn quốc và sinh viên ở Hà Nội in truyền đơn rải trên các đường phố. Vài ngày sau, một Toàn quyền mới đến Hà Nội. Là một đảng viên đảng Xã hội và là người chỉ trích chính sách thuộc địa của Pháp, ông A-lếch-xan-đơ Va-ren không hề mong muốn bắt đầu nhiệm kỳ của mình với một vụ tai tiếng như thế, và sau khi gửi một bức điện về Pháp để xin phép, tháng 12, ông giảm án cho Phan Bội Châu thành quản thúc tại nhà ở Huế.

Trước khi giảm án, Va-ren tìm cách dụ dỗ kẻ nổi loạn cao tuổi này hợp tác với chế độ thuộc địa. Ban đầu, Phan Bội Châu từ chối, nhưng sau này, ông dịu dần và mặc dù vẫn có quan hệ thường xuyên với các thành viên của phong trào dân tộc chủ nghĩa, thỉnh thoảng ông lại đưa ra các bài phát biểu trước sinh viên của trường Quốc học Huế, Phan Bội Châu ca ngợi chất lượng giáo dục cao của Pháp tại Đông Dương. Những bài phát biểu như vậy làm dấy lên sự giận dữ trong phong trào dân tộc chủ nghĩa và khiến Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Đông bình luận rằng đó là những “lời chẳng có nghĩa lý gì”. Theo thông tin của một chỉ điểm của Pháp, một số người dân tộc chủ nghĩa còn có cuộc tranh luận xem liệu có nên có hành động bạo lực chống lại ông không. Phan Bội Châu chết năm 1940.

Trong khi việc xét xử Phan Bội Châu đang được tiến hành, nhà cải cách cao tuổi Phan Châu Trinh trở về Đông Dương sau hơn một thập kỷ ở nước ngoài. Việc ông về đến Sài Gòn khiến cho dân chúng phấn khởi và các bài phát biểu của ông trong vài tháng sau đó với nội dung ủng hộ một chính sách cải cách phi bạo lực đã thu hút được nhiều sự quan tâm. Khi ông chết vì bệnh ung thư ở tuổi 53, đám tang của ông đã trở thành dịp để dân chúng toàn quốc biểu lộ sự thương tiếc; hàng ngàn người xếp hàng trên các đường phố để nhìn quan tài của ông được đưa từ Sài Gòn tới khu nghĩa trang ở gần sân bay Tân Sơn Nhất, ngoại vi phía bắc của thành phố. Nguyễn Ái Quốc rõ ràng không tán thành những hành động đông đảo như vậy với lý do là nó làm phân tán sự chú ý của công chúng vào những vấn đề quan trong hơn. Theo một báo cáo của mật vụ, khi ông nghe báo cáo về biểu tình xung quanh đám tang của Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét rằng có thể chúng đã được báo chí Pháp thổi phồng lên để làm bẽ mặt Toàn quyền Va-ren, người tìm cách làm cho chính sách thuộc địa của Pháp ở Đông Dương trở nên nhân đạo hơn.

Qua các nỗ lực của Nguyễn Ái Quốc, các đồng nghiệp gần gũi của ông ở trong Nhóm cộng sản Đông Dương đã dần dần được tiếp thụ các ý tưởng của chủ nghĩa Mác-Lê-nin. Đồng thời, dòng người Việt Nam yêu nước liên tục được tuyển mộ và đưa sang Quảng Đông, nơi họ được đào tạo và giáo dục tại trường đào tạo có cái tên rất ấn tượng là Viện Chính trị đặc biệt cho Cách mạng Việt Nam. Viện này lúc đầu đặt ở phố Reng-xing. Khi trở nên quá chật chội, trường được chuyển sang một toà nhà ba tầng lớn hơn của những chủ nhân có cảm tình với cộng sản ở phố Oen Minh, qua trường Đại học Quảng Đông (bây giờ là bảo tàng Lỗ Tấn) và gần với đại bản doanh của đảng Cộng sản Trung Quốc. Trường xây theo kiểu Trung Hoa, tầng một dành làm cửa hàng. Các lớp học được tổ chức ở tầng hai trong một phòng học lớn có số ghế tựa, một chiếc bàn và có ảnh của các bậc tiền bối cộng sản treo trên tường. Sau lớp học là một văn phòng nhỏ và một chiếc giường dành cho Nguyễn Ái Quốc. Tầng ba là chỗ ngủ cho học viên. Có một cửa ẩn dẫn ra một lối đi bí mật trong trường hợp bị cảnh sát tấn công. Bếp nằm ở mảnh vườn phía sau nhà.

Hầu hết các giáo viên Việt Nam ở trường như Hồ Tùng Mậu hay bản thân Nguyễn Ái Quốc đều là đảng viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nhưng đôi khi cũng có những giảng viên mời từ đảng cộng sản Liên Xô như Va-xi-lin Blu-chơ (Galen) P.A. Páp-lốp, M.V.Cu-bai-sốp và V.M.Pri-ma-cốp hoặc từ phía đảng Cộng sản Trung Quốc, các nhà lãnh đạo tương lai như Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và Li Fuqun cũng như nhà tổ chức nông thôn Peng Pai. Một phần ba chi phí của lớp học là do đảng Cộng sản Trung Quốc chịu, phần còn lại được tài trợ từ các tổ chức địa phương hoặc từ nguồn quyên góp của học viên Việt Nam của Học viện Quân sự Hoàng Phố từ học bổng hằng tháng của họ. Chương trình của học viện được mô phỏng khá giống với các viện đào tạo ở Liên Xô, với các lớp học có các môn như sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản, tư tưởng Mác-Lê-nin, tổ chức của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và tình hình thế giới hiện tại. Để giúp làm quen với các điều kiện địa phương, cũng có các khoá học về tư tưởng của Tôn Dật Tiên (điều mà Nguyễn Ái Quốc cho là một dạng chủ nghĩa xã hội sơ khai) và tiếng Trung Hoa. Một trong những khoá học do Nguyễn Ái Quốc dạy là về khái niệm Lê-nin về mặt trận thống nhất.

Theo trí nhớ củ nhiều học viên, Nguyễn Ái Quốc, người giảng dạy dưới biệt hiệu là Vương, là giáo viên được ưa chuộng nhất ở trường. Họ nhớ ông là người mảnh dẻ, mắt sáng và giọng nói ấm áp, thánh thiện và hài hước mặc dù ông ít khi cười. Ông Vương rất dễ gần và kiên nhẫn với học viên. Ông giảng giải các từ khó và đưa ra những giải thích rất chi tiết về những khái niệm khó. Ông đọc nhiều, và là cuốn từ điển sống về các con số thống kê. Một trong các học viên nhớ lại “với việc thuộc làu làu ngày tháng và các con số, ông có thể nói cho chúng tôi về số tấn gạo mà thực dân Pháp đã cướp đoạt để gửi về mẫu quốc, về lãi ròng lớn của Ngân hàng Đông Dương, về các thùng đồ cổ quý từ các cuộc khai quật khảo cổ mà Toàn quyền Va-ren đã chất lên tàu đưa về Pháp”.

Như ở Pa-ri, Nguyễn Ái Quốc không những chỉ là giảng viên mà còn là cố vấn tinh thần, một phụ huynh và là cổ động viên tại chỗ. Ông dạy về cách ăn nói và hành vi sao cho chính trực (để phục vụ sự nghiệp cách mạng), về cách nói trước công chúng, cách phát biểu trước đám đông công nhân, nông dân, trẻ em và phụ nữ , cách nhấn mạnh sự nghiệp dân tộc và nhu cầu có cách mạng xã hội, cách đối xử không kẻ cả với những người nghèo và mù chữ. Ông rất chăm lo xem xét các điều kiện sống và ăn uống của họ để bảo đảm rằng họ khoẻ mạnh và được chăm sóc tốt; khi họ buồn và chán, ông động viên họ. Một cựu học viên nhớ lại về tính lạc quan cao độ của ông. Khi các sinh viên tỏ ra thất vọng vì sự tham nhũng đê tiện của các quan chức Việt Nam và sự thiếu quan tâm, phớt lờ đối với dân cư ở các làng, ông đáp: “Chính những vật cản trở và sự đồi bại của xã hội này khiến cho việc làm cách mạng trở nên cần thiết. Một nhà cách mạng trước hết phải lạc quan và tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng”.

Sau khi kết thúc chương trình đào tạo, kéo dài từ ba đến bốn tháng, các học viên thường đi cùng Nguyễn Ái Quốc trong một chuyến thăm có tính nghi thức tới mộ của bảy mươi hai liệt sĩ cách mạng Trung Hoa ở đồi Hoàng Hoa, ngoại vi Quảng Đông và mộ của người liệt sĩ yêu nước Phạm Hồng Thái, họ đọc lại những lời thề có tính nghi lễ là phụng sự cho sự nghiệp cách mạng. Sau đó, hầu hết trong số họ trở về Việt Nam. Một số học viên tài năng hơn như Lê Hồng Phong, đảng viên của Tâm Tâm Xã được gửi đi Mát-xcơ-va để đào tạo thêm. Một số khác lại làm việc cho cảnh sát Trung Hoa hoặc các lực lượng vũ trang hoặc được đưa vào làm cho Học viện Quân sự Hoàng Phố nổi tiếng do Quốc dân đảng điều hành với sự giúp đỡ của Quốc tế cộng sản III. Nguyễn Lương Bằng, một thành viên xuất thân từ một gia đình nông dân, được chỉ thị tìm việc làm tại một hãng tàu biển hơi nước để thiết lập mạng lưới liên lạc giữa Hồng Công và cảng Hải Phòng của Việt Nam. Đến mùa xuân năm 1927, hơn 70 học viên đã theo học tại trường.

Khi trở về Việt Nam, số học viên tốt nghiệp từ Học viện tìm cách quảng bá cho học thuyết cách mạng trong số bạn bè và người quen và tuyển những người mới để gửi đi Quảng Đông. Vì hầu hết các học viên tốt nghiệp này xuất thân từ tầng lớp trí thức, điều tất yếu là những người đầu tiên mà họ tuyển cũng có xuất xứ tương tự. Các nguồn tin tình báo Pháp ước tính rằng khoảng 90 phần trăm số học viên thuộc tầng lớp trí thức tiểu tư sản, số còn lại là công nhân hoặc nông dân. Họ từ khắp mọi miền của đất nước, nhưng có một số lớn là từ quê của Nguyễn Ái Quốc, Nghệ An và các nơi khác thuộc miền Trung Việt Nam. Đến năm 1928, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã có khoảng 300 đảng viên ở Đông Dương, 150 người từ Nam Bộ (chủ yếu là Sài Gòn và các thị xã của các tỉnh châu thổ là Mỹ Tho và Cần Thơ), 80 ở Trung Kỳ (đặc biệt là Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Ngãi) và 70 ở Bắc Kỳ (Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng). Một năm sau, số đảng viên đã tăng lên 1.700 người.

Với việc thành lập Hội, Nguyễn Ái Quốc đã có bước đi đầu tiên hướng tới cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Rõ ràng, đó là một bước đi nhỏ và thận trọng, nhưng là một sự khỏi đầu càn thiết. Như ông đã viết vài năm trước đó: “Nói rằng một khu vực (thí dụ Đông Dương) với hơn hai mươi triệu dân bị bóc lột đã sẵn sàng cho một cuộc cách mạng là sai. Nhưng nói rằng khu vực đó không muốn có một cuộc cách mạng và bằng lòng với chế độ lại càng sai hơn.”

Nguyễn Ái Quốc đã có đủ kinh nghiệm để nhận ra rằng tuyên truyền đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng  một phong trào phôi thai. Tờ báo Thanh Niên đã giúp quảng bá thông điệp của ông. Được in tại Quảng Đông, tờ tuần báo này được gửi bằng đường biển vào Việt Nam. Tổng số 208 số đã được phát hành trong thời gian từ 21 tháng 6 năm 1925 đến tháng 5 năm 1930. Tạp chí được viết với văn phong giản dị quên thuộc của ông và được minh hoạ thêm bằng các khẩu hiệu và tranh biếm hoạ chế nhạo chế độ thuộc địa của Pháp và triều đình Huế yếu hèn. Cũng như tờ Người cùng khổ, Nguyễn Ái Quốc viết rất nhiều các bài xã luận dù khong ký tên mình. Hội cũng xuất bản hai tạp chí khác, tờ bán nguyệt san Lính Kách Mệnh và tờ nguyệt san Việt Nam Tiền Phong.

Phù hợp với các mục tiêu đã tuyên bố của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh Niên, tờ Thanh niên chủ yếu nhấn mạnh vấn đề độc lập dân tộc. Nhưng một số bài báo cũng đề cập chung chung đến vấn đề toàn cầu do chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản gây ra, nói một cách gián tiếp rằng chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới đem lại sự giải phóng và hạnh phúc xã hội. Trong một số báo, Nguyễn Ái Quốc chỉ ra rằng cách mạng là phương thuốc duy nhất cho căn bệnh của nước ông: “Cách mạng là sự thay đổi từ xấu sang tốt; nó là tổng thể của mọi hành động và qua đó một dân tộc bị áp bức trở nên mạnh  mẽ. Lịch sử của mọi xã hội đã dạy chúng ta rằng chỉ có cách mạng mới có thể đem lại một hình thức chính phủ, giáo dục, công nghiệp và tổ chức xã hội tốt hơn, v.v”. Chỉ có một số phát hành đầu mùa hè năm 1926 nói một cách công khai về chủ nghĩa cộng sản như là một giải pháp cho các vấn đề đang gây đau khổ cho các dân tộc Đông Dương.

Đối với các học viên dự khoá đào tạo, ông làm việc một cách nghiêm túc hơn. Hồi đó, gần như không có bất kỳ tài liệu gì về chủ nghĩa Mác-Lê-nin bằng tiếng Việt. Mặc dù Nguyễn Ái Quốc thường xuyên kêu gọi giúp đỡ nhưng ông nhận được rất ít tài liệu tuyên truyền từ Mát-xcơ-va. Để lấp vào chỗ trống đó, ông viết những tài liệu cơ bản sử dụng cho khoá học tại học viện đề cập các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Quyển sách mỏng nhan đề Đường Kách Mệnh giới thiệu khái quát chủ nghĩa Mác-Lê-nin và giải thích tính phù hợp của nó với Việt Nam. Mặc dù hầu hết các bản sao được các học viên trong lớp sử dụng, một số ít bản được đưa về Việt Nam cùng với tờ Thanh Niên.

Trong cuốn sách, thông điệp của Nguyễn Ái Quốc rất đơn giản. Vì các học viên thiếu sự tinh nhanh và không quen với các thuật ngữ phương Tây (từ Kách mệnh tiếng Việt chỉ xuất hiện vào đầu thế kỷ 20, tương đương với từ “revolution” trong tiếng Anh và “ge min” trong tiếng Hán, theo nghĩa đen là “thay đổi sứ mệnh”), điều không lấy gì làm ngạc nhiên là ông bắt đầu cuốn sách với một định nghĩa ngắn gọn về cách mạng. Ông nói, cách mạng là xoá bỏ cái cũ và xây dựng cái mới, hoặc xoá bỏ cái xấu để xây dựng cái tốt.

Sau đó, tác giả giải thích một cách ngắn gọn về các hình thức cách mạng. Theo ông, có ba loại hình cách mạng trên thế giới:

  1. Cách mạng tư bản chủ nghĩa, như trường hợp nổi dậy ở Pháp, Nhật Bản và Mỹ.
  2. Cách mạng dân tộc chủ nghĩa, như cuộc cách mạng hồi thế kỷ 19 ở I-ta-li-a và cuộc cách mạng năm 1911 ở Trung Hoa.
  3. Cách mạng giai cấp, như cuộc cách mạng Bôn-sê-vích ở Nga.

Tất cả các cuộc cách mạng đó, ông giải thích tiếp, cuối cùng sẽ xảy ra theo hai giai đoạn riêng biệt, giai đoạn đầu tiên là “cách mạng dân tộc chủ nghĩa” và giai đoạn thứ hai là “cách mạng thế giới”, khi công nhân và nông dân trên toàn thế giới đoàn kết để lật đổ trật tự của chủ nghĩa tư bản và đem lại hạnh phúc và sự đoàn kết cho nhân dân của mọi dân tộc.

Ý tưởng về một cuộc cách mạng hai giai đoạn đương nhiên là hoàn toàn của Lê-nin, nhưng Nguyễn Ái Quốc đã tự thêm vào một số sắc thái. Thứ nhất, mặc dù ông đã thận trọng khi viết rằng giai đoạn dân tộc chủ nghĩa của cách mạng thế giới sẽ được tiếp nối bởi một giai đoạn chủ nghĩa xã hội để đem lại hạnh phúc xã hội và đoàn kết toàn cầu, Nguyễn Ái Quốc không nói cụ thể khi nào thì giai đoạn thứ hai sẽ xảy ra, và nói gián tiếp rằng ở Việt Nam, điều đó sẽ không xảy ra cho đến khi toàn bộ thế giới đã sẵn sàng chuyển từ dân tộc chủ nghĩa sang giai đoạn cuối cùng chủ chủ nghĩa quốc tế. Điều này có thể phản ánh niềm tin của ông lúc đó rằng giai đoạn thứ hia sẽ không xảy ra ở Việt Nam cho đến khi đa số các nước trên thế giới đã trải qua các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của chính mình. Khi đưa ra khái niệm hai giai đoạn, Lê-nin đã cho rằng giai đoạn đầu tiên sẽ nhanh chóng chuyển sang giai đoạn hai, như đã xảy ra ở nước Nga Xô-viết.

Thứ hai, như chúng ta thấy, Nguyễn Ái Quốc đề cao giá trị độc lập dân tộc trong tiến trình cách mạng hơn Lê-nin, giải thích điều đó như là một kết quả đáng mong muốn của sự liên kết giữa các giai cấp trong xã hội Việt Nam. Ông dự đoán rằng các cuộc đấu tranh tương tự nhằm giải phóng dân tộc cuối cùng sẽ nổ ra ở các nơi khác ở châu Á. Những giai cấp nào sẽ lãnh đạo cách mạng ở Việt Nam? Tất nhiên, đó là một trong các vấn đề mấu chốt trong cuộc tranh luận về chiến lược của Quốc tế cộng sản III. Lê-nin đã lấy chiến lược của mình dựa trên khái niệm về liên minh bốn giai cấp, với nòng cốt là liên minh công nông. Trong cuốn Đường Kách Mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra liên minh công-nông (những người làm việc nặng nhọc nhưng không nhận được thành quả lao động của họ) như là kẻ thù chính của những người tư bản (những người không làm việc nhưng lại nhận được tất cả lợi nhuận). Nhưng ông cũng lấy ý tưởng của Lê-nin về một mặt trận thống nhất đa giai cấp của các giai cấp tiến bộ để đi đến giai đoạn hai của cách mạng. Liên minh này có thể bao gồm sinh viên, tiểu thương, và thậm chí cả địa chủ nhỏ. Tuy nhiên, các nhóm như vậy sẽ không thể là đồng minh tin cậy của công nhân và nông dân khi tiến hành giai đoạn hai của cách mạng, bởi vì họ có thể chống lại giai đoạn xã hội chủ nghĩa. Như ông đã viết trong cuốn Đường Kách Mệnh, công nhân và nông dân là lực lượng lãnh đạo của cách mạng: “Bởi vì thứ nhất, công nhân và nông dân bị đàn áp nặng nề hơn; thứ hai, công nhân và nông dân đoàn kết nên sẽ có được sức mạnh lớn nhất; và thứ ba là họ sẵn đã nghèo, nên nếu bị thất bại, họ sẽ có cả thế giới. Đó là lý do tại sao công nhân và nông dân là gốc của cách mạng, trong khi sinh viên, tiểu thương và địa chủ, dù có bị đàn áp, nhưng không bị đau khổ như công nhân và nông dân, chỉ có thể là những người bạn cách mạng của công nhân và nông dân” .

Cuối cùng, mặc dù Nguyễn Ái Quốc theo Lê-nin nhấn mạnh tới sự cần thiết phải có sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, đặc biệt là trong giai đoạn hai củ cuộc cách mạng giai cấp, và nhấn mạnh trong toàn bộ cuốn sách một thông điệp ngầm rằng nông dân là một nhân tố tối quan trọng của liên minh cách mạng. Tất nhiên, đây là một lập trường mà ông đã nêu lên nhưng không mấy thành công ở Mát-xcơ-va. Ông lập luận rằng thiếu liên minh chặt chẽ giữa nông thôn và thành thị đã báo trước sự thất bại của cuộc cách mạng Công xã Pa-ri năm 1870-1871 và cuộc cách mạng Nga năm 1905. Chỉ khi hai giai cấp này liên minh lại, như đã xảy ra trong cuộc cách mạng Bôn-sê-vích năm 1917 thì cách mạng mới thành công. Ông cho rằng, điều này đặc biệt đúng với một nước như Việt Nam, nơi 90 phần trăm dân số sống dựa và nông nghiệp và rất nghèo. Giống như giai cấp vô sản trong Tuyên ngôn cộng sản của Các Mác, nông dân của Nguyễn Ái Quốc không có gì để mất ngoài xiềng xích. Tất cả những gì họ cần, như ông đã chỉ ra trong các bài báo viết ở Pháp, là sự lãnh đạo và tổ chức.

Nguyễn Ái Quốc thừa nhận rằng thắng lợi không phải dễ dàng, bởi vì khó có thể thay đổi một xã hội hàng nghìn năm thành một xã hội mới. Điều quan trọng nhất là có được một đảng cách mạng có khả năng huy động được quân chúng bị áp bức trong nước và liên lạc được với các đảng khác trên toàn thế giới. Ông viết rằng, giống như một con tàu không thể tiến lên nếu không có người chèo lái tốt, cuộc cách mạng không thể thành công nếu không có một đảng vững mạnh. Ông viết tiếp, một nhóm người nổi loạn có thể có đôi chút thành công bằng cách ám sát vài quan chức chính phủ. Những hành động như vậy chỉ có thể dẫn đến bị đàn áp chứ không dẫn đến giải phóng. Chìa khoá để có được một đảng vững mạnh là học thuyết của nó. Một đảng cần có một ý thức hệ mà các đảng viên có thể hiểu và theo đuổi. Một đảng không có ý thức hệ cũng giống như một người đàn ông không có trí khôn hoặc một con tàu không có la bàn.

Trong phần mở đầu của cuốn Đường Kách Mệnh, tác giả đã liệt kê một danh sách các đặc điểm có thể xác định “hành vi của nhà cách mạng”. Thật thú vị nếu đem so sánh danh sách này với cuốn “Hỏi đáp của một nhà cách mạng” nổi tiếng của tên khủng bố Nga thế kỷ thứ 19 Xéc-gây Nê-cha-ép. Nê-cha-ép nhấn mạnh rằng vai trò của nhà cách mạng cũng giống như một công cụ mù quáng của sự nghiệp cách mạng. Anh ta phải biết tàn nhẫn, thậm chí xảo quyệt để xúc tiến mục đích của mình. Anh ta phải tuân thủ tuyệt đối đối với đảng của mình, và sẵn sàng từ bỏ mọi mối quan hệ với bạn bè và gia đình. Anh ta cũng phải sẵn sàng hy sinh những chuẩn mực đạo đức thông thường để nói dối và lừa bịp vì lợi ích của cách mạng. Trong khi sự thái quá của Nê-cha-ép bị chỉ trích nhiều bởi các thành viên khác trong phong trào cấp tiếng Nga, bản thân nguyên tắc này lại được Lê-nin khá ngưỡng mộ và trở thành kinh thánh cho những người Bôn-sê-vích của ông.

Có một số điểm giống nhau giữa các nguyên tắc ứng xử của Nguyễn Ái Quốc và Lê-nin và đều bị ảnh hưởng bởi Nê-cha-ép. Cả hai đều nhấn mạnh nghĩa vụ của các đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng. Sự khác biệt chính nằm ở tinh thần phía sau hai loại chuẩn mực cách mạng này. Trong khi Lê-nin cho rằng các chuẩn mực đạo đức đương đại không thích ứng với quy tắc ứng xử cách mạng và trên thực tế, có những mâu thuẫn không thể điều chỉnh giữa hai mặt trên, chuẩn mực đạo đức cơ bản trong danh mục nguyên tắc ứng xử của Nguyễn Ái Quốc lại làm người ta nhớ lại đạo Khổng truyền thống: cần kiệm, thân ái, vô tư, kiên quyết sữa chữa khuyết điểm, cẩn trọng, tôn trọng học tập, nghiên cứu và quan sát, tránh kiêu căng, tự phụ và phải rộng lượng. Thực tế, trừ những phần đề cập đến đảng, những điều dạy bảo nhà cách mạng của Nguyễn Ái Quốc có thể dễ dàng được chấp nhận như là các chuẩn mực hành vi cho bất kỳ gia đình Nho giáo nào.

Tất nhiên, cũng có thể nói rằng nguyên tắc đạo đức cách mạng của Nguyễn Ái Quốc như là việc khoác một khái niệm mới lên một chiếc áo quen thuộc; chứ không phải là ý nghĩ đó chỉ thoáng qua trong đầu ông. Rốt cuộc, rõ ràng là nhóm người được tuyển mộ ban đầu cho sự nghiệp của ông đều xuất thân từ những gia đình có học. Mặc dù hầu hết từ chối ý thức hệ Nho giáo truyền thống, họ vẫn bị ảnh hưởng một cách vô thức bởi nhiều giá trị của nó, và Nguyễn Ái Quốc luôn tìm cách làm cho thông điệp của mình phù hợp với thiên hướng của người nghe. Dù vậy, các chuẩn mực đạo đức cá nhân mà ông dạy ở viện đã trở thành một trong những khía cạnh quan trọng trong di sản của ông cho phong trào cộng sản Việt Nam và không nên xem chúng như một thứ hình thức giả tạo. Đối với nhiều đồng nghiệp của Nguyễn Ái Quốc, chính cách cư xử của ông, hình ản về lòng tốt và sự giản dị, sự lạc quan vô tận của ông, sự nghiêm túc và tận tuỵ với sự nghiệp của ông là những gì được ghi nhớ nhất sau khi ông qua đời. Đạo đức cách mạng của Nguyễn Ái Quốc đã trở thành dấu son trong ảnh hưởng của ông đối với đảng của mình, và , đối với nhiều người, thì đó là đặc điểm riêng biệt của chủ nghĩa cộng sản Việt Nam.

Thông điệp của Nguyễn Ái Quốc chứa đựng một lô-gíc sâu xa cho Việt Nam. Tự bản thân mình, đất nước này dường như không có sức mạnh để giải phóng cho mình. Kể cả nhà dân tộc chủ nghĩa gan dạ Phan Bội Châu cũng đã đi ra nước ngoài, đầu tiên là Nhật Bản, sau đó là Trung Hoa để tìm sự giúp đỡ. Điều được khẳng định trong cuốn Đường Kách Mệnh là dân tộc Việt Nam sẽ phải tìm kiếm sự giúp đỡ của quần chúng cách mạng trên toàn thế giới để đấu tranh tự giải phóng. Đìeu cũng rất đáng hài lòng khi được biết là chính phương Tây cũng phải trải qua những giai đoạn biến động xã hội.

Những chỉ trích trong cuốn sách đối với các phong trào dân tộc chủ nghĩa trước đó đặc biệt có ý nghĩa đối với những người yêu nước Việt Nam trẻ tuổi. Điểm yếu của các tổ chức dân tộc chủ nghĩa là rất rõ ràng, tất cả các tổ chức này rõ ràng đều thiếu một ý thức hệ. Họ chỉ đơn giản là chỉ ra sự nghiệp chung là hiện đại hoá và độc lập dân tộc. Không tổ chức nào vạch ra một cách chi tiết những đặc điểm của một Việt Nam độc lập trong tương lai. Khác với các tổ chức trong khu vực, các phong trào dân tộc chủ nghĩa Việt Nam không có khả năng tập hợp xung quanh những biểu tượng của một tín ngưỡng tôn giáo chung. Đạo Phật không chấp nhận sự tồn tại trên thực tế thế giới vật chất và thuyết giáo một triết lý khổ hạnh, không thể là một tác nhân thay đổi thích hợp nữa. Nho giáo, mặc dù ăn sâu như một tập hợp các phương châm chính trị và xã hội vào giới quý tộc Việt Nam đã bị mất tín nhiệm vì sự đầu hàng hèn hạ của triều đình phong kiến trước người Pháp xâm lược. Kết quả là hầu hết các phong trào dân tộc chủ nghĩa phi cộng sản đều có xu hướng thiên về khu vực địa lý, bởi các chiến thuật hoặc bởi cá nhân. Hành động của các thành viên, dù nhiều khi dũng cảm, nhưng lại thường là các cử chỉ căm thù vô nghĩa chống lại một kẻ thù hùng mạnh, kẻ có thể làm các lực lượng nổi loạn chạy tán loạn chỉ với một cái vỗ tay.

Đường Kách Mệnh là nỗ lực đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc nhằm truyền bá học thuyết Mác-Lê-nin trong đồng bào mình. Là một tuyên bố về ý thức hệ, nó không mang lại được nhiều cho các nhà nghiên cứu nghiêm túc Việt Nam hiện đại hoặc sử học của phong trào cộng sản thế giới. Như Nguyễn Ái Quốc đã từng thừa nhận với các đồng sự của mình, việc miêu tả học thuyết Mác-Lê-nin và thực tiễn của nó vào trong cuốn sách chỉ có tính chất sơ khai và trong một số trường hợp rất khó hiểu. Phần trình bầy không tinh tế và sự mập mờ về ý thức hệ trong cách xử lý của Nguyễn Ái Quốc về khái niệm hai giai đoạn và liên minh bốn giai câp đã khiến một số người nghi ngờ liệu ông có hiểu học thuyết Mác-Lê-nin không, hoặc nếu không, sự cam kết của ông đối với học thuyết này là như thế nào. Bởi vì ông cũng không miêu tả một cách cụ thể “vai trò lãnh đạo” của giai cấp công nhân (một nguyên lý then chốt của chủ nghĩa Lê-nin) trong cuộc cách mạng Việt Nam, một số nhà quan sát đã cho rằng cuốn sách như là một thí dụ về “chủ nghĩa cộng sản nông dân”, một cách tiếp cận không chính thống đối với chiến lược cách mạng Mác-xít Lê-nin mà sau này người ta gán cho Mao Trạch Đông.

Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu như cố gắng suy luận quá nhiều về quan điểm của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện trong cuốn sách này. Khi đó, ông đang cố quảng bá các ý tưởng Mác-xít trong một xã hội chủ yếu là nông thôn và thiếu sự tinh tế chính trị. Có thể Nguyễn Ái Quốc- theo đúng niềm tin của mình cho rằng trong tuyên truyền, càng đơn giản càng tốt- đã cố tình tạo ra một thứ chủ nghĩa Mác phổ thông hay “bình dân” mà người dân Việt Nam có thể hiểu được trong bối cảnh riêng của mình. Mặc dù chưa thể hiện rõ sự am hiểu của ông đối với học thuyết Mác-xít, nhưng cuốn sách là một công cụ hữu hiệu để giới thiệu chủ nghĩa Mác-Lê-nin cho những người mới học.

Trong những năm sống ở Mát-xcơ-va, Nguyễn Ái Quốc đã bầy tỏ niềm tin rằng nông dân Việt Nam cũng như ở châu Phi và châu Á, là nạn nhân chính của chủ nghĩa thuộc địa phương Tây, và như vậy, đương nhiên là sẽ liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân. Trong cuốn sách, ông đã nêu lên rằng sự ủng hộ của nông dân sẽ là điều kiện tiên quyết cho thắng lợi. Ông có thể giải thích quan điểm của mình như là một cách hiểu chính thống của chủ nghĩa Lê-nin, thậm chí dù đường lối chính thức của Mát-xcơ-va từ lâu đã không phải như vậy. Dù sao chăng nữa, Nguyễn Ái Quốc rõ ràng là chẳng quan tâm gì đến các vấn đề lý thuyết. Nhận xét của ông trong cuốn Đường Kách Mệnh có thể đơn giản là nhằm mục đích làm rõ các lời bình luận mà ông đã đưa ra ở Mát-xcơ-va vài năm trước đây.

Tuy vậy, nhấn mạnh vai trò của nông dân, Nguyễn Ái Quốc đã có một bước tiến dài trong phát triển phong trào cách mạng Việt Nam. Các nhà lãnh đạo và các nhóm dân tộc chủ nghĩa khác chỉ nói đãi bôi về vai trò của quần chúng nông dân trong cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam. Phan Bội Châu đã nêu lên mong muốn có được sự ủng hộ của nông dân, nhưng lời kêu gọi của Phan Bội Châu là chung chung và ông đã không có bước đi cụ thể nào để biến nó thành hiện thực. Bằng việc nói lên quyết tâm của mình tập trung chú ý vào quần chúng ở nông thôn, Nguyễn Ái Quốc đã cố gắng cảnh tỉnh đồng bào mình cũng như các nhà cách mạng trên toàn thế giới thuộc địa về tầm quan trọng của nông thôn trong cuộc cách mạng sắp tới châu Á.

Trong vòng một vài tháng sau khi đến Quảng Đông, Nguyễn Ái Quốc đã tuyển được một nhóm những người cấp tiến trẻ có thể lãnh đạo một phong trào kháng chiến dân tộc mới và mạnh mẽ trong tương lai. Từ vị trí thuận lợi ở Nam Trung Hoa nhìn vào Việt Nam, tình hình có vẻ như khả quan. Bước vào năm 1925, sự bất bình âm ỉ lâu ngày của nhân dân Việt Nam đối với những kẻ cai trị thuộc địa bùng phát thành cuộc phản đối công khai. Được châm ngòi bởi vụ bắt giữ và xét xử Phan Bội Châu và đám tang của Phan Châu Trinh, điều xảy ra vài tháng sau đó, thái độ chống Pháp đã dâng cao nhanh chóng đến mức chưa từng thấy kể từ trước khi bùng nổ của Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.

Trong điều kiện đó, vài đảng chính trị phôi thai như đảng Thanh niên ở Nam Kỳ đã bắt đầu xuất hiện. Ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, Tân Việt Cách mạng đảng được các đảng viên cũ của tổ chức của Phan Bội Châu cùng cộng tác với một số các sinh viên trẻ yêu nước ở Hà Nội thành lập. Đảng Tân Việt có trong hang ngũ của mình các đảng viên có nhiều xu hướng chiến thuật khác nhau và niềm tin ý thức hệ khác nhau- từ những người theo trường phái cải cách cho đến những người ủng hộ bạo lực cách mạng, từ những người ủng hộ mô hình phương Tây cho đến những nhà cách mạng Mác-xít và những người đi theo con đường Lê-nin. Mẫu số chung của họ là chống lại sự cai trị của người Pháp và sự tận tuỵ đối với sự nghiệp độc lập dân tộc.

Trong khi đó Nguyễn An Ninh, nhà báo trẻ, người đã chọc giận viên Trung Uý Mô-rít-xơ Cô-nhắc bằng thái độ khiêu khích của mình, tiếp tục khuấy động công chúng bằng những bài phát biểu và bài báo nảy lửa của mình. Có một lần, ông đã diễn thuyết cho mọi người rằng họ là người phải chịu trách nhiệm cho chính những đau khổ của mình, bởi vì “các bạn không có khả năng áp đặt ý tưởng của mình, các bạn không buộc chính phủ chấp nhận điều mình muốn”. Miêu tả sự cộng tác mà An-be Xa-rô trao cho người Việt Nam cũng giống như mối quan hệ giữa con trâu và chủ của mình, ông cảnh cáo: “Đừng hy vọng quá nhiều vào những điều mà viên Toàn quyền xã hội chủ nghĩa (như A-lếch-xan-đơ Va-ren) đã chuyển đến các bạn. Ông ta đến đây để lừa dối các bạn, ông ta nói rất nhiều, nhưng ông ta sẽ chẳng làm gì cả. Không thể có sự cộng tác giữa người Pháp và người An Nam. Người Pháp không còn gì hơn để làm ở đây cả. Hãy buộc họ trả lại chúng ta đất đai của tổ tiên, buộc họ trao cho chúng ta quyền phát biểu và để chúng ta tự làm chủ mình. Đất nước chúng ta đã sản sinh ra vô số anh hung, những con người biết hy sinh cho tổ quốc mình! Nòi giống của chúng ta chưa bị tuyệt diệt!”.

Bài phát biểu của ông Ninh đã gợi lại những kỷ niệm về Phan Bội Châu, người đã chống Pháp từ khi ông lưu vong ở Nhật Bản. Người Pháp cho rằng họ phải phản ứng. Vào ngày 24 tháng 3 năm 1926, khi đội tang lễ chuẩn bị đưa thi hài của Phan Châu Trinh đến nơi an nghỉ cuối cùng, Nguyễn An Ninh đã bị bắt.

Buổi chiều cùng ngày, tàu biển Pháp Amboise cập bến Sài Gòn. Trong số hành khách có Bùi Quang Chiếu, người lãnh đạo đảng Hợp hiến, mà Nguyễn Ái Quốc đã gặp trên con tàu Đô đốc La-tút-xơ Tơ-rê-vin, gần 15 năm trước đây. Cũng giống như Nguyễn An Ninh, ông Chiếu rất thất vọng trước việc Toàn quyền A-lếch-xan-đơ Va-ren không giữ lời hứa hào phóng của mình, và vào đầu năm 1926, ông đã đến Pa-ri để kêu gọi cải cách chính trị và kinh tế. Trong các cuộc đàm thoại với các quan chức ở đó, ông đã cảnh cáo rằng nếu tình hình ở Đông Dương không được cải thiện, người Pháp sẽ bị đuổi khỏi đó sau 15 năm nữa. Ông Chiếu cũng gặp gỡ những người dân tộc chủ nghĩa trong cộng đồng người Việt lưu vong tập trung quanh Nguyễn Thế Truyền, người kế nhiệm Nguyễn Ái Quốc ở Liên hiệp Thuộc địa quốc tế, nhưng cuối cùng, ông cũng từ chối hợp tác với ông Truyền. Việc này làm cho ông lo lắng. Khi trở về Sài Gòn, ông đột nhiên miễn cưỡng chú ý đến các yêu sách của đám đông trên đường phố nhằm tăng áp lực lên chính phủ thuộc địa, và bài phát biểu của ông khi đến Sài Gòn chứa đựng lời kêu gọi ủng hộ hoà hợp Pháp- Việt. Với việc Nguyễn An Ninh bị bỏ tù và Bùi Quang Chiếu không sẵn sang nắm ngọn cờ, náo động ở thành thị tại Nam Bộ nhanh chóng xẹp xuống, dẫn đến việc một nhà yêu nước trẻ kêu lên một cách tuyệt vọng: “Tất cả chúng ta đã quên mất Phan Châu Trinh rồi sao?”

Đối với Nguyễn Ái Quốc, hiện ở Quảng Đông chăm chú theo dõi lòng căm thù chống thực dân đang tăng lên trong đồng bào mình, tình hình này đưa đến cả những cơ hội và thách thức. Tổ chức cách mạng đang trưởng thành của ông nên cộng tác với các thành phần dân tộc của chủ nghĩa ở Đông Dương và hải ngoại đến mức độ nào? Mặc dù ông M.N.Roi và một số người khác ở Mát-xcơ-va, những người cho rằng cộng tác với các nhóm tư sản dân tộc chủ nghĩa là nguy hiểm, có bảy tỏ sự không tán thành, Nguyễn Ái Quốc ban đầu quyết tâm tạo ra một mạng lưới rộng nhằm huy động sự ủng hộ nhằm chống lại chế độ thực dân. Trong báo cáo ông viết ở Mát-xcơ-va năm 1924, ông đã nhận xét rằng chính tinh thần dân tộc chủ nghĩa đã gây ra cuộc nổi dậy ở miền Trung Việt Nam, dạy cho những người cu li phản đối các điều kiện làm việc của mình, khêu gợi quyết tâm của các thương gia Việt Nam cạnh tranh với người châu Âu, người Trung Hoa hải ngoại và khuyến khích sinh viên biểu tình và gia nhập tổ chức của Phan Bội Châu. Ông viết rằng, ngọn đuốc giờ đây đang được chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ông tin rằng, khi những người Việt Nam trẻ tuổi bắt đầu sử dụng các chiến thuật của phương Tây, các hoạt động của họ có thể được sử dụng cho mục đích của ông.

Nguyễn Ái Quốc đã chuyển sang chú ý đến việc mở rộng nền tảng của phong trào bằng việc liên minh với các tổ chức chống thực dân khác ngay sau khi ông đến Quảng Đông, cố gắng thiết lập quan hệ với các thành phần tập hợp xung quanh Nguyễn Hải Thần, một học trò của Phan Bội Châu, người gần đây đã giúp Phan Bội Châu trong nỗ lực chuyển Quang phục Hội cũ của ông thành một đảng Dân tộc chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình tổ chức của Tôn Dật Tiên ở Trung Hoa. Nguyễn Ái Quốc cũng đã thảo luận với Lâm Đức Thứ khả năng liên hệ với những thành phần dân tộc chủ nghĩa trong nước. Ở miền Trung Việt Nam, ông tìm cách liên lạc với cái mà ông gọi là “Những loại hình hiện đại và trẻ” (có thể như là Tân Việt), nhưng ông cũng muốn tiếp cận với các thành phần dung hoà  ở Nam Kỳ như Bùi Quang Chiếu và Khánh Kỳ (một người quen cũ ở Pa-ri) để xem họ có chịu hợp tác không. Các đồng nghiệp của ông cũng cảnh báo ông cần phải thận trọng trong việc thiết lập quan hệ với ông Chiếu cho trừ khi biết rõ là Phan Bội Châu sẽ nhất trí, nhưng Nguyễn Ái Quốc phản bác lại rằng nếu như ông Chiếu nhất trí cộng tác thì ông ta sẽ sẵn sang cung cấp tài chính.

Tuy nhiên, đối với Nguyễn Ái Quốc, các đảng dân tộc chủ nghĩa cũng đặt ra một vấn đề tế nhị. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nên hợp tác với họ đến mức nào? Đại hội lần thứ hai của Quốc tế cộng sản III năm 1920 đã kết luận rằng các phong trào giải phóng tư sản như vậy nên được ủng hộ “chỉ khi các phong trào này thực sự cách mạng và khi những nhân vật tiêu biểu của họ không cản trở công việc của chúng ta là giáo dục và tổ chức nông dân và quần chúng rộng rãi thuộc tầng lớp bị bóc lột theo tình thần cách mạng”. Nhưng một số thành viên lãnh đạo của tổ chức này như nhà cộng sản Pháp Giắc Đô-ri-ốt lại có lời khuyên khác. Trong một bức thư gửi một trong các đại hội của các tổ chức mặt trận đề ngày 4 tháng 3 năm 1927, Đô-ri-ốt đề xuất một cách tiếp cận rộng hơn. Ông nói rằng “mặc dù đảng của các bạn cần luôn nhớ rằng các lực lượng cơ bản của cuộc đấu tranh ở Đông Dương là giai cấp công nhân, nông dân và tiểu thương thành thị”, nhưng: Không được quên rằng dưới ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, toàn thể nhân dân (công nhân, nông dân, chủ cửa hiệu, trí thức) trừ một phần rất nhỏ những kẻ trục lợi đều có lợi ích trong việc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Không được xem nhẹ bất kỳ nỗ lực nào lôi cuốn họ và tổ chức họ hằng ngày trong cuộc đấu tranh. Không được từ chối bất kỳ sự hợp tác nào. Ngược lại, phải làm tất cả để khuyến khích điều đó.

Nguyễn Ái Quốc thận trọng nghe theo lời khuyên của Đô-ri-ốt. Phù hợp với đường lối của Quốc tế cộng sản III chỉ hợp tác với các nhóm dân tộc chủ nghĩa là “thiết thực cách mạng”, theo chỉ thị của ông, Hội đã rất thận trọng trong việc thiết lập các liên minh. Sau việc bày tỏ sự quan tâm đến Bùi Quang Chiếu, Nguyễn Ái Quốc tỏ ra khinh thị các nhóm của “những kẻ theo đường lối cải lương quốc gia” như đảng Hợp hiến của ông Chiếu. Trong một báo cáo cảu ông gửi cho Mát-xcơ-va, ông tả nhóm này chống lại chủ nghĩa cộng sản và ủng hộ hợp tác với Pháp. Hướng tới các đảng có tính cấp tiến  hơn như đảng Thanh niên ở Nam Kỳ và Tân Việt ở miền Trung Việt Nam. Hội dung hoà hơn, gửi các đại diện đàm phán với họ để thiết lập một liên minh nếu có thể được.

Nhưng lập trường đàm phán của Hội lại luôn cứng rắn. Hội bác bỏ ý tưởng về việc sáp nhập một cách bình đẳng và chỉ trao cho các nhà lãnh đạo đối địch vai trò thứ yếu trong Hội. Trong khi các cuộc đàm phán đang tiếp diễn, các thành viên của Hội đã tích cực lôi kéo các đại biểu của đảng đối địch vào tổ chức của mình. Khi các đảng viên của các nhóm đối địch đến Quảng Đông để học tập tại viện đào tạo, họ được chỉ thị không nối lại liên lạc với các đồng chí của mình khi quay về Việt Nam. Không có gì đáng ngạc nhiên là các lãnh đạo các đảng dân tộc chủ nghĩa bất bình trước những cách làm như vậy và bác bỏ liên minh với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên theo các điều kiện của Hội.

Do Nguyễn Ái Quốc buộc phải ở lại Trung Hoa để tránh bị mật thám bắt, sự tham gia đàm phán trực tiếp của ông với các lãnh đạo của các nhóm ở Việt Nam có vẻ như là rất ít. Nhưng rất có thể là các quyết định cuối cùng là của ông. Các nhận xét mà ông đưa ra đối với đồng sự và học viên tại trường ở Quảng Đông cho thấy thái độ của ông đối với các đảng đối địch là sự kết hợp giữa sự sẵn sàng một cách thận trọng hợp tác vì sự nghiệp đấu tranh với sự hoài nghi cơ bản về những động cơ cuối cùng của họ. Ông thường xuyên nhận xét rằng các liên minh với các đảng có thể hữu ích, nhưng chỉ nhằm các mục đích chiến thuật mà thôi.

Trong khi đẩy mạnh các nỗ lực xây dựng phong trào cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc cùng tìm cách hoàn thành nghĩa vụ vô sản của mình bằng cách cộng tác với các thành phần tiến bộ ở nam Trung Hoa và các phong trào cách mạng Trung Hoa. Trước khi Nguyễn Ái Quốc rời Mát-xcơ-va, Tho-mát Đôm-ba đã đề nghị ông làm việc với tư cách là đại diện của Nông dân Quốc tế tại Quảng Đông và giúp huy động nông dân Trung Hoa. Trong một khoảng thời gian ngắn, việc này dường như có thể thành công với sự hợp tác của Quốc dân đảng, tổ chức mà đại diện của họ ở Mát-xcơ-va đã tìm kiếm sự giúp đỡ của Nông dân Quốc tế trong việc soạn ra một cương lĩnh nông dân. Đôm-ba cũng gợi ý Nguyễn Ái Quốc lập ra các hội nông dân ở toàn bộ các vùng thuộc tỉnh Quảng Đông hầu hết đang dưới sự kiểm soát của chế độ Quảng Đông.

Để thực hiện nghĩa vụ này, sau khi đến Quảng Đông, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu thăm Học viện Phong trào Nông dân, một đơn vị đào tạo do chính phủ Quốc dân đảng lập ra năm 1924 để thúc đẩy cách mạng nông thôn chống lại các chế độ lãnh chúa cát cứ ở phương Bắc. Viện được đặt ở một ngôi chùa cổ không xa đại bản doanh của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Đông và Nguyễn Ái Quốc đã báo cáo các hoạt động của mình bằng một bài viết gửi về Mát-xcơ-va. Trong quá trình nghiên cứu về các điều kiện của nông dân ở Trung Hoa, ông đã quen với Peng Pai, một nhà hoạt động xuất sắc của đảng Cộng sản Trung Quốc và là một trong các cán bộ lãnh đạo của viện. Ông Peng là người thúc đẩy chính thiết lập Xô-viết Hai Lu Pheng, những hội nông dân được thành lập năm 1923 dưới sự thúc ép của ông ở hai huyện miền đông của Quảng Đông. Nguyễn Ái Quốc rất thích những thí nghiệm đó, và một lần ông đã đến thăm khu vực này và viết một bài báo về chủ đề đó. Đáp lại, Peng đôi khi tham gia dạy tại học viện của Nguyễn Ái Quốc.

Nguyễn Ái Quốc đến Trung Hoa vào thời điểm khi phong trào cách mạng ở đó đang trong giai đoạn biến chuyển nhanh chóng. Mùa hè năm 1925, các cuộc biểu tình lớn của ngươi lao động đã diễn ra tại Quảng Đông để phản ứng lại cái gọi là sự kiện 30 tháng 5 tại Thượng Hải khi cảnh sát Anh đã bắn vào những người biểu tình và giết chết vài người. Nguyễn Ái Quốc tham gia các cuộc biểu tình, đọc các bài diễn văn khuyến khích những người biểu tình và tuyên bố bằng giọng đặc sệt Quảng Đông-rằng nhân dân Quảng Đông ủng hộ họ. Ông cũng tham gia các hoạt động chính thức hơn như Đại hội lần thứ II của Quốc dân đảng tổ chức vào tháng 1 năm 1926 theo thúc giục của các thành phần cánh tả để chống lại ảnh hưởng của các lực lượng chống cộng ngày càng tăng trong đảng. Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu trước đại hội và miêu tả tình hình ở Đông Dương. Ông tuyên bố rằng người Pháp đang cố gắng một cách tuyệt vọng để ngăn chặn các tin tức về tình hình bất an ở Trung Hoa đến với nhân dân Việt Nam. Ông hứa rằng các đồng bào của ông và tất cả các dân tộc thuộc địa ở châu Á sẵn sang đoàn kết với nhân dân Trung Hoa để chống lại những kẻ thù xâm lược chung. Tuy nhiên, tuyên bố có tính chất phóng đại hơn là thực tế. Lúc đó, Hiệp hội các dân tộc bị áp bức ở  châu Á mà ông đã giúp thành lập năm trước đang gặp phải chịu những tranh cãi giữa các nhóm dân tộc – một điều nhắc nhở Nguyễn Ái Quốc đến vấn đề ông gặp phải ở Liên hiệp thuộc địa Pa-ri-và tan rã.

Vào mùa xuân năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã có mặt ở Quảng Đông hơn 2 năm. Ông đã trở thành nhân vật nổi bật và một thành viên được tôn trọng của cộng đồng cách mạng, và đã có được các mối quan hệ gần gũi với các đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc như Chu Ân Lai, nhà tổ chức trẻ Giang Tai-lê và nhà lãnh đạo tả khuynh Quốc dân đảng Li-ao Dong-kai. Cuộc sống của ông ở nam Trung Hoa, ít nhất cho đến lúc đó, đã có vẻ ổn định, và (có lẽ vì lý do đó) ông đã nghĩ đến việc có một người vợ Trung Hoa để giúp ông học tiếng Hán và chăm lo các nhu cầu cá nhân. Để có được ngưòi phù hợp, ông rõ ràng là đã thảo luận vấn đề với người đồng sự gần gũi của mình, Lâm Đức Thứ, người đã sống ở Trung Hoa trong nhiều năm và có rất nhiều người quen trong dân chúng địa phương. Tuy nhiên, Nguyễn Ái Quốc khăng khăng là sẽ không tuân theo phong tục cưới truyền thống của Trung Hoa-ông từ chối trả tiền để cưới vợ.

Ít lâu sau, Lâm Đức Thứ giới thiệu cho Nguyễn Ái Quốc một phụ nữ Trung Hoa trẻ tên là Tăng Tuyết Minh, con gái vợ lẽ thứ ba của một thương gia Quảng Đông giàu có. Bị đuổi khỏi nhà sau khi bố chết, Tuyết Minh sống trong hoàn cảnh khó khăn cho đến khi cô làm bạn với vợ của Lâm Đức Thứ, người đã giới thiệu cô với Nguyễn Ái Quốc. Người phụ nữ trẻ này ít được học hành, do vậy một số cộng sự phản đối cuộc hôn nhân này, nhưng Nguyễn Ái Quốc phớt lờ những lời khuyên của họ và cầu hôn. Sau đám cưới, đôi uyên ương chung sống ở căn phòng của Nguyễn Ái Quốc ở biệt thự Bô-rô-đin. Mặc dù Minh Tuyết hấp dẫn về mặt hình thức (một người quen tả là cô có thân hình mảnh dẻ, da trắng, tóc đen ngang vai, mặt tròn, miệng nhỏ) nhưng lại ít quan tâm đến chính sự, và sau vài nỗ lực bất thành, chồng cô nhanh chóng từ bỏ việc cải hoá cô theo những tư tưởng chính trị của mình. Có những nguồn tin cho rằng, Nguyễn Ái Quốc có một con gái từ cuộc hôn nhân này.

Dù sao chăng nữa, những ngày Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Đông cũng đang sắp kết thúc. Trong khi ông đang vật lộn để thổi bùng ngọn lửa bất bình ở Việt Nam, tình hình ở Trung Hoa cũng chuyển biến nhanh chóng. Trong vài năm, đảng Cộng sản Trung Quốc đã hợp tác một cách không thoải mái với Quốc dân đảng của ông Tôn ở các tỉnh phía nam Trung Hoa. Liên minh này được duy trì chủ yếu là do sức ép cá nhân của ông Tôn và mối quan hệ công việc của ông với cố vấn của Quốc tế cộng sản III là Mi-khai-in Bô-rô-đin. Nhưng ông Tôn chết vì ung thư gan tháng 2 năm 1925, trong khi ở Bắc Kinh đàm phán với viên tư lệnh cát cứ Pheng I-ung-xi-ang, và sau một hồi đấu tranh quyền lực, Tưởng Giới Thạch, cố vấn quân sự của ông Tôn và là tư lệnh của Học viện Quân sự Hoàng Phố, đã kế nghiệp ông. Vì các lý do chiến thuật, Tưởng tạm thời vẫn duy trì liên minh với đảng Cộng sản Trung Quốc, bất chấp thái độ chống cộng đang gia tăng trong phái bảo thủ của Quốc dân đảng. Tuy nhiên, bản thân Tưởng cũng nghi ngờ những người cộng sản; có thể do chuyến thăm của ông ta tới Liên Xô năm 1923, ông ta đã có ý thức được các mục tiêu lâu dài của Mát-xcơ-va sử dụng liên minh với đảng của ông ta rồi sau đó vứt bỏ. Ngày 12 tháng 4 năm 1927, giữa cuộc Bắc Phạt chống lại chính phủ của các tư lệnh cát cứ ở miền Trung và miền Bắc Trung Hoa do cả hai bên tiến hành, liên minh này tan vỡ. Khi phái tả của Quốc dân đảng kêu gọi loại bỏ Tưởng Giới Thạch, ông ta đã ra lệnh thảm sát thảm sát hang ngàn người cộng sản và những người ủng hộ họ ở Thượng Hải, thành phố lớn nhất của Trung Hoa, khi quân đội của ông ta tới đó.

Hành động của Tưởng lập tức được lặp lại ở Quảng Đông. Ngày hôm sau, các đơn vị quân đội do tư lệnh theo Dân tộc chủ nghĩa Li Di-sen vây ráp hai nghìn người tình nghi cộng sản trên toàn bộ tỉnh Quảng Đông. Học viện Quân sự Hoàng Phố bị chiếm và hàng trăm người bị tình nghi là phái tả, trong đó có các học viên Việt Nam thuộc Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã bị bao vây và bị bắn. Giang Tai-lê, bạn của Nguyễn Ái Quốc, là một trong số các nạn nhân. Khi quân đội của Li bao vây các ngôi nhà của các quan chức làm việc tại toà lãnh sự Xô-viết, Mi-khai-in Bô-rô-đin và một vài cố vấn của ông đã chuyển đến Vũ Hán, nơi chính phủ Quảng Đông đã chuyển đại bản doanh vào mùa đông trước.

Đầu tiên, giới chức Pháp tưởng là Nguyễn Ái Quốc đã theo Bô-rô-đin và tuỳ tùng của ông ta đã đến miền Trung Trung Hoa. Trên thực tế, Nguyễn Ái Quốc vẫn ở lại Quảng Đông vì tin rằng một người Việt Nam có quan hệ tốt với nhiều quan chức Quốc dân đảng sẽ không bị bắt. Để giúp bảo đảm an ninh của mình, ông đã trú ngụ tại một địa điểm bí mật và tự nuôi mình bằng cách bán báo. Nhưng vào khoảng cuối tháng 4 và đầu tháng 5, ông đã được Trương Văn Lệnh, một trong các đồng sự gần gũi của Tâm Tâm Xã và làm việc cho lực lượng bảo vệ thành phố địa phương, cho biết rằng ông có thể sớm bị bắt. Ông Lệnh đã khuyên ông trốn khỏi Quảng Đông càng sớm càng tốt.

Mỉa mai thay, chính một người mà Nguyễn Ái Quốc cho là đồng minh trong cộng đồng Việt Nam lưu vong đã báo cho cảnh sát Li Di-sen rằng ông là cộng sản. Kể từ khi đến Quảng Đông, Nguyễn Ái Quốc đã tìm cách thiết lập mối quan hệ hợp tác với Nguyễn Hải Thần và các cựu binh khác thuộc Việt Nam Quốc dân đảng của Phan Bội Châu. Ông Thần là bạn thân của Lâm Đức Thứ, và đã từng sống tại nhà ông ta. Vào mùa thù năm 1926, quan hệ của Nguyễn Ái Quốc với ông Thần đã trở nên căng thẳng bởi ông này ngày càng chỉ trích xu hướng cộng sản của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Nguyễn Ái Quốc cũng giận dữ trước các nỗ lực của ông Thần làm suy yếu hoặc thu hút tổ chức của mình. Cuối năm 1926, Trương Bội Công, một trong các thành viên lãnh đạo của Quốc dân đảng đã từ Bắc Kinh đến Quảng Đông để thúc đẩy Nguyễn Hải Thần thành lập một đảng chính trị mới tập trung vào độc lập dân tộc và chống lại ảnh hưởng của Hội. Hố ngăn cách giữa hai nhóm Việt Nam trở nên rộng them, và người ta cho rằng chính Nguyễn Hải Thần đã báo cho chính quyền Trung Hoa về sự có mặt của Nguyễn Ái Quốc vào đầu tháng 5.

Điều kỳ lạ là chính Lâm Đức Thứ, dù là người thông báo thường xuyên về các hoạt động của Hội cho mật thám, chưa bao giờ phản bội Nguyễn Ái Quốc cho người Pháp, có lẽ vì sợ vai trò của mình là một nhân viên mật thám bị tiết lộ. Tuy nhiên, ông ta đã dàn xếp để chụp ảnh các thành viên của Hội. Một lần, ông ta đã trao những bức ảnh này cho lãnh sự Pháp. Những bức ảnh này (hiện đang nằm trong hồ sơ lưu trữ của Pháp) rõ ràng đã giúp chính quyền thuộc địa nhận diện các cộng sự của Nguyễn Ái Quốc. Sự bất cẩn của Nguyễn Ái Quốc trong việc để cho những bức ảnh như thế được chụp và sự tin cẩn vào Lâm Đức Thứ sau  này đã bị một số cộng sự chỉ trích mạnh mẽ.

Ngày 5 tháng 5 năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời nơi cư trú bí mật của mình đi Hồng Công, bỏ lại người vợ ở Quảng Đông. Cùng ngày, nơi cư trú của ông bị các quan chức Trung Hoa tấn công. Một lần nữa, ông lại lên đường.

Posted in Uncategorized | Comments Off on HCM-Một cuộc đời (Chương 4)

HCM-Một cuộc đời(Chương 3)

Posted by anhbahoa on December 11, 2009

HỒ CHÍ MINH-MỘT CUỘC ĐỜI

Chương III

NHÀ CÁCH MẠNG NON TRẺ

Cuối mùa hè năm 1923, nước Nga Xô-viết vẫn đang phục hôi sau gần 7 năm chiến tranh, cách mạng và xung đột trong nước đầy gian khó. Bên ngoài Pê-trô-grát, Mát-xcơ-va và một số thành phố lớn khác ở các vùng châu Âu của nước Nga, theo những lời đáng nhớ của Lê-ôn Trốt-xki, cách mạng tháng Mười là một “cuộc cách mạng qua điện tín”. Ở các làng quê và thị trấn nằm rải rác trên đế chế Nga rộng lớn, Lê-nin chỉ có khoảng 50.000 người Bôn-sê-vích, chỉ vào thời điểm diễn ra các cuộc nổi dậy, nhận được sự ủng hộ ít ỏi của hàng triệu nông dân Nga, những người không hiểu gì về tư tưởng Mác và thậm chí còn không quan tâm đến số phận của cách mạng thế giới.

Lúc đầu, ban lãnh đạo cách mạng mới đã cố gắng hợp pháp hoá bằng cách thông báo về sự ra đời của chính phủ mới bằng cách điện tín cho tất cả các đơn vị hành chính. Nhưng chẳng mấy chốc mọi người nhận thấy rằng một tờ giấy như vậy chưa đủ để đưa ra quyền lực cách mạng đến được vùng xa xôi của Sa hoàng. Vài tuần sau khi tấn công Cung điện Mùa đông vào tháng 10 năm 1917 (theo lịch Nga), các lực lượng đối lập bắt đầu xuất hiện: Các phần tử Bạch vệ trung thành với Sa hoàng Ni-cô-lai đệ nhị và hệ thống quân chủ cũ; các lực lượng dân tộc trong các nhóm dân tộc thiểu số dưới đế chế cũ, từ U-crai-na đến Trung á; thậm chí cả các đội quân nước ngoài đóng ở Nga để giúp đánh Đức.

Đảng Bôn-sê-vích đã cấp tốc huy động nhân lực từ lực lượng công nhân và nông dân nghèo để xây dựng Hồng quân, sau 3 năm đổ máu, cuối cùng chính phủ đã trấn áp được các lực lượng phản cách mạng và thiết lập sự kiểm soát chặt chẽ đối với nhà nước Xô-viết mới. Nhưng trong quá trình đó, chính phủ đã xa rời các tầng lớp chủ chốt trong xã hội Nga, trong đó có nông dân, những người mà mùa màng của họ bị nhà nước trưng thu để nuôi Hồng quân và người lao động trong các thành phố, các thành viên của các nhóm dân tộc không phải là người Nga mà lãnh đạo của họ đã bị đánh bại và làm suy yếu một cách không thương tiếc bởi lực lượng an ninh Xô-viết, và những người khác bị lực lượng an ninh của Phơ-lích Dơ-din-ski bắt giữ và hành quyết, thường được biết đến với cái tên Checa (Uỷ ban đặc biệt)

Khi nước Nga cố gắng phục hội  sau cuộc nội chiến, Lê-nin cũng phải nhận thấy rằng Nga cần phải trải qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa trước khi bắt đầu quá trình chuyển đổi khó khăn lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1921, ông thúc đẩy một chương trình phát triển kinh tế-xã hội ôn hoà hay còn gọi là Chính sách Kinh tế mới. Các nhân tố chính của chương trình này là kết hợp các kỹ thuật của tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa để tăng cường sản xuất, trong khi đó phổ biến khái niệm sở hữu của chủ nghĩa xã hội và duy trì sự quản lý vững chắc của Đảng đối với hệ thống chính trị. Các ngành mũi nhọn và công ích và các ngân hàng vẫn nằm trong tay nhà nước nhưng doanh nghiệp tư nhân thì hoạt động ở các cấp độ thấp hơn. Việc trưng thu ngũ cốc bắt buộc, gây ra sự bất ổn nghiêm trọng ở khu vực nông thôn, đã được thay thế bằng việc đánh thuế sản xuất. Đất đai vẫn nằm trong tay tư nhân.

Những ngày đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc ở thiên đường xã hội chủ nghĩa mới mà trước đó ông đã mô tả đầy nhiệt huyết trong các bài báo viết ở Pháp chắc hẳn đã làm cho ông ít nhiều mất đi quyết tâm. Sau khi rời tàu Karl Liebknecht ở bến cảng Pê-trô-grát, ông đã bị một nhân viên nhập cảnh trẻ đầy hoài nghi thẩm vấn. Do thiếu giấy tờ chính thức ngoại trừ thị thực giả mang tên một nhà buôn Trung Quốc, thị thực này trước đó được lãnh sự quán Xô-viết ở Béc-lin chấp nhận, và không có địa chỉ liên lạc trong thành phố, ông đã bị giữ lại trong vòng vài tuần “trong một không khí căng thẳng” cho đến khi lai lịch của ông được xác minh bởi một đại diện của Đảng Cộng sản Pháp ở Mát-xcơ-va. Sau đó ông được phép đi lại và lên tàu đi Mát-xcơ-va vào cuối tháng 7. Sau khi ở tạm trong một khách sạn gần điện Crem-lanh, ông được vào làm ở Văn phòng Viễn Đông (Đan-bu-rô) tại trụ sở của Quốc tế Cộng sản đối diện với Bảo tàng Rumyantsev (nay là thư viện Lê-nin).

Đan-bu-rô được thành lập do kết quả Đại hội  lần thứ hai của Quốc tế Cộng sản năm 1920 theo đề nghị của Ma-rinh (tên thật là Hen-đơ-rích Sni-vơ-liết), đại biểu người Hà Lan, người mà sau này trở thành người có uy tín với tư cách là cố vấn của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Là một người tin tưởng sâu sắc vào tầm quan trọng của các vùng thuộc địa đối với tương lai của cách mạng thế giới, Maring đã đề nghị thành lập các phòng tuyên truyền cho Trung Đông và Viễn Đông cũng như mở một Viện Mác-xít ở Mát-xcơ-va để đào tạo cho các nhà lãnh đạo cách mạng châu á có triển vọng. Với việc các luận chứng của Lê-nin sắp được thông qua, đề nghị của Ma-rinh cũng đã được chấp thuận, và tháng 6 sau đó, tại một cuộc họp của Uỷ ban điều hành của Quốc tế Cộng sản, Văn phòng Viễn Đông đã được thành lập dưới sự dẫn dắt của các học giả Đông phương học người Nga G.Xa-pha-rốp.

Trong những tháng sau đó, các nhà lãnh đạo Quốc tế Cộng sản đã thực hiện một số bước khác để thúc đẩy việc thành lập các phong trào cách mạng ở châu Á và châu Phi. Tất cả các Đảng Cộng sản ở Tây Âu đã được hướng dẫn thiết lập các Uỷ ban thuộc địa để đánh giá tình hình và ủng hộ cuộc đấu tranh của những người bị áp bức ở thuộc địa của họ (do đó Ban nghiên cứu thuộc địa đã được đặt ở Pháp). Trong khi đó, đã có các kế hoạch thiết lập các viện đào tạo ở nước Nga Xô-viết để truyền bá cho những người có tư tưởng cấp tiến của châu á và châu Phi và chuẩn bị cho họ quay về quê hương để tiến hành các hoạt động cách mạng. Đến lúc đó, Quốc tế Cộng sản III đã bắt đầu tham gia vào một số hoạt động ban đầu ở Đông á. Mùa xuân năm m1920, một đại diện của Quốc tế cộng sản là Gơ-ri-go-ri Voi-tin-xơ-ki đã được cử sang Trung Quốc để liên lạc với các nhà cách mạng Trung Quốc. Các đại diện khác đóng ở Vla-di-vô-xtốc cũng sang Thượng Hải, Sài Gòn và Xin-ga-po để thiết lập đường dây liên lạc với các phần tử cấp tiến và giúp họ hoạt động cách mạng. Tháng 11, có tin là hai người Nga vừa chân ướt chân ráo đến Sài Gòn đã bị trục xuất do bị nghi vấn là đã thực hiện các hoạt động đó. Với tính cách năng nổ, Nguyễn Ái Quốc đã không để phí thì giờ làm cho mọi người biết đến sự hiện diện của mình. Chẳng bao lâu sau khi đến Mát-xcơ-va, ông viết một bức thư gửi Uỷ ban Trưng ương Đảng Cộng sản Pháp, chỉ trích các đồng sự của mình đã không chú ý gì đến các quyết định của Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ tư và mở rộng các hoạt động về các vấn đề thuộc địa. Trong khi ông công nhận rằng Đảng Cộng sản Pháp đã bước đầu tuân theo lệnh của Quốc tế Cộng sản III thiết lập Ban nghiên cứu thuộc địa cũng như có một chuyên mục thường kỳ về vấn đề thuộc địa trên tờ báo Đảng L’Humanite (Nhân Đạo), ông phàn nàn rằng trong những tháng gần đây, chuyên mục đó đã bị đình lại và thiếu ông, uỷ ban trên hầu như đã chết rồi. Ông nêu rõ,”Các tuyên bố đưa ra tại Đại hội toàn quốc ủng hộ người dân thuộc địa đã giúp củng cố tình cảm của họ đối với Đảng, nhưng “nếu chỉ lặp đi lặp lại một điều mà không thực hiện thì không hợp lý”. Người dân thuộc địa, thấy có nhiều lời hứa mà có rất ít việc làm cụ thể, sẽ bắt đầu tự hỏi liệu những người cộng sản có nghiêm túc không hay chỉ bịp bợm. Cuối thư, ông nhắc nhở rằng một điều kiện then chốt để gia nhập Quốc tế Cộng sản III là vận động một cách hệ thống để ủng hộ công cuộc giải phóng người dân thuộc địa.

Nguyễn Ái Quốc cũng đã viết một báo cáo lên Đoàn chủ tịch của Ban điều hành Quốc tế Cộng sản III, nêu chi tiết ý tưởng của mình về phương cách thúc đẩy đấu tranh cách mạng ở Đông Dương. Theo như ông mô tả, tình hình hầu như chẳng có hứa hẹn gì. Bắc Kỳ và Nam Kỳ nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của người Pháp, trong khi Trung Kỳ về danh nghĩa vẫn nằm dưới quyền của triều đình, nhưng thực tế cũng nằm dưới ách đô hộ thực dân. Giới vô sản thành thị chỉ chiếm 2% tổng dân số và chưa có tổ chức. Có một tầng lớp trung lưu nhỏ, chủ yếu sống ở các thành phố lớn là Hà Nội và Sài Gòn và ở các thành phố là thủ phủ của các tỉnh trên toàn đất nước, tuy nhiên, về mặt kinh tế, bộ phận dân cư này chủ yếu bao gồm Hoa kiều. Giai cấp tư sản bao gồm các tiểu thương, viên chức, cán bộ chính phủ ở cấp thấp, và thợ thủ công có rất ít và không có quan điểm chính trị kiên định, mặc dù họ thực sự có xu hướng ủng hộ sự nghiệp độc lập dân tộc. Nông dân bị đàn áp nặng nề và nếu được tổ chức họ sẽ là lực lượng đầy tiềm năng của phong trào cách mạng. Nhưng lực lượng chủ chốt trong chính sách hành động mạnh mẽ về chính trị là trí thức và học giả yêu nước. Ông nói, chính họ đã phát động các cuộc khởi nghĩa chống chính quyền trước đây. Do đó nhu cầu cấp thiết là có hoạt động phối hợp giữa những người yêu nước “cách mạng dân tộc” và một Đảng Cộng sản.

Các khuyến nghị của Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn theo chủ nghĩa  Lê-nin, như đã được phản ánh trong các “Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lê-nin. Nhưng trong bối cảnh các sự kiện đang diễn ra tại Mát-xcơ-va, nơi mà sự quan tâm dành cho các vùng thuộc địa đã giảm sút mạnh mẽ kể từ những ngày nóng vội của Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ hai, người ta nghi ngờ không biết các ý tưởng của ông có thu hút sự quan tâm của những người cấp trên không. Trong khi đó, các quan chức có ảnh hưởng ở Xô-viết dần dần nhận biết sự có mặt của nhà cách mạng trẻ đầy tham vọng đến từ Đông Dương và thực tế ông là một trong số ít nhà cộng sản châu á sống ở Mát-xcơ-va lúc đó, họ nhận thức được về những gì ông có thể làm. Trong suốt mùa hè năm 1923 đã có sự quan tâm mạnh mẽ tới quan điểm của Lê-nin về một chính phủ công nông ở các xã hội chưa trải qua thời kỳ cách mạng công nghiệp. Ở Pra-ha, các phần tử theo chủ nghĩa dân tuý đã thiết lập một “Quốc tế Xanh” nhằm nhận được sự hỗ trợ của các nhóm nông dân ở khu vực. Nổi lên trong nỗ lực này là nhà cộng sản người Ba Lan Thô-mát Đôm-ba (còn gọi là Dabal), người mà trước đó đã bị chính phủ Ba Lan bắt và đưa sang Mát-xcơ-va vào mùa xuân năm 1923 để trao đổi tù binh với nước Nga Xô-viết.

Trong bối cảnh hầu hết những người Bôn-sê-vích, phản ánh quan điểm của những người theo chủ nghĩa Mác-xít châu Âu khác đứng đầu là Các Mác, luôn nghi ngờ rằng nông dân về bản chất là “tư sản” trên cơ sở khái niệm tài sản tư nhân, rất ít quan chức của Quốc tế Cộng sản III quan tâm nhiều đến các ý tưởng của Đôm-ba, nhưng họ đồng ý thúc đẩy thực hiện những ý tưởng này. Để chuẩn bị tổ chức một hội nghị mang tính tổ chức, họ tận dụng một cuộc triển lãm nông nghiệp quốc tế ở Mát-xcơ-va vào tháng 8, và quyết định tìm kiếm một phòng họp rộng cho người nước ngoài có quan tâm đến nông thôn, những người có thể được nhận làm đại biểu của cuộc họp đó. Nguyễn Ái Quốc, dường như quan tâm đến mọi sự việc đang diễn ra ở Mát-xcơ-va, đã tham dự triển lãm khai trương lần đầu vào tháng 8, và người ta phỏng đoán rằng ông đã được chọn làm đại biểu đại diện cho Đông Dương tại Hội nghị Nông dân Quốc tế tổ chức tại Mát-xcơ-va vào ngày 10 tháng 10 năm 1923. Ông đã nói lên quan điểm của mình về vai trò của giai cấp nông dân trong báo cáo gửi Ban điều hành Quốc tế Cộng sản, khi ông nhận xét rằng vì họ bị bóc lột một cách nghiêm trọng, họ “rất yêu nước”.

Hội nghị được tổ chức tại Cung điện An-đrây-ép-xki, trong Điện Crem-lin, và Nguyễn Ái Quốc tham dự với tư cách là một trong 150 đại biểu đến từ 40 nước khác nhau. Mi-kha-in Ka-li-nin, một đảng viên kỳ cựu mới được cử làm Chủ tịch Liên bang Nga, đã phát biểu khai mạc, trong khi Bôn-sê-vích cựu trào là Gơ-ri-go-ri Di-nô-vi-ép, lúc đó là người đứng đầu Quốc tế cộng sản, đã trình bày quan điểm chính thức của Đảng về vai trò của nông dân trong cách mạng thế giới.

Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu tại Hội nghị ngày 13. Ông phát biểu bằng tiếng Pháp vì lúc đó vốn tiếng Nga của ông chưa đủ và không đề cập khả năng thông qua một “chiến lược nông thôn” ở các vùng thuộc địa cũng như việc nông dân cần phải có vai trò cụ thể trong tiến trình cách mạng châu á mà trình bày một cách đơn giản không hoa mỹ về những điều kiện khó khăn của người dân nông thôn ở nhiều xã hội thuộc địa châu á, nêu rõ ràng nông dân là những nạn nhân chịu nhiều đau khổ nhất của chế độ áp bức đế quốc trong khu vực. Ông khẳng định, Quốc tế Cộng sản sẽ trở thành Quốc tế Cộng sản theo đúng nghĩa chỉ khi có sự tham gia tích cực của đại diện của giới nông dân châu Á.

Kết thúc cuộc họp, ban tổ chức đã đồng ý thành lập Quốc tế nông dân mới (tiếng Nga là Crét-ti-an-xki Anh-téc-na-xi-o-nan, viết tắt là Krest-intern). Mục đích của tổ chức này là “thiết lập và duy trì quan hệ vững chắc với các hợp tác xã và các tổ chức chính trị và kinh tế của nông dân ở khắp các nước” và “điều phối các tổ chức nông dân và các nỗ lực của nông dân nhắm thực hiện khẩu hiệu xây dựng một chính quyền công nông”. Một Hội đồng nông dân quốc tế cũng đã được thiếp lập và Nguyễn Ái Quốc được bầu làm một trong 11 thành viên của Đoàn chủ tịch của Hội đồng. Chức vụ Tổng thư ký của Quốc tế nông dân được trao cho một quan chức có uy tín của phe Bôn-sê-vích là A-lếch-xan-đơ Xmi-nốp. Đôm-ba được cử làm trợ lý.

Tháng 12 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu theo các khoá học tại Trường đại học Lao động cộng sản phương Đông. Được thành lập theo lệnh của Lê-nin năm 1921 theo các quyết định của Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ hai vào năm trước đó, lúc đầu trường được đặt dưới quyền hạn của Uỷ ban nhân dân các dân tộc của Giô-dép Xta-lin và do đó trở nên nổi tiếng với cái tên “Trường Xta-lin”. Theo địa chỉ của Xta-lin, trường này đã trở thành học viện hàng đầu đào tạo các nhà cách mạng châu Á được mời đến nước Nga Xô-viết để học cũng như các cán bộ không phải người Nga đến từ các vùng phía đông của đế chế Sa hoàng cũ. Học viện thứ hai, Trường Quốc tế Lê-nin, được thành lập để đào tạo các cán bộ cao cấp đến từ các nước Tây Âu.

Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc có một bài báo ngắn trên tờ La Vie ouvriere (Đời sống công nhân) trong đó mô tả đặc điểm của trường, và thông tin này, cùng với tài liệu mà các sở tình báo Pháp thu thập được lúc đó và công trình mới hoàn tất của các nhà nghiên cứu Nga ở Mát-xcơ-va đã cho thấy một bức tranh khá rõ nét về trường này và các hoạt động của trường. Trong thời gian ông học ở đó, có hơn 1.000 sinh viên đến từ 62 nước khác nhau. Hầu hết những người nhập học đến từ các vùng Xô-viết chiếm đóng ở Trung á, nhưng cũng có một số người nước ngoài, trong đó có một vài người Trung Quốc và Triều Tiên. Không có sinh viên nào đến từ Đông Dương trước khi ông Nguyễn Ái Quốc đến. Gần 900 người là đảng viên của các Đảng Cộng sản và khoảng 150 người là phụ nữ. Khoảng một nửa trong số đó xuất thân từ các gia đình nông dân, trong khi số người còn lại là công nhân và “các trí thức vô sản”.

Có 150 giáo viên ở trường, dạy nhiều khoa học khác nhau, trong đó có khoa học xã hội và tự nhiên, toán học, lịch sử cách mạng và phong trào công nhân và học thuyết Mác về chủ nghĩa duy vật lịch sử. Dạy học không dùng các bài giảng mà qua việc sử dụng phương pháp Xô-crát, theo đó sinh viên được giao cho các chủ đề cá nhân để chuẩn bị với sự giúp đỡ của giáo viên và thảo luận trên lớp. Các giáo trình gồm có cuốn Nhà nước và Cách mạng của Lê-nin, Cách mạng tháng Mười và các chiến thuật của chủ nghĩa Cộng sản Nga của Xta-lin, và cuốn Lịch sử Nga: Một chặng đường ngắn của I.M.I-a-rốt-láp-xki. Trường là một toà nhà mười tầng với trụ sở đặt ở tu viện cổ ở phố Vớt-kai-a (nay là Gorki) và các quán cà-phê và nhà ở tập thể ở gần đồn công an cũ.

Trường được quản lý theo quy định nghiêm ngặt của quân đội và sinh viên không chỉ học trên lớp mà còn được đào tạo nghiệp vụ quân sự và được dạy về các hoạt động cách mạng có ích như làm thế nào để kêu gọi đình công và tuyên truyền. Ban đầu các lớp được dạy bằng tiếng Pháp hoặc bằng tiếng mẹ đẻ của sinh viên, nhưng sau đó sinh viên được khuyến khích nói chuyện bằng tiếng Nga (một yêu cầu không phải lúc nào cũng được thực hiện). Chỗ ở được miễn phí nhưng tất cả các sinh viên được khuyến khích thay phiên nhau làm các công việc hành chính hoặc làm việc trong nhà bếp. Các chi bộ đảng được thành lập để kiểm soát hành vi của các đảng viên và bảo đảm sự chính thống về tư tưởng. Khi nhập học, mỗi sinh viên được đặt cho một biệt hiệu và chỉ có cán bộ an ninh của trường mới biết được lai lịch của sinh viên đó.

Học ở trường không phải là khó nhọc lắm. Năm học bắt đầu từ tháng 9 đến đầu tháng 7 trong đó có 3 tuần nghỉ Nô-en và một tuần nghỉ vào mùa xuân. Mỗi tuần sinh viên được đến rạp chiếu phim hai lần và có hai trại ở Crimea để sinh viên tham gia các hoạt động vừa làm việc vừa học tập trong kỳ nghỉ hè. Ở đó một số sinh viên được dạy cách nuôi gia súc, trong khi những người khác trồng trọt trên một trăm mẫu đất để làm thực phẩm phục vụ trại hè. Trong suốt kỳ nghỉ, sinh viên giúp nông dân địa phương thu hoạch hoặc tham gia các dịch vụ cộng đồng khác. Tuy nhiên, nhiều sinh viên, có thể do không quen với cái lạnh kinh khủng của mùa đông nước Nga, bị ốm và vì lý do đó mà một số bị loại không được tham gia chương trình nữa. Một sinh viên Việt Nam bị mắc bệnh lao và yêu cầu được chuyển đến một thành phố ở phía Nam Liên-Xô.

Như Nguyễn Ái Quốc mô tả trong bài báo của mình, trường là một nơi thanh bình để học tập. Có hai thư viện với 47.000 đầu sách và mỗi quốc gia có học sinh học ở trường có một ngăn sách và tạp chí bằng ngôn ngữ của quốc gia đó. Các sinh viên “nghiêm túc và đầy nhiệt huyết” và “có niềm đam mê cháy bỏng muốn thu kiến thức và học tập”. Nhân viên và giáo viên đối xử với các sinh viên nước ngoài “như những người anh em” và thậm chí còn mời họ “tham gia vào đời sống chính trị của đất nước”.

Nguyễn Ái Quốc không hài lòng với mọi mặt của trường này. Chẳng bao lâu sau khi tham dự lễ kỷ niệm lần thứ ba của trường vào tháng tư năm 1924, ông viết một bức thư gửi đồng chí Pê-tơ-rốp, thư ký của Văn phòng Viễn Đông, phàn nàn rằng thực ra không có người Việt Nam nào học tại trường và gợi ý rằng cần xây dựng một khu riêng cho sinh viên châu Á. Ông nêu rõ, trường Xta-lin làm một khuôn mẫu định hướng tư tưởng của thế hệ các nhà cách mạng châu á sau này và sẽ trở thành cơ sở để cuối cùng thành lập một “hiệp hội” Cộng sản của phương Đông.

Trường Xta-lin có hai cấp-một chương trình cơ bản kéo dài 3 năm về chủ nghĩa Mác-Lê-nin và các ngành khoa học, và một “khoá ngắn hạn” trong khoảng 7 tháng cho các sinh viên học ngắn hạn. Nguyễn Ái Quốc theo học khoá ngắn hạn, có lẽ vì ông đang làm việc cho Quốc tế Cộng sản và không có ý định ở lại thêm Mát-xcơ-va. Ông cũng tham gia một số tổ chức khác do Xô-viết thành lập cách đó ít lâu, thí dụ như Quốc tế Lao động đỏ, Quốc tế Thanh niên và Quốc tế phụ nữ. Rõ ràng là giới lãnh đạo Quốc tế Cộng sản coi ông là biểu tượng của các dân tộc thuộc địa, người đóng góp một nét châu á cho vô số các hoạt động mặt trận được thành lập trong những ngày tháng sôi động ấy. Đầu tháng 5 năm 1924, ông được mời tham gia các lễ kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động hằng năm và nói chuyện về tình đoàn kết công nhân quốc tế tại các lễ hội ở Quảng trường Đỏ. Hai tháng sau, ông tham gia vào Đại hội lần thứ ba Quốc tế Lao động Đỏ với tư cách là đại diện của Đông Dương. Ông cũng tham dự Đại hội phụ nữ quốc tế, nơi mà ông có cuộc nói chuyện ngắn với người vợ goá của Lê-nin là bà Na-đê-đa Cờ-rúp-xkai-a. Qua vô số các hoạt động khác nhau ấy, Nguyễn Ái Quốc dần dần trở thành một nhân vật nổi tiếng ở Mát-xcơ-va và quen biết các nhân vật chủ chốt của phong trào Cộng sản quốc tế, thí dụ Bôn-sê-vích cựu trào Ni-cô-lai Bu-kha-rin, nhà cộng sản Phần Lan ốt-tô Ku-xi-nen, lãnh đạo Quốc tế Cộng sản người Bun-ga-ri Gioóc-giơ Đi-mi-tơ-rốp và Ơn Tha-man, một đảng viên đứng đầu Đảng Cộng sản Đức. Ông cũng gặp một số đồng chí người Trung Quốc đang theo học tại trường (trong đó có thủ tướng tương lai Chu Ân Lai, người mà ông đã gặp lần đầu tại Pa-ri), cũng như cố vấn trưởng quân đội của Tôn Dật Tiên là Tưởng Giới Thạch, người đã thăm Mát-xcơ-va trong 3 tháng vào cuối mùa hè và mùa thu năm 1923.

Nhìn chung, người quen của ông có vẻ quý mến ông. Rút Phích-xơ, một nhà cộng sản có uy tín người Đức, nhận xét rằng tuy ông không gây được ấn tượng lúc ban đầu nhưng chẳng bao lâu sau ông được tất cả mọi người kính trọng và yêu mến nhờ “đức tính tốt và sự giản dị”. Là một người hành động thực tế hơn là một nhà lý thuyết, ông tỏ ra thông thạo trong việc tránh các tranh chấp bè nhóm căng thẳng đã bắt đầu nảy sinh trong giới lãnh đạo Xô-viết và cuối cùng dẫn đến sự suy yếu của Đảng Bôn-sê-vích (sắp được đổi tên thành Đảng Cộng sản Liên bang Xô-viết, gọi tắt là CPSU) và Quốc tế Cộng sản trong thập kỷ sau đó. Thời kỳ của Chính sách kinh tế mới là một khoảng giao thời tương đối ngắn khi mà đối với nhiều người dân Xô-viết và người nước ngoài tương lai lẽ ra phải sáng sủa hơn. Nội chiến kết thúc, Liên-Xô đã bãi bỏ chính sách cưỡng chế và áp bức những kẻ thù tiềm tàng và bắt đầu khuyến khích dân tham gia việc xây dựng nền kinh tế (“làm giàu cho mình” là một khẩu hiệu phổ biến vào thời đó). Đời sống văn hoá vẫn phong phú và đa dạng, vì các nhà văn, nghệ sĩ và tác giả Xô-viết tìm cách tạo nên một phương tiện cách mạng mới có thể diễn tả một cách chính xác những thay đổi sâu sắc đang diễn ra trên đất nước. Một vài năm sau đó, với thái độ kiên quyết của Xta-lin, thời kỳ này bất ngờ đi đến chỗ kết thúc.

Rõ ràng là Nguyễn Ái Quốc không bị mất đi nhiệt huyết cách mạng một chút nào. Nhà báo Ô-síp Man-đê-xtam, người đã phỏng vấn ông cho tạp chí Ogonyok (Ngọn lửa nhỏ) vào tháng 12 năm 1923, nhận thấy rằng người đàn ông trẻ tuổi này có đầy đủ phẩm chất của tầng lớp trí thức Nho giáo, có đôi mắt to đen láy, và khi ông nói về các điều kiện sống ở đất nước ông, toàn thân ông như không kìm nén được và đôi mắt ông dường như ánh lên dữ dội. Trong cuộc phỏng vấn, ông đã nói đến từ “văn minh hoá” với thái độ ghê tởm và chỉ trích gay gắt Nhà thờ Cơ-đốc giáo ở Đông Dương vì đã chiếm gần một phần trăm đất canh tác của đất nước. Theo Bo-rít-xơ Xu-va-rin, nhà cộng sản người Pháp, người mà sau đó đã từ bỏ phong trài cách mạng, thì Nguyễn Ái Quốc giờ đã trở thành “một người theo Xta-lin hoàn toàn”.

Chỉ có một người trong số những người quen của ông lúc đó tỏ ra đánh giá thấp ông Nguyễn Ái Quốc. Nhà cộng sản lỗi lạc người Ấn Độ M.N.Roi, người mà sau đó là đại diện của Quốc tế Cộng sản ở Trung Quốc và (theo quan điểm của nhiều nhà quan sát) người mà việc thiếu trình độ là yếu tố chính dẫn đến sự thất bại của các nhà cộng sản Trung Quốc dưới bàn tay của Tưởng Giới Thạch năm 1927, cảm thấy rằng người thanh niên Việt Nam này về tư tưởng cũng như hình dáng không có gì gây ấn tượng và là một sinh viên nghèo nữa. Thật mỉa mai, Nguyễn Ái Quốc lại là một trong số ít người ở Mát-xcơ-va đồng ý luận chứng của Roi rằng cách mạng châu á là bước khởi đầu quan trọng để lật đổ chủ nghĩa tư bản thế giới.

Nguyễn Ái Quốc cũng giành nhiều thời gian để viết, ông là cộng tác viên thường xuyên cho các tờ báo cánh tả của Pháp và cho báo chí Xô-viết, xuất bản một số bài báo trên tờ Inprecor (cơ quan ngôn luận chính thức của Quốc tế cộng sản). Chủ đề của bài báo rất phong phú, nhưng luôn luôn có thiên hướng cách mạng. Ông viết về sự áp bức của chủ nghĩa đế quốc ở Trung Quốc, về các hoạt động của Đảng 3K ở Hoa Kỳ, về cuộc sống sôi động của nhân dân Liên bang Xô-viết, và tất nhiên là về sực bóc lột dân bản địa ở châu á và châu Phi của thực dân. Cùng với các sinh viên Trung Quốc ở Trường Xta-lin, ông đã chủ biên một cuốn sách nhỏ Trung Quốc và Thanh niên Trung Quốc, xuất bản năm 1925 bằng tiếng Trung Quốc, tiếng Pháp và tiếng Nga. Ông cũng viết về lịch sử Đông Dương dưới chế độ Pháp thuộc, mà theo hồ sơ của Quốc tế Cộng sản thì cuốn sách này vẫn chưa được xuất bản.

Tuy nhiên, bài viết chính của Nguyễn Ái Quốc trong thời gian ông ở Mát-xcơ-va là Le procès de la colonisation fransaise, được dịch sang tiếng Anh là “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Dựa trên những bài báo mà ông đã viết khi sống ở Pa-ri cũng như bản thảo có tựa đề Những người bị áp bức biến mất trước khi xuất bản năm 1920, cuốn sách được hoàn thành ở Mát-xcơ-va và do nhà xuất bản Lao động ấn hành ở Pa-ri năm 1926, một thời gian dài sau khi ông rời Pháp đi Mát-xcơ-va. Đây là một bản cáo trạng không có trật tự về điều kiện của thuộc địa trên toàn thế giới và kết thúc bằng lời kêu gọi thiết tha thanh niên Đông Dương vùng lên chống những kẻ bóc lột. Nhiều tư liệu trong cuốn sách nói về Đông Dương nhưng cũng có những chỗ đề cập các thuộc địa châu Phi. Mặc dù có thể đó là một trong những tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Hồ Chí Minh, cuốn sách được bố cục rất tồi và viết dở đến mức một nhà chuyên viết tiểu sử đã dự đoán rằng nó có thể do người Việt Nam nào khác viết và sau đó được in dưới cái tên của ông. Nhưng lời văn và phong cách thì rất gần với các bài viết khác của Nguyễn Ái Quốc mà hầu hết các học giả khó có thể nghi ngờ về việc nó có phải là tác phẩm của ông hay không. Điều có thể nói về cuốn sách này là nó cho thấy bằng chứng là đã được viết một cách vội vàng.

Trong tất cả những phát biểu công khai, Nguyễn Ái Quốc dường như vẫn là một người có lòng tin đích thực. Những bài viết của ông về Liên bang Xô-viết đều có những lời lẽ ca ngợi và dường như sự ngưỡng mộ của ông đối với Lê-nin là vô bờ. Rõ ràng là ông đã rất thất vọng khi không thể gặp được nhà lãnh đạo đảng Bôn-sê-vích cho tới tận trước khi ông qua đời. Khi được hỏi về mục đích chuyến đi khi ông đến Pê-trô-grát vào tháng 7 năm 1923, ông trả lời rằng ông muốn được gặp Lê-nin và rất buồn rầu khi biết là nhà lãnh đạo Xô-viết bị ốm. Tháng 1 sau đó, ông đau khổi khi biết rằng Lê-nin đã qua đời. Giô-van-ni Giơ-man-tê-nô, một người Ý quên ông, đã kể lại: “Mát-xcơ-va tháng 1 năm 1924. Mùa đông nước Nga đang ở vào thời kỳ lạnh giá nhất. Đôi khi nhiệt độ xuống đến mức âm 40 độ. Vài ngày trước Lê-nin qua đời. Buổi sáng hôm đó, một tiếng gõ cửa nhẹ ở phòng chúng tôi trong khách sạn Lux đã đánh thức tôi. Cửa mở và một người đàn ông trẻ gầy gò bước vào. Ông nói ông là người Việt Nam, tên là Nguyễn Ái Quốc. Ông cũng nói là ông định đến Nhà Công đoàn để tiễn biệt Lê-nin.

Tôi nói với ông rằng ông mặc quá phong phanh so với thời tiết giá lạnh ở bên ngoài. Tôi nói rằng ông nên đợi, chúng tôi sẽ đưa cho ông một số quần áo ấm. Nguyễn Ái Quốc thở dài và ngồi xuống uống trà với chúng tôi, và cuối cùng về phòng ông. Chúng tôi nghĩ rằng ông đã nghe theo lời khuyên của chúng tôi và đã ở lại trong phòng. Khoảng 10 giờ tối hôm đó, tôi lại nghe thấy một tiếng gõ cửa nhẹ. Đó là đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Mặt xanh nhợt, và mắt, mũi, các ngón tay cũng xanh nhợt do cái lạnh tê tái. Nguyễn Ái Quốc nói rằng vừa gặp đồng chí Lê-nin. Ông lạnh run lên trong khi giải thích với chúng tôi rằng ông không thể chờ đến sáng mai để tiễn đưa người bạn tốt nhất của nhân dân thuộc địa… Cuối cùng ông hỏi chúng tôi có trà nóng không”.

Theo ông Ép-ghê-nhi Cô-bê-lép, người Xô-viết, nhà viết tiểu sử Hồ Chí Minh, sau khi tham dự đám tang Lê-nin trở về, Nguyễn Ái Quốc tự nhốt mình trong phòng và viết một bài về sự đau khổ của ông trước cái chết của nhà lãnh đạo Bôn-sê-vích hào hiệp, người đã dành thời gian và sức lực để chăm lo cho việc giải phóng nhân dân thuộc địa. Ông kết luận “Trong cuộc đời mình , Lê-nin là người cha, người thầy, người đồng chí và người cố vấn của chúng ta. Giờ đây, ông là ngôi sao soi đường cho chúng ta trong quá trình cách mạng xã hội. Lê-nin vẫn sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Ông là bất tử.”

Tuy nhiên, một số tiểu tiết lại cho thấy rằng không phải tất cả mọi thứ đều có thể mê hoặc ông. Khi chuyển đến khách sạn Lux vào đầu tháng 12 năm 1923, ông được xếp ở một phòng nhỏ gồm có 4 hay 5 sinh viên rõ ràng là không làm ông hài lòng. Tháng 3 sau đó, ông viết một bức thư phàn nàn về các điều kiện – ban ngày thì ông bị đánh thức bởi tiếng ồn, ban đêm thì tiếng côn trùng làm ông không ngủ được – và ông tuyên bố rằng ông rút lại 5 rúp tiền thuê phòng một tháng để phản đối. Cuối cùng ông cũng được thu xếp ở phòng khác.

Trong một tư liệu quan trọng hơn, Nguyễn Ái Quốc không phải lúc nào cũng hài lòng với các quyết định chiến lược. Trong nhiều tháng trời, ông đã khuấy động những người quen của mình về vấn đề chủ nghĩa thực dân. Tháng 2 năm 1924, ông viết cho một người bạn ở trụ sở Quốc tế Cộng sản (có thể là Đi-mi-tơ-ri Ma-nu-xki) để cảm ơn vì đã nêu vấn đề thuộc địa tại hội nghị của Đảng Cọng sản Pháp tại Ly-ông. Cũng trong ngày hôm đó, ông viết thư cho Tổng Thư ký Quốc tế Cộng sản Gờ-ri-gô-ri Di-nô-vi-ép yêu cầu được phỏng vấn để thảo luận vấn đề thuộc địa. Không có hồi âm, ông viết một lá thư thứ hai phàn nàn rằng ông không nhận được hồi âm về đề nghị phỏng vấn của mình. Không có biểu hiện gì là Di-nô-vi-ép đã trả lời đề nghị của ông.

Không chắc điều mà ông muốn thảo luận với Di-nô-vi-ép là gì, nhưng trong một bài báo xuất bản trong số tháng 4 của tờ Inprecor có tựa đề “Đông Dương và Thái Bình Dương”, Nguyễn Ái Quốc đã tuyên bố rằng mặc dù thoạt nhìn vấn đề châu Á không có liên quan gì đến các công nhân châu Âu, trên thực tế vấn đề Đông Dương và châu Á có tầm quan trọng đối với công nhân trên tất cả các nước. Ông nói, bóc lột của thực dân ở khu vực không chỉ làm giàu cho các nhà tư bản và các chính trị gia làm bừa, mà còn có nguy cơ làm bùng nổ một cuộc chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc mới. Những hành động đó đã trở thành mối đe doạ đối với công nhân ở Đông Dương và Châu Á và cả với giai cấp vô sản quốc tế nữa.

Khi đề cập mốí quan hệ giữa các điều kiện ở châu Âu và châu Á, Nguyễn Ái Quốc, không biết là cố tình hay vô ý, đã đề cập đến một khu hầm mỏ lúc đó đang là đề tài của các cuộc tranh luận gay gắt ở các cuộc họp của Quốc tế Cộng sản kể từ sau Đại hội thứ hai năm 1920. Những người phát ngôn của nhân dân phương Đông thuộc địa như M.N.Roi đã tranh luận rằng một giải pháp cho “vấn đề phương Đông“ là cần thiết quyết định số phận cuối cùng của cách mạng thế giới, nhưng nhiều nhà cộng sản châu Âu phản bác lại rằng không thể có cách mạng ở châu á chừng nào các đảng Cộng sản chưa cầm quyền ở các nước châu Âu.

Lúc đầu, những người chủ trương một chiến lược dựa vào châu Á có thuận lợi là có bạn bè ở địa vị cao-trong đó có Lê-ni và thậm chí cả Giô-dép Xta-lin đến những người rõ ràng là thấu hiểu các quan điểm của họ. Nhưng cho đến năm 1924, Lê-nin mất và Xta-lin đến trở nên bận rộn với cuộc đấu tranh nội bộ đảng để giành vị trí chủ chốt ở Mát-xcơ-va. Di-nô-vi-ép, người lúc đó đang đứng đầu Quốc tế Cộng sản, tỏ ra không hứng thú gì với vấn đề này. Nhà cộng sản người Hà Lan, ông Ma-rinh, đã rời bỏ Quốc tế Cộng sản và ngay cả Ma-nu-xki, nhà bảo trợ lúc đầu của Nguyễn Ái Quốc, là một người U-crai-na và biết rất ít về châu á đã tập trung hoạt động của mình ở vùng Ban-căng.

Khi đó người ta chẳng quan tâm gì đén vai trò của nông dân. Sau sự khởi đầu rầm rộ, Cơ-rét-xơ-tin-tơn đã mất thanh thế và không được các quan chức trong đảng quan tâm đến công nhân ở Mát-xcơ-va để ý đến. Ngay cả Ni-cô-lai Bu-kha-rin, một trong những nhà lãnh đạo có hiểu biết hơn của đảng Bôn-sê-vích, đã nhắc đến Thô-mát Đôm-ba như một “tầm nhìn của nông dân”. Nguyễn Ái Quốc đã cố gắng không để cho vấn đề này bị lãng quên và đã nói lên vấn đề giai cấp nông dân tại một hội nghị của Cơ-rét-xơ-tin-tơn vào tháng 6 năm 1924, nhưng ông ít được hưởng ứng. Khi nhận xét với một người bạn, ông đã coi mình như một “tiếng khóc mờ nhạt trên chính trường”.

Đại hội lần thứ năm Quốc tế Cộng sản tổ chức vào đầu mùa hè năm 1924, là một cơ hội hiếm hoi cho Nguyễn Ái Quốc trình bày quan điểm của mình trong một tổ chức lớn hơn Quốc tế Cộng sản, Đại hội thực ra có thể là lý do ban đầu cho việc ông đến Mát-xcơ-va, khi mà Đi-mi-tơ-ri Ma-nui-xki coi ông là một nguồn thông tin vì ông sẽ phát biểu về vấn đề thuộc địa tại hội nghị. Vì ở Đông Dương chưa có Đảng Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia hội nghị với tư cách là đoàn viên của đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp.

Đại hội lần thứ năm khai mạc vào ngày 17 tháng 6 và các phiên họp diễn ra tại Nhà hát lớn ở trung tâm Mát-xcơ-va. Hơn 500 đại biểu đại diện cho gần 50 nước đã tham dự. Ban lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản ngày càng trở nên nhạy cảm với những lời buộc tội của những người đồng chí châu á về thái độ xao lãng và đã quyết định dành một phiên đặc biệt thảo luận về vấn đề thuộc địa và các vấn đề liên quan đến các dân tộc không phải là người Nga. Ngoài ra, Đại hội đã thành lập một uỷ ban giải quyết vấn đề này. Nhưng Đại hội lại diễn ra vào lúc cao điểm của cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa Xta-lin và đối thủ của ông là Lê-ôn Trốt-xki, và các thành viên hàng đầu của Đảng Cộng sản Liên bang Xô-viết bận rộn với cuộc đấu tranh trong điện Crem-lanh nên chẳng quan tâm đến vấn đề phương Đông. Trong phát biểu khai mạc, Tổng Thư ký Di-nô-vi-ép, ít lâu sau trở thành một trong những thách thức lãnh đạo Đảng của Xta-lin, chỉ nhắc qua vấn đề quốc gia và thuộc địa chủ yếu tập trung vào các nước ở Đông Âu. Có thể là do Nguyễn Ái Quốc hối thúc – người mà có thể trước đó đã làm phiền ông về việc nêu vấn đề đó-ông đã chỉ trích Đảng Cộng sản Pháp đã không quan tâm đầy đủ đến vấn đề thuộc địa.

“Ngay từ đầu, Nguyễn Ái Quốc đã làm cho mọi người biết đến sự có mặt của ông. Trong phiên khai mạc, khi đại biểu Va-xi-li Cô-la-rốp đang đọc bản thảo nghị quyết được chuẩn bị công bố sau khi nghỉ, Nguyễn Ái Quốc đã hỏi liệu Đại hội có đáp ứng một lời kêu gọi đặc biệt cho nhân dân các nước thuộc địa không. Cô-la-rốp lo ngại trả lời rằng vấn đề thuộc địa đã có trong chương trình nghị sự rồi và do đó bất cứ đại biểu nào cũng có thể nêu lên tại hội nghị. Nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn giữ ý kiến của mình và yêu cầu mọi bài phát biểu đều phải có câu “đối với nhân dân các nước thuộc địa”. Đề nghị này đã được các đại biểu chấp thuận.”

Ngày 23 tháng 6, Nguyễn Ái Quốc phát biểu, ông nói với các đại biểu: “Tôi có mặt ở đây, để liên tục nhắc nhở Quốc tế Cộng sản về sự tồn tại của các thuộc địa và để nêu rõ rằng cuộc cách mạng phải đối mặt với một hiểm hoạ từ các nước thuộc địa cũng như một tương lai huy hoàng ở các thuộc địa. Dường như những người đồng chí không hiểu hết một thực tế là số phận của giai cấp vô sản thế giới, và đặc biệt là số phận của giai cấp vô sản ở các nước hiếu chiến đã xâm lược các thuộc địa, có gắn liền với số phận của những người bị áp bức ở các thuộc địa. Nếu điều này là đúng thì tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có thể hoặc, nếu cần thiết, tạo cơ hội để chỉ rõ tầm quan trọng của ván đề thuộc địa…

Các bạn phải tha thứ cho sự thẳng thắn của tôi, nhưng tôi không thể không nhìn nhận rằng các bài phát biểu của các đồng chí từ mẫu quốc đã để lại cho tối ấn tượng rằng họ muốn giết một con rắn bằng cách đánh giập đuôi. Tất cả các bạn đều biết rằng ngày nay cả nọc độc và sức sống của con rắn tư bản tập trung nhiều ở thuộc địa hơn là ở mẫu quốc. Thuộc địa cung cấp nguyên liệu thô cho công nghiệp. Thuộc địa cung cấp lính cho quân đội. Trong tương lai, các thuộc địa sẽ là những thành trì phản cách mạng. Tuy nhiên, trong các cuộc thảo luận về cách mạng, các bạn đã bỏ qua không nói về thuộc địa. Nếu bạn muốn đập vỡ một quả trứng hay một hòn đá, bạn phải cần tìm một công cụ mà sức mạnh của nó tương ứng với vật mà bạn định làm vỡ. Tại sao trong cuộc cách mạng này bạn lại không làm cho sức mạnh và sự tuyên truyền của bạn ngang tầm với kẻ thù mà bạn định đánh bại? Tại sao bạn lại bỏ qua thuộc địa, tại sao chủ nghĩa tư bản lại sử dụng chúng để hỗ trợ cho chính nó, tự bảo vệ và đánh bại bạn?”

Ngày 1 tháng 7, ông Nguyễn Ái Quốc một lần nữa lại phát biểu để nhấn mạnh việc Đi-mi-tơ-ri Ma-nu-xki chỉ trích các Đảng Cộng sản châu Âu đã thất bại trong việc giải quyết vấn đề thuộc địa. Trong một báo cáo dài, ông đã nêu ra không chỉ các Đảng Cộng sản Pháp mà các Đảng Cộng sản Anh và Hà Lan thiếu nỗ lực thực hiện một chính sách thuộc địa mạnh mẽ và liên lạc với các bộ phận cách mạng ở các nước thuộc địa. Khi nêu ra thực tế là các tờ báo của Đảng Cộng sản Pháp đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội để làm cho độc giả chý ý đến vấn đề này, ông kêu gọi cần có một số biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình. Trong bài phát biểu tại hội nghị về nông dân, ông đã không khẳng định vai trò trung tâm của nông thôn trong cuộc cách mạng tới, nhưng ông đã cố gắng chỉ ra rằng nông dân sẽ đóng vai trò tích cực.

Trong tất cả các thuộc địa của Pháp, nạn nghèo đói đều tăng, sự phẫn uất ngày càng lên cao. Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã chín muồi. Ở nhiều nước thuộc địa, họ đã vài lần nổi dậy nhưng lần nào cũng bị dìm trong máu. Nếu hiện nay nông dân vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực, thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo. Quốc tế Cộng sản cần phải chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng.

Với những gì ông làm tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ năm, Nguyễn Ái Quốc đã làm cho các nhà lãnh đạo của phong trào cộng sản thế giới để ý. Hoạ sĩ người Liên-Xô, ông N.I Cơ-rốp-chen-kô đã yêu cầu ông cho vẽ chân dung, bức chân dung này sau đó xuất hiện trên tờ Rabôtaya Gazeta (Tạp chí Công nhân) vào cuối tháng 7, trong khi tờ Prav-da kể lại các nhận xét của ông với tựa đề mang tính khiêu khích là “Từ lời nói đến việc làm, Phát biểu của đại biểu Đông Dương Nguyễn Ái Quốc”. Lúc đó, ông vẫn theo chính sách chính thức nhưng chẳng bao lâu sau việc ông nhấn mạnh vào tầm quan trọng của giai cấp nông dân đối với cuộc cách mạng ở châu Á bị coi là lập dị và bị trừng phạt nặng nề ở Mát-xcơ-va.

Kết quả là Đại hội không mang lại sự thay đổi nào đối với chính sách của Quốc tế Cộng sản, nhưng nó đã cho thấy nhận thức về vấn đề thuộc địa đã được cải thiện. Giới lãnh đạo dường như đã nhận ra là phải cần thiết tăng cường tuyên truyền và vận động ở các vùng thuộc địa, và đã thiết lập một uỷ ban về tuyên truyền quốc tế. Nguyễn Ái Quốc được coi là một trong những thành viên sáng lập ra uỷ ban này. Tuy nhiên, Đại hội đã không đưa một tuyên bố đặc biệt nào về vấn đề thuộc địa vào nghị quyết cuối cùng-một sai sót sau này đã được sửa chữa tại Đại hội 4 năm sau đó. Nhưng Quốc tế Cộng sản đã đưa ra một lời kêu gọi rộng rãi “những người nô lệ ở thuộc địa”, như Nguyễn Ái Quốc đã đề xuất tại phiên khai mạc.

Dù có phải là đáp lại sự chỉ trích của Nguyễn Ái Quốc hay không, lãnh đạo Quốc tế Cộng sản đã bắt đầu chú ý đến việc đưa nhiều nhà cách mạng châu Á hơn sang học ở Liên-Xô. Trong những năm sau khi Đại hội diễn ra, nhiều người ở châu á hơn, trong đó có hơn 100 người Việt Nam được cử đến Mát-xcơ-va hoặc Lê-nin-grát (thành phố Pê-trô-grát lấy tên này sau khi Lê-nin mất) để đào tạo và cuối cùng trở về quê hương để hoạt động cách mạng. Nhóm đầu tiên gồm ba người Việt Nam đã đến từ Pháp vào giữa năm 1925.

Bộ máy trung tâm của chương trình đào tạo các nhà cách mạng châu Á vẫn là trường Xta-lin. Về phần mình, Đảng Cộng sản Pháp đã được chỉ dẫn sửa những sai lầm của mình. Uỷ bân nghiên cứu thuộc địa được tổ chức lại thành Uỷ ban Thuộc địa, đứng đầu là Giăc Đô-ri-ốt. Đầu năm 1925, Đảng đã thành lập một trường thuộc địa bí mật gần cửa ô Cơ-li-nhăng-cua vùng ngoại ô phía bắc Pa-ri để đào tạo các nhà cách mạng từ các thuộc địa để chuẩn bị học ở Liên-Xô. Trong lớp đầu tiên, một trong tám sinh viên là người Việt Nam. Trong nhiều năm sau, nhóm từ 5 đến 10 người Việt Nam đến Mát-xcơ-va hằng năm. Đa số đến từ Pháp nhưng có một số người đến thẳng từ Đông Dương.

Việc Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ năm đã đánh dấu sự chấm dứt giai đoạn ông học làm cách mạng và bắt đầu giai đoạn nhà lãnh đạo châu Á của phong trào cộng sản quốc tế. Giờ đây ông được công nhận là người phát ngôn về vấn đề phương Đông và ủng hộ chính sách quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề liên quan đến giai cấp nông dân. Bằng lòng với chính mình và thoả mãn mong muốn được hướng Quốc tế Cộng sản chú ý hơn đến vấn đề thuộc địa, ông cảm thấy đã hoàn thành nhiệm vụ ở Mát-xcơ-va và sẵn sàng quay lại châu Á để phát động quá trình xây dựng phong trào cách mạng ở Đông Dương.

Lúc đầu, Nguyễn Ái Quốc đến Mát-xcơ-va với ấn tượng rằng ông sẽ chỉ ở đó trong thời gian ngắn trước khi trở về tổ quốc. Trong một bức thư gửi Ban Điều hành Quốc tế Cộng sản tháng 4 năm 1924, ông đã phàn nàn rằng cả Ban Quốc tế Cộng sản lẫn Đảng Cộng sản Pháp đều không biết nhiều về tình hình ở các thuộc địa của Pháp. Ông khẳng định điều thiết yếu là phải thiết lập kênh liên lạc với thuộc địa, và ông tự cử mình làm sĩ quan liên lạc. Bức thư đã bày tỏ một cách đầy đủ ý định của ông: “Khi tôi đến Mát-xcơ-va, tôi đã quyết định rằng sau 3 tháng ở đây, tôi sẽ đi Trung Quốc để thiết lập kênh liên lạc với đất nước. Tôi ở đây đến nay đã là tháng thứ chín rồi và đây là tháng thứ sáu mà tôi chờ, tuy nhiên việc tôi đi vẫn chưa được quyết định. Tôi không cảm thấy cần thiết phải nói với các bạn về các phong trào cách mạng hay quốc gia dù cũ hay mới, về sự tồn tại hay không tồn tại của các tổ chức công nhân, hay về các hoạt động của các tổ chức bí mật và các nhóm khác, bởi vì ở đây tôi không có ý định trình bày một luận án, nhưng tôi muốn nêu rõ sự cần thiết là chúng ta phải nghiên cứu tình hình một cách thận trọng và nếu không thì cũng tạo ra một cái gì đó.

Chuyến đi của tôi sẽ là chuyến đi điều tra và nghiên cứu. Tôi phải cố gắng. a) thiết lập các kênh liên lạc giữa Đông Dương với Quốc tế Cộng sản, b) nghiên cứu tình hình chính trị, kinh tế và xã hội ở thuộc địa đó, c) thiết lập kênh liên lạc với các tổ chức đã có từ trước, d) cố gắng tổ chức một cơ sở thông tin và tuyên truyền.

Làm thế nào tôi có thể hy vọng hoàn thành công việc đó? Trước hết, tôi phải đi Trung Quốc. Từ đó, làm bất cứ gì trong khả năng có thể. Số tiền cần có để hỗ trợ cho các hoạt động của tôi sẽ là bao nhiêu? Tôi sẽ phải di chuyển nhiều, duy trì quan hệ với nhiều nhóm, trả tiền thư từ, mua các ấn phẩm phát hành ở Đông Dương, thu xếp chỗ ăn ở, v.v… Sau khi thảo luận với các đồng nghiệp người Trung Quốc ở đây, tôi dự tính là tôi sẽ cần một ngân sách khoảng 100 đô-la một tháng, không kể tiền đi từ Nga đến Trung Quốc. Tôi không tính tiền thuế. Tôi hy vọng rằng những điều trên đây sẽ là cơ sở để thảo luận vấn đề tôi trở lại Viễn Đông”.

Nguyện vọng trở lại châu Á của Nguyễn Ái Quốc có thể đã trở nên mạnh mẽ hơn sau các cuộc nói chuyện với nhân viên người Liên-Xô là S.A. Đa-lin, vừa tiến hành các hoạt động tuyên truyền ở Quảng Châu về. Ở Quảng Châu, nhà yêu nước người Trung Quốc Tôn Dật Tiên đã thiết lập các trụ sở tạm thời của phong trào cách mạng. Năm trước đó, ông Tôn đã ký một thoả thuận cho phép một phái đoàn tư vấn Xô-viết dưới sự lãnh đạo của nhân viên Quốc tế Cộng sản Mi-kha-in Bô-rô-đin đóng ở Quảng Châu để giúp tổ chức lại Quốc dân đảng của ông Tôn theo đường lối của chủ nghĩa Lê-nin. Đa-lin đã là thành viên của nhóm đến Quảng Đông cùng với Bô-rô-đin vào tháng 10. Khi trở về Mát-xcơ-va, Đa-lin ở khách sạn Lux, nơi mà ông gặp Nguyễn Ái Quốc và nói chuyện với ông về các điều kiện ở nam Trung Quốc. Rõ ràng là Nguyễn Ái Quốc đã rất vui mừng khi được biết là có một số đáng kể người Việt Nam di cư ở đó tham gia các hoạt động nhằm tiêu diệt chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương.

Tuy nhhiên, vì nhiều lý do, chuyến đi của ông bị trì hoãn. Tháng 4 năm 1924, ông đã được cử đến I-a-cút, ở vùng Xi-bê-ria Liên-Xô, để hộ tống một đoàn đại biểu Trung Quốc đến Mát-xcơ-va. Chẳng bao lâu sau khi quay trở lại, người bảo hộ của ông là Đi-mi-tơ-ri Ma-nu-xki đã gọi ông đến. Ma-nu-xki chào ông: “Thế nào, đồng chí, đồng chí có muốn chiến đấu không?”. Nguyễn Ái Quốc nhân dịp này nói lên quan điểm của mình với bạn, lập luận rằng các điều kiện đã có đủ cho “một đảng Bôn-sê-vích” ở Đông Dương. Phong trào công nhân đang lên và có nhiều người Việt Nam di cư đang sống ở Nam Trung Quốc. Ông đề nghị tổ chức họ thành các hạt nhân của một Đảng Cộng sản trong tương lai. Ma-nu-xki đồng ý, nhưng với một điều kiện là Nguyễn Ái Quốc sẽ dùng kinh nghiệm của mình để giúp đỡ các dân tộc khác ở khu vực. Ít lâu sau, Nguyễn Ái Quốc được bổ nhiệm làm một uỷ viên của Ban thư ký Viễn Đông của Ban Điều hành Quốc tế Cộng sản.

Tuy nhiên, các bộ máy quan liêu chuyển động một cách chậm chạp. Trong một bức thư gửi Gơ-ri-go-ri Voi-tin-xki vào ngày 11 tháng 9, ông Quốc đã phàn nàn rằng chuyến đi đến Trung Quốc của ông đã bị trì hoãn “vì lý do này hay lý do khác” và “từ tuần này đến tuần khác”, và sau đó “từ tháng này đến tháng khác”. Ông cũng thất vọng khi phát hiện ra rằng Đan-bu-rô đã không thể tài trợ cho chuyến đi của ông hoặc bổ nhiệm ông vào một chức vụ chính thức ở phái đoàn của Quốc tế Cộng sản với tư cách nào đó, nhưng khi các kế hoạch này không được thông qua thì chuyến đi lại bị hoãn. Không đủ kiên nhẫn để chờ, cuối cùng ông đề nghị tự xin việc làm sau khi đến Quảng Đông nếu Văn phòng Viễn Đông có thể cung cấp vé cho ông. Ngày 25 tháng 9, do thúc giục của đại diện của Đảng Cộng sản Pháp ở Mát-xcơ-va, Văn phòng Viễn Đông đã chấp nhận yêu cầu của ông “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc cần đi đến Quảng Châu. Chi phí sẽ do Văn Phòng Viễn Đông chịu”.

Cuối cùng Nguyễn Ái Quốc đã thuyết phục được Quốc tế Cộng sản cho phép ông trở lại châu Á để hoạt động cách mạng. Tuy nhiên, như ông nói với một người bạn, sắp xếp đó có “những điểm bất tiện” vì ông bị buộc phải hoạt động một cách bất hợp pháp ở Quảng Đông, dưới con mắt giám sát của Sở Mật thám Pháp ở tô giới Pháp trong thành phố (trong thế kỷ thứ 19, các quốc gia châu Âu đã gây áp lực đối với triều đình nhà Thanh nhượng cho họ các vùng ở nhiều nơi dọc theo bờ biển nơi mà người nước ngoài có thể hoạt động dưới quyền tài phán của châu Âu). Ông phải tự trang trải các chi phí ở một nước mà ông chưa bao giờ đến và làm việc đó bằng một ngôn ngữ mà ông chỉ có thể đọc và viết nhưng không nói được. Để tìm cho mình một chỗ dựa và một nguồn tài trợ nào đó, ông đã đến các văn phòng của cơ quan thông tấn Xô-viết ROSTA và đồng ý gửi đến Mát-xcơ-va các bài báo viết về hoàn cảnh ở Trung Quốc.

Tháng 10, Nguyễn Ái Quốc đã rời Mát-xcơ-va bằng tàu hoả từ nhà ga I-a-rốt-láp-xki. Cũng như trước kia, ông đi mà không báo cho bạn bè, chỉ yêu cầu Thô-mát Đôm-ba nói lại với mọi người là ông bị ốm, bởi vì ông sẽ sống bất hợp pháp ở Trung Quốc. Để xoá mọi dấu vết của chuyến đi, ông viết thư cho một người quen Pháp, giải thích rằng ông sẽ trở lại Pháp vì không được phép đến Đông Dương. Lá thư được một điệp viên báo lên cho Sở mật thám Pháp.

Đi Vla-đi-vô-xtốc trên tàu tốc hành xuyên Xi-bê-ri thường mất 3 tuần, vì tàu bị buộc phải thường xuyên dừng để lấy than và nước, và thỉnh thoảng nằm lại để tránh tàu. Từ cửa sổ, Nguyễn Ái Quốc đã chứng kiến thiệt hại lớn ở các thị trấn và làng mạc ở Xi-bê-ri do hậu quả của cuộc nội chiến đau thương giữa người Bôn-sê-vich và Bạch vệ, tuy cuộc nội chiến đã kết thúc cách đó 4 năm. Nhiều lần, các đơn vị Hồng quân mang súng máy lên tàu và kiểm tra hành khách xem có mang tài liệu chống cách mạng không. Dừng ở Vla-đi-vô-xtốc một thời gian ngắn, ông ở tại Khách sạn Lê-nin trên đại lộ chính của thành phố. Ông lại lên một con tàu biển Liên-Xô đi Trung Quốc. Tàu cập bến ở Quảng Châu ngày 11 tháng 11 năm 11 năm 1924.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 38. Xung quanh yêu sách “Đường lưỡi bò” phi lý trên Biển Đông – Những lập luận mâu thuẫn của Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa

Posted by anhbahoa on November 28, 2009

Bài 38

Xung quanh yêu sách “Đường lưỡi bò” phi lý

trên Biển Đông –  Những lập luận mâu thuẫn

của Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa

Phỏng vấn  Ông Đinh Kim Phúc

06/09/2009

Gần đây, Trưởng đoàn đại diện Chính phủ nước ta vừa trình báo cáo quốc gia trước Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc về xác định ranh giới thềm lục địa vượt quá 200 hải lý tại khu vực phía Bắc Biển Đông. Bản báo cáo này một lần nữa khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết mọi bất đồng liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước 1982 và Tuyên bố về ứng xử trên Biển Đông (DOC).

Trước đó, vào tháng 5/2009, Việt Nam và Malaysia đã gửi Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc các hồ sơ đăng ký riêng và chung về khu vực thềm lục địa liên quan đến hai nước. Tuy nhiên, phía Trung Quốc đã gửi công hàm tới Tổng thư ký Liên hiệp quốc phản đối các bản báo cáo này và gửi kèm theo một sơ đồ biên giới “đường lưỡi bò” khẳng định 80% diện tích Biển Đông thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Yêu sách này hết sức phi lý, đã “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông”, khiến dư luận bất bình. Nhằm giúp thông tin đầy đủ và chính xác tới bạn đọc các dữ liệu lịch sử và khoa học về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, Báo Đại Đoàn kết đăng tải một số bài viết theo quan điểm của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý và lịch sử xung quanh vấn đề này.

Là người chuyên nghiên cứu về chủ quyền quốc gia Việt Nam trên vùng biển Đông và hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc nhấn mạnh: “Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng của mỗi dân tộc. Biên giới của mỗi quốc gia là biểu hiện của nền độc lập dân tộc bất khả xâm phạm của quốc gia đó”. Từ các kết quả nghiên cứu của mình, ông khẳng định: “Vào thời điểm 1909, pháp lý quốc tế có giá trị phổ biến là Tuyên bố của Viện Pháp Luật Quốc Tế Lausanne năm 1888. Sau đó Hiến Chương Liên hiệp quốc và Luật Biển 1982 cũng là cơ sở pháp lý quốc tế mà các thành viên ký kết bao gồm các nước đang vi phạm chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei đều phải tôn trọng. Việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đến 75% diện tích ở biển Đông trong nhiều thập niên trước đây cũng như đơn phương quyết định đặt hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trực thuộc hệ thống hành chính của mình, đã đi xa hơn một cuộc tranh chấp trên biển, trở thành một hành động xâm chiếm vùng biển, xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bất chấp hiến chương Liên Hiệp quốc”.

Bản đồ khu vực Biển Đông

Quan điểm “tự mâu thuẫn nhau”

Ông Phúc đã hệ thống hóa các lập luận về chủ quyền trên Biển Đông và đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo quan điểm của Trung Quốc. Đó là:  Giới truyền thông Trung Quốc cho rằng, Trung Quốc là nước phát hiện và đặt tên sớm nhất cho quần đảo Nam Sa (Trường Sa), đồng thời cũng là nước thực thi chủ quyền sớm nhất và bền vững nhất đối với quần đảo Nam Sa; Việc này đã được chứng minh bằng lịch sử và căn cứ pháp lý đầy đủ, nhận được sự công nhận lâu dài của cộng đồng quốc tế; Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc, chiếm đóng phần lớn khu vực của Trung Quốc, trong đó kể cả quần đảo Nam Sa; “Tuyên bố Cai-rô” và “Thông cáo Potsdam” cùng các văn kiện quốc tế khác đã quy định rõ việc trao trả lại lãnh thổ cho Trung Quốc từng bị Nhật cướp đoạt năm xưa, dĩ nhiên trong đó kể cả quần đảo Nam Sa.

Tháng 12 năm 1956, Chính phủ Trung Quốc lúc bấy giờ đã chỉ định quan chức cấp cao tiếp quản quần đảo Nam Sa, đồng thời đã tổ chức lễ bàn giao trên đảo, cắm mốc kỷ niệm và cử quân đội đến đóng tại quần đảo Nam Sa; Năm 1952, Chính phủ Nhật Bản chính thức bày tỏ “từ bỏ tất cả mọi quyền lợi, danh nghĩa và yêu sách về quyền lợi đối với Đài Loan, các hòn đảo Bành Hồ và quần đảo Nam Sa”, từ đó quần đảo Nam Sa đã chính thức trở về với Trung Quốc… Trước thập niên 70 thế kỷ XX, các nước Philipines, Malaysia… không có bất cứ văn bản pháp luật và bài phát biểu của nhà lãnh đạo nào nói đến phạm vi lãnh thổ nước họ bao gồm quần đảo Nam Sa; Nghị quyết của chính phủ nhiều nước và cộng đồng quốc tế cũng công nhận quần đảo Nam Sa là lãnh thổ của Trung Quốc; Bản đồ do nhiều nước xuất bản cũng ghi rõ quần đảo Nam Sa thuộc về Trung Quốc, trong đó có “Tập bản đồ mới Thế giới” do Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Ohira Masayoshi đề nghị xuất bản vào năm 1962, bản đồ thế giới do Việt Nam lần lượt xuất bản vào năm 1960 và năm 1972…

Thế nhưng, sự thật lịch sử có đúng như vậy không? Theo nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc, cần phân tích hai vấn đề:

Vấn đề thứ nhất, lập luận “Trung Quốc là nước phát hiện và đặt tên sớm nhất cho quần đảo Nam Sa (Trường Sa), đồng thời cũng là nước thực thi chủ quyền sớm nhất và bền vững nhất đối với quần đảo Nam Sa (?). Việc này đã được chứng minh bằng lịch sử và căn cứ pháp lý đầy đủ, nhận được sự công nhận lâu dài của cộng đồng quốc tế” là dựa trên cơ sở nào?  Trước hết, về tên gọi chỉ khu vực Biển Đông ở Đông Nam Á giữa các nước lại không thống nhất: Việt Nam gọi là Biển Đông, Trung Quốc gọi là Nam Hải và tên gọi quốc tế lại là Biển Nam Trung Hoa (South China sea).

Nhà Nghiên cứu Đinh Kim Phúc cho rằng, những cách gọi này rất dễ gây ra ngộ nhận về vấn đề chủ quyền quốc gia ở Biển Đông. Qua khảo sát, tổng cộng 20.713 bản đồ trong nước và quốc tế, ông Phúc khẳng định: bản đồ sớm nhất có chú thích vùng Biển Đông của khu vực Đông Nam Á là bản đồ miêu tả khu vực đảo Hải Nam của Trung Quốc vào đời nhà Đường (618-907) của Đại học California được ghi là biển Giao Chỉ (Chiao-chih Ocean). Còn bản đồ liên quan đến Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á và Việt Nam sớm nhất là bản đồ được xuất bản từ năm 1575 cho đến bản đồ được xuất bản trước năm 1814, khu vực biển Đông không được một tác giả nào ghi chú cả. Như vậy là tên gọi Biển Đông của người Việt Nam đã có từ trước. Trong các từ điển cổ của Trung Quốc cũng xác định không giống nhau về nguồn gốc tên gọi Nam Hải. Thậm chí, không rõ căn cứ vào sử liệu nào, Từ Nguyên Cải Biên Bản đã ghi thêm có thời Nam Hải đã bao quát cả Ấn Độ Dương. Từ các chứng cứ lịch sử này, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc khẳng định: “Chắc chắn là các soạn giả Trung Quốc đã lợi dụng các danh xưng Pháp Mer de Chine (Méridionale) và danh xưng Mỹ, Anh (South China Sea). Cả ba danh xưng này có một điểm chung là thiếu minh xác khiến có thể hiểu là biển của Trung Quốc ở về phía Nam. Theo ý kiến chúng tôi, giới hạn Nam Hải của Trung Quốc xưa, chỉ đến ngang đảo Hải Nam như chính danh xưng đảo Hải Nam chỉ rõ như vậy”.

Mặt khác, theo quy định của Ủy ban quốc tế về Biển, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc đưa ra các tranh luận: Một là: Biển rìa ở khu vực Đông Nam Á là biển Đông chưa bao giờ được người Trung Quốc phát hiện ra. Mà ngược lại, Việt Nam là một quốc gia ven bờ biển Đông, nên ngay từ xa xưa người Việt đã biết sử dụng biển để phục vụ cho cuộc sống sinh cơ lập nghiệp và bảo vệ tổ quốc, đồng thời giao lưu kinh tế văn hóa với nước ngoài. Nghề biển là một nghề truyền thống của người Việt đã đi vào truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ. Tục xâm mình mỗi khi xuống biển và thủy chiến là sở trường của Việt Nam từ xưa đến nay. Biển Đông cũng đã đi vào ca dao tục ngữ và còn truyền miệng cho đến ngày nay. Trên trống đồng Đông Sơn, biểu tượng của nền văn hóa biển vẫn còn đó. Trống đồng Đông Sơn cũng đã có mặt ở hầu hết các nước trong khu vực.

Hai là: Biển rìa thường dựa vào địa danh của lục địa lớn nhất, gần nhất. Với nội dung này, trong tình hình hiện nay dễ gây ra ngộ nhận vì tên quốc tế của biển Đông là South China Sea làm cho mọi người lầm tưởng khu vực biển Đông thuộc chủ quyền của Trung Quốc vì vào năm 1983 Trung Quốc cho vẽ lại bản đồ lãnh hải của nước CHND Trung Hoa mở rộng khu vực, bao gồm bờ biển Philippines, Tây giáp bờ biển Malaysia mà họ gọi đó là “miền Đông hải” của Trung Quốc. Dư luận quốc tế cần thấy rõ biển Nam Trung Hoa theo quy định quốc tế là không đồng nghĩa với cái gọi là “miền Đông Hải” của Trung Quốc.

Ba là: quy định của Ủy ban quốc tế về Biển của Liên hiệp quốc  như trên không có nghĩa là các biển rìa không thể không có tên khác. Đối với biển Đông, có tên là biển Trung Hoa hoặc biển Nam Trung Hoa là do hiểu biết chưa đầy đủ về lịch sử vùng biển này của các nhà hàng hải phương Tây lúc họ đi qua và gọi tên, dẫn đến sau này người ta quen sử dụng chứ không hề có ý nghĩa là vùng biển của Trung Quốc. Đối với một số biển rìa khác, người ta cũng không nhất định phải đặt theo địa danh lục địa lớn nhất, gần nhất như trường hợp biển Nhật Bản theo cách gọi của người Nhật hay biển Đông hoặc biển Korea theo cách gọi của Hàn Quốc mà quốc tế đã bước đầu công nhận. Ở đây chúng ta phải nhắc lại trường hợp của Philippines. Bờ biển phía Tây của quần đảo này không lấy tên là South China Sea mà được Philippines đặt tên là biển Luzón (Luzón Sea) vì Philippines phản đối việc tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông. Quan điểm và lập trường của Philippines trong trường hợp này cho đến nay đã được quốc tế thừa nhận. Bốn là: đấu tranh để đổi lại tên gọi “biển Nam Trung Hoa” là một vấn đề cần thiết vì tương lai đấu tranh cho chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chứ không chỉ là đổi tên cho phù hợp với vị trí địa lý hay cách gọi của người Việt Nam.

Vấn đề thứ hai, về các lập luận của Trung Quốc căn cứ vào “Tuyên bố Cai-rô” và “Thông cáo Potsdam” cùng các văn kiện quốc tế khác quy định việc trao trả lại lãnh thổ cho Trung Quốc từng bị Nhật cướp đoạt năm xưa, dĩ nhiên trong đó kể cả quần đảo Nam Sa. Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc khẳng định, những luận cứ và luận chứng trên của Trung Quốc là không chính xác. Ông cho rằng, vào năm 1945 Nhật Bản đã bị các nước Ðồng minh đánh bại trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương nên phải đầu hàng. Một trong những việc nước này phải làm khi đầu hàng là từ bỏ các đất đai ở ngoại quốc mà Nhật Bản đã chiếm được trong thời kỳ toàn thịnh của chế độ quân phiệt, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chứ không có nghĩa rằng nó thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Mặt khác, vào năm 1938, trước khi xảy ra Chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản đã chiếm đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, nói là để khai thác thương mại nhưng thực ra chính là để lập căn cứ chiến lược làm bàn đạp tấn công vùng Ðông Nam Á.

Đối với Tuyên cáo Cairo do 3 nước Hoa Kỳ, Anh và  chính quyền Trung Hoa Dân Quốc ký kết ngày 26-11-1943 cũng chỉ xác định các đất Mãn Châu, Ðài Loan và Bành Hồ được hoàn trả cho Trung Quốc. Tuyên cáo Cairo đã không nói các lãnh thổ khác (trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa) phải được hoàn trả cho nước nào. Đối với Tuyên ngôn Potsdam năm 1945 về việc ấn định các điều kiện cho Nhật Bản đầu hàng cũng hoàn toàn không đề cập tới vấn đề hoàn trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Nhật Bản đã xâm lược vào đầu Chiến tranh thế giới thứ 2. Lẽ dĩ nhiên là các cường quốc đã không cho rằng hai quần đảo này là phần lãnh thổ của Trung Quốc. Ðiểm đặc biệt đáng chú ý hơn nữa là chính Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc – Tưởng Giới Thạch, đã tham dự cả hai hội nghị và đã ký vào cả Tuyên cáo Cairo lẫn Tuyên ngôn Potsdam. Nếu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thực sự thuộc chủ quyền của Trung Quốc thì không có lý gì  đại diện Trung Hoa Dân Quốc chỉ đòi hoàn trả có Mãn Châu, Ðài Loan và Bành Hồ thôi mà lại không đòi luôn Hoàng Sa và Trường Sa. Hơn nữa, trong bản văn của Tuyên cáo Cairo và Tuyên ngôn Potsdam chúng ta cũng không thấy từ “vân vân”để có thể nói là vấn đề đã được bao hàm trong hai văn kiện này.

Từ tất cả các căn cứ khoa học và lịch sử nêu trên, Nhà Nghiên cứu Đinh Kim Phúc khẳng Định: “vấn đề trên là quá rõ ràng, những luận cứ và luận chứng mà Trung Quốc đưa ra trong vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam không thể phủ nhận được các văn kiện của Bản Tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta, bản Tuyên ngôn Potsdam và sự thật lịch sử”.

Giải quyết tranh chấp như thế nào?

Về vấn đề giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc cho rằng: khi giải quyết bất kỳ vấn đề gì liên quan đến biên giới và lãnh thổ, chúng ta phải biết kết hợp các hình thức và biện pháp đấu tranh thích hợp đối với từng vụ việc phát sinh trên nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, giữ gìn quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng, góp phần giữ gìn hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Riêng đối với vấn đề thực tế có nhiều cách gọi khác nhau về Biển Đông: nước ta gọi là biển Đông, còn các văn bản quốc tế và bản đồ tiếng nước ngoài thì gọi là biển Nam Trung Hoa, nhà Nghiên cứu Đinh Kim Phúc cho rằng: vấn đề đặt ra là một mặt chúng ta phải vận động để cộng đồng quốc tế hiểu rằng biển Nam Trung Hoa là tên gọi chứ không phải là thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Mặt khác, trong những điều kiện có thể làm được chúng ta nên tiến hành đấu tranh về mặt luật pháp quốc tế ngay từ bây giờ để có thể đổi tên biển Nam Trung Hoa thành một tên gọi khác hợp lý hơn trong các quan hệ quốc tế.

Thạch Sơn-Thành Luân

(thực hiện)

http://baodaidoanket.net/ddk/mdNews.ddk?masterId=94&categoryId=242&id=20321

Xung quanh yêu sách “Đường lưỡi bò” phi lý trên Biển Đông – Chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức rõ ràng

Phỏng vấn Tiến sỹ sử học Nguyễn Nhã

Lãnh hải theo chủ trương của TQ

1 07/09/2009

Trong khi Trung Quốc đưa ra những lập luận nhằm xác định chủ quyền của mình trên biển Đông đầy tính “tự mâu thuẫn nhau”, thì về phía Việt Nam, ngay từ giai đoạn nhà Nguyễn đã có những tài liệu chính sử và bằng chứng khoa học cụ thể khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền lãnh hải Việt Nam. Nhiều học giả, luật gia và nhà khoa học trong nước cũng đã dẫn ra những chứng cứ quan trọng khẳng định xung quanh vấn đề này.

Chủ quyền Trường Sa và Hoàng Sa được xác lập từ thời nhà Nguyễn Bài tham luận: “Quan Điểm của Việt Nam về Trường Sa và Hoàng Sa” của Tiến sỹ sử học Nguyễn Nhã phản bác các tuyên bố của phía Trung Quốc rằng Hoàng sa và Trường Sa vô chủ cho đến năm 1909, và vào năm đó Trung Quốc là nước đầu tiên khám phá ra Hoàng Sa và Trường Sa. Ông khẳng định: “Năm 1816, thủy quân Nhà Nguyễn đã bắt đầu đi cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa theo phương cách Phương Tây. Từ đầu thế kỷ XVII, khai thác Biển Đông, kinh tế biển, bảo vệ Biển Đông đã được các chính quyền thời ấy rất quan tâm”. Khi ấy, các đội khai thác Biển Đông như đội Hoàng Sa, đội Quế Hương, đội Đại Mạo Hải Ba, đội Quế Hương Hàm được Nhà Nguyễn cắt cử, giao nhiệm vụ kinh tế, chống cướp biển và bảo vệ Biển Đông. Ngoài ra, những người Pháp cộng tác với vua Gia Long, Minh Mạng như Chaigneau, giám mục Taberd đã viết rất rõ về những hành động của vua Gia Long như Chaigneau đã viết trong hồi ký “Le mémoire sur la Cochichine” rằng: “Chỉ đến năm 1816, đương kim hoàng đế đã chiếm hữu quần đảo ấy”. Giám mục Taberd viết: “Chính là vào năm 1816 mà Ngài (vua Gia long) đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong”. Gutzlaff năm 1849 đã cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia Long đã thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam.

Các tài liệu cổ của nước ngoài thể hiện lãnh thổ của Trung Quốc chỉ kéo dài đến đảo Hải Nam.

Chính hoạt động lần đầu tiên của lực lượng thủy quân này đã đánh dấu mốc thời gian rất quan trọng về việc tái xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, nên đã khiến cho những người Phương Tây như Chaigneau hay sau này là Taberd khẳng định vua Gia Long đã chính thức xác lập chủ quyền của mình như đã nói trên. Đặc biệt từ thời Minh Mạng, thủy quân nhà Nguyễn hàng năm đã thành lệ đều đặn ra Hoàng Sa, Trường Sa đi vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, và các hoạt động khác trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…

Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng được qui định cũng rất rõ ràng trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ quyển 165, cũng như Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, quyển 221 như sau: “Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước bể nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tường vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? Lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? Và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm”.

Vào năm Minh Mạng thứ 16 (1835) các viên giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hoàng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa và Trường Sa chưa chu tất đã bị phạt mỗi người 80 trượng như đã nêu trên. Tấu của Bộ Công vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) cũng chỉ vẽ được một nơi và cũng chưa biết rõ nên làm thế nào. Theo dụ vua Minh Mạng ngày 13 tháng 7 năm thứ 18 (1837), thủy quân đi Hoàng Sa vẽ thành đồ bản 11 nơi, tuy nhiên chưa được chu đáo lắm. Theo Tấu Bộ Công ngày 21 tháng 6 Minh Mạng thứ 19 (1838), thủy quân đệ trình sau khi đo đạc 3 nơi với 12 hòn đảo đã vẽ được 4 bức đồ bản, 3 bức vẽ riêng và 1 bức vẽ chung, song cũng chưa vẽ rõ ràng lắm, Bộ Công phải yêu cầu vẽ lại tinh vi hơn.

Ngoài ra, các vị vua chúa Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng rất quan tâm đến việc dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua đã chuẩn y lời tâu của Bộ Công cho tỉnh Quảng Ngãi cất miếu Hoàng Sa một gian theo thể chế nhà đá. Việc dựng miếu này theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 154, đã cho biết rõ năm Minh Mạng thứ 15 (1834) đã không thực hiện việc xây dựng miếu như dự kiến mà đến mãi đầu tháng 6 mùa hạ, năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua Minh Mạng đã cử cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính và giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu cách toà miếu cổ 7 trượng. Bên trái miếu, phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong việc chớ không như các đoàn khác có nhiệm vụ lâu dài hơn.

Từ việc nghiên cứu các tài liệu chính sử, Tiến sỹ Nguyễn Nhã khẳng định: “Trong khi tại Trung Quốc chưa có tài liệu nào thuyết phục thể hiện chủ quyền của mình trên Biển Đông thì các tài liệu chính sử của Việt Nam đã cho thấy các triều vua thời nhà Nguyễn đã nhiều lần khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh hải Việt Nam”. Trong đó, các tài liệu chính sử như Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, Châu Bản Triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi nhận rất rõ ràng rằng, triều đình Việt Nam luôn khẳng định Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng thuộc về cương vực mặt biển Việt Nam. Trong suốt thời chúa Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một, luôn được quản lý hành chánh bởi Thừa Tuyên Quảng Nam dưới danh nghĩa Nhà Lê hay Quảng Nghĩa hay Ngãi lúc là phủ, khi là trấn trong thực tế tự trị của Xứ Đàng Trong, tùy theo thời kỳ lịch sử. Bởi từ khi Nguyễn Hoàng trở lại trấn thủ Thuận Quảng (năm 1600) cho tới khi chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) xưng vương năm 1744, trên danh nghĩa chúa Nguyễn vẫn là quan trấn thủ Thừa tuyên Quảng Nam của Đại Việt, do vua Lê trị vì.

Như thế mọi hành động xác lập chủ quyền của các chúa Nguyễn vẫn dưới danh nghĩa nước Đại Việt. Do đó, với thực tế tự trị trên, Phủ Quảng Nghĩa có huyện Bình Sơn  (trước đó là huyện Bình Dương) quản lý xã An Vĩnh. Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ đã ghi “Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) trong phủ Quảng Nghĩa”. Tại phủ Quảng Nghĩa ngoài viên tuần phủ, khánh lý còn có một viên chính hộ lý, một viên đề lãnh, một viên ký lục, một viên cai phủ và một viên thư ký.

Sau Quảng Nghĩa trở thành trấn, rồi tỉnh. Năm 1829, tiếp tục quản lý xã An Vĩnh. Dần dần xã An Hải phía Bắc cửa biển Sa Kỳ cũng cung cấp lính Hoàng Sa. Dân hai làng hay xã An Vĩnh, An Hải di dân ra Cù Lao Ré lập hai phường An Vĩnh và An Hải mà Nguyễn Thông gọi là hai hộ An Vĩnh, An Hải. Đến đầu triều Nguyễn, khi dân hai phường Cù Lao Ré phát triển, xin tách khỏi hai làng cũ ở đất liền trở thành nơi cung cấp chính dân binh cho đội Hoàng Sa. Chính Phạm Quang Anh được cử làm đội trưởng đội Hoàng Sa năm 1815 là người thôn An Vĩnh ở đảo Cù Lao Ré, nay thuộc thôn Đông, xã Lý Vĩnh thuộc huyện đảo Lý Sơn. Nhiều tài liệu như Việt Sử Cương Giám Khảo Lược của Nguyễn Thông và Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn đã xác nhận đảo Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Hoàng Sa là nơi hiểm yếu và rộng lớn, nên phủ rồi trấn rồi tỉnh Quảng Nghĩa là đơn vị hành chánh luôn trực tiếp can thiệp vào những hoạt động có định kỳ hàng năm của đội dân binh Hoàng Sa để có phương tiện tốt và đảm bảo những yêu cầu của chính quyền trung ương ở Phú Xuân gọi là chính dinh, thủ phủ của xứ Đàng Trong hay kinh đô của Triều Nguyễn sau này.

Sự thật đã được lịch sử chứng minh

Suốt hơn hai thế kỷ, từ đầu thế kỷ XVII thời các chúa Nguyễn đến nửa đầu thế kỷ XIX thời Nhà Nguyễn, đội dân binh Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải đã làm nhiệm vụ khai thác biển, quản lý biển đảo Biển Đông. Từ năm 1816 thuỷ quân được giao nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền theo phương cách Phương Tây, đúng theo pháp lý quốc tế thời đó. Thời nào cũng vậy,

Việt Nam luôn tuân thủ pháp lý quốc tế về xác lập và thực thi chủ quyền về biển đảo và có đầy đủ chứng cứ lịch sử từ chính sử chép cụ thể đến các văn bản nhà nước như Châu bản của Triều đình nhà Nguyễn cũng như các văn bản chính quyền địa phương như tờ lệnh, tờ tư, tờ bằng cấp như mới phát hiện ở huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Điều này không hề có ở các nước khác trước năm 1909 khi chính quyền Quảng Đông (Trung Quốc) bắt đầu tranh chấp, khi ấy Việt Nam bị mất chủ quyền, bị Pháp cai trị. Mọi bằng chứng sau này đưa ra đều vô căn cứ, hoặc suy diễn hoặc bày đặt không có thực. Rõ ràng, đã là chân lý được lịch sử xác nhận thì không cần phải chứng minh. Tiến sỹ Nguyễn Nhã khẳng định: “Quan điểm chủ yếu của những nhà nghiên cứu Việt Nam về vấn đề chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa là Việt Nam đã chiếm hữu thật sự, hoà bình và liên tục. Chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không có gì để tranh cãi”.  Về các giải pháp cụ thể giải quyết vấn đề tranh chấp trên Biển Đông, đặc biệt tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Tiến sĩ Nguyễn Nhã cho rằng: “Dù với bất cứ giải pháp nào, muốn vững bền thì phải dựa trên sự thực lịch sử và trật tự thế giới hiện hành theo Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1945; những Nghị quyết của Liên hiệp sau đó và Công ước quốc tế về luật biển năm 1982. Việc cần làm ngay là làm rõ, quảng bá lịch sử nhà nước Việt Nam đã từ lâu chiếm hữu thật sự Hoàng Sa và Trường Sa và xây dựng nội lực Việt Nam vững mạnh, đoàn kết hùng cường”.

Thạch Sơn – Thành Luân (thực hiện)

http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/dung%20chung/Anh%207-Yeu%20sach%20duong%20luoi%20bo%20phi%20ly_.jpg

“Đường lưỡi bò” phi lý

Phỏng vấn Tiến sĩ Trần Công Trực

Người phát ngôn BNG TQ Tần Cương: chủ quyền trên biển Đông là không thể tranh cãi

03/09/2009

Ngày 7/5/2009 vừa qua, Trung Quốc đã gửi công hàm tới Tổng thư ký Liên hiệp quốc phản đối việc Việt Nam nộp Báo cáo về Ranh giới ngoài thềm lục địa của mình cho Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc và gửi kèm theo một sơ đồ trên đó thể hiện “đường lưỡi bò” khẳng định 80% diện tích mặt Biển Đông thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Đây là điều phi lý khiến dư luận rất bất bình. Đại Đoàn Kết đã có cuộc trao đổi với Tiến sỹ Trần Công Trục- nguyên trưởng ban Ban biên giới Chính phủ về vấn đề này.

Thưa Tiến sỹ, ông đánh giá như thế nào về “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc mới đưa ra?

Tiến sỹ Trần Công Trục: Đây là một vấn đề phức tạp, cần có sự nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Tuy nhiên, tôi đã từng công tác ở Ban biên giới Chính phủ, rất quan tâm và có nghiên cứu về vấn đề này nên tôi có thể nêu một số điểm mấu chốt để chúng ta hiểu kỹ hơn về “đường lưỡi bò”.

“Đường lưỡi bò” xuất hiện tại Trung Quốc trên một bản đồ do một cá nhân vẽ ra, có 11 đoạn, được Trung Hoa dân quốc sử dụng trong một số tài liệu. Năm 1949, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời, cũng đưa “đường lưỡi bò” vào một số tài liệu không chính thức, khi đó “đường lưỡi bò” chỉ còn 9 đoạn.  Trong suốt thời gian qua, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa không có ý kiến chính thức nào về “đường lưỡi bò”. Ngày 7/5 vừa qua là lần đầu tiên Trung Quốc chính thức đề cập đến vấn đề này. Nhìn trên bản đồ mà Trung Quốc đưa ra thì “đường lưỡi bò” được thể hiện như một đường biên giới quốc gia trên biển, có nghĩa là 80% diện tích biển Đông thuộc chủ quyền của Trung Quốc theo quy chế nội thuỷ và lãnh hải. Tuy nhiên, đây là một điều phi lý bởi ngay trong những văn bản chính thức của Trung Quốc cũng bộc lộ những mâu thuẫn. Tuyên bố năm 1958 về lãnh hải của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho rằng: “Chiều rộng lãnh hải nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Điều khoản này áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, bao gồm lục địa Trung Quốc và các đảo ven bờ của lục địa cũng như các đảo Đài Loan và xung quanh đó, quần đảo Penghu (Bành Hồ)… cùng tất cả đảo khác thuộc Trung Quốc bị phân cách với đất liền và các đảo ven bờ biển của nó bởi biển cả”.

Tuyên bố này của Trung Quốc xác định rõ các đảo bị phân cách với lục địa bởi biển cả (vùng biển tự do của quốc tế), chứ không phải là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thủy (vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc). Rõ ràng không thể tồn tại vùng biển tự do của quốc tế nằm trong nội thủy của Trung Quốc. Pháp lệnh về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải của CHND Trung Hoa năm 1992 và Tuyên bố về Đường cơ sở năm 1996 của nước CHND Trung Hoa cũng không hề đề cập đến “đường lưỡi bò”.

Trong công hàm gửi Tổng thư ký Liên hiệp quốc ngày 7/5/2009, Trung Quốc còn nói họ có chủ quyền không tranh cãi đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đây lại là một điều phi lý nữa. Theo quy định của Công ước luật biển 1982 thì chỉ có “Quốc gia quần đảo” mới được phép áp dụng các quy định tại điều 4, 48, 50, phần IV, Công ước LB82 để vạch đường cơ sở đúng để tính chiều rộng các vùng biển và thềm lục địa của cả quần đảo cấu thành “quốc gia quần đảo”. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không phải là quốc gia quần đảo mà là các quần đảo thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển, vì thế không được áp dụng các quy định đối với quốc gia quần đảo nói trên.

Theo công ước quốc tế, những đảo trên nếu có đời sống kinh tế thì mới có được đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Thế nhưng, các đảo trong hai quần đảo này có diện tích rất nhỏ, điều kiện môi sinh môi trường khắc nghiệt, không thích hợp cho đời sống con người, không có đời sống kinh tế riêng; vì vậy chúng cũng chỉ có thể được phép có vùng lãnh hải 12 hải lý bao quanh mỗi đảo nổi tính từ đường cơ sở của chúng. Rõ ràng Trung Quốc không thể dựa vào sự tồn tại của 2 quần đảo (không phải là lãnh thổ hợp pháp của mình) để mở rộng phạm vi lãnh hải quốc gia ven biển đến 80% diện tích Biển Đông.

Bởi thế, xét trên mọi phương diện, “đường lưỡi bò” do Trung Quốc đưa ra là phi lý.

Việc Trung Quốc gửi công hàm lên Tổng thư ký Liên hiệp quốc có hợp lý không, thưa ông?

Tiến sĩ Trần Công Trục:

– Quan điểm cá nhân tôi cho rằng: Tất cả các nước đều có quyền nộp hồ sơ lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc để đưa ra những chứng cứ pháp lý và khoa học về đáy biển để xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, từ đó, Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc sẽ xem xét và đưa ra những quyết định cuối cùng. Trung Quốc nếu muốn cũng có thể nộp hồ sơ để Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc xem xét. Họ không làm việc này mà chỉ đưa ra một công hàm phản đối gửi lên Tổng thư ký Liêp hiệp quốc là chưa thực hiện đúng thủ tục pháp lý mà Công ước Luật biển 1982 đề ra. Tôi hy vọng Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc sẽ xem xét vấn đề này một cách có tình, có lý và đưa ra những quyết định phù hợp với Luật pháp quốc tế.

Với kinh nghiệm của mình, theo ông, chúng ta cần tiếp tục đấu tranh trong vấn đề này như thế nào?

Tiến sĩ Trần Công Trục:

–          Vừa qua, Nhà nước ta đã chính thức có tuyên bố không thừa nhận “đường lưỡi bò”. Trên các diễn đàn quốc tế, chúng ta cũng bác bỏ vấn đề này khi Trung Quốc đề cập. Thời gian tới, theo tôi, chúng ta cần thông tin rộng rãi hơn để dư luận trong nước và quốc tế hiểu về những chứng cứ pháp lý khẳng định chủ quyền  của Việt Nam trong vấn đề này. Bên cạnh đó cũng cần có những đối sách cần thiết về mặt ngoại giao, duy trì đàm phán song phương, trước mắt phải duy trì sự ổn định các bên, không được giải quyết tranh chấp bằng vũ lực. Cần nhanh chóng có Luật Biển để có những quy chế pháp lý cụ thể hơn nhằm xử lý tốt những mối quan hệ phức tạp, sôi động hiện nay trên biển. Đồng thời cần có một cơ quan quản lý nhà nước về biển để quản lý, bảo vệ và khai thác biển.

Về công tác nghiên cứu: Cần tập hợp tất cả các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước để có thêm tư liệu, từ đó có những giải pháp hiệu quả trong đàm phán.  Nhà nước cũng cần tăng cường đầu tư để có thêm sức mạnh trên biển.

Xin cảm ơn ông!

Phạm Hằng (thực hiện)

http://baodaidoanket.net/ddk/mdNews.ddk?masterId=94&categoryId=0&id=20256

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 37. Đường chữ U (đứt khúc) của Trung Quốc

Posted by anhbahoa on November 28, 2009

Bài 37

Đường chữ U (đứt khúc) của Trung Quốc

[Việt Nam gọi là đường lưỡi bò]
trên biển Nam Trung Hoa:
Các điểm, đường và khu vực

“The Chinese (Broken) U-shaped Line in the South China Sea:
Points, Lines, and Zones
Contemporary Southeast Asia, Bộ 25, Số 3 (2003), tr. 405-30

Peter Kien-Hong Yu

Hoàng Khánh Hòa và tòa soạn Thời Đại Mới chuyển ngữ

Lời tòa soạn Thời Đại Mới:

Bài viết này quan trọng ở chỗ nó phản ánh các quan điểm của Trung Quốc và Đài Loan là quyết không từ bỏ chủ quyền trong đường chữ U, tức là đường lưỡi bò theo cách gọi của Việt Nam, và bản thân tác giả lập luận ủng hộ các quan điểm đó. Tác giả là Giáo Sư Đại học Ming Chuan, Trường Sau Đại học về Ngoại Giao ở Đài Loan.

Các chú thích của người dịch được để trong […] với chữ nghiêng. Các chú thích của tác giả cũng có thể có, để trong […] nhưng với chữ thẳng đứng

Xisha, đọc là Tây Sa, Việt Nam gọi là Hoàng Sa, tức nhóm đảo Paracels. Zhongsha, đọc là Trung Sa, Việt Nam cũng gọi là Trung Sa, là nhóm bãi cát ngập nước Macclesfield Bank nằm ở phía đông của nhóm đảo Hoàng Sa.

Nansha, đọc là Nam Sa, Việt Nam gọi là Trường Sa, tức nhóm đảo Spratleys. Luật Biển hay Công ước Biển 1982 được dùng trong bài là nói về cùng một bộ luật của Liên Hợp Quốc về biển.

Bài báo này phân tích các tác động tích cực và tiêu cực của đường chữ U (biên giới lãnh hải) trên Biển Nam Trung Hoa (NTH) cũng như các điểm đáng quan tâm còn chưa rõ ràng. Các tác động tích cực của đường này bao gồm nhận định cho rằng đường này không phải là chủ ý của Đài Loan và Trung Quốc nhằm gộp biên giới quốc tế vào biên giới quốc gia (national framework). Các tác động tiêu cực bao gồm những gánh nặng đối với lực lượng hải quân Trung Quốc. Bài báo này cũng sẽ trả lời những câu hỏi về  bản chất mối quan hệ giữa đường chữ U và các vùng đặc quyền kinh tế của Cộng sản Trung Quốc (Communist Exclusive Economic Zones), lập luận rằng mối quan hệ phi mâu thuẫn này cần được xem như là sự bảo hiểm hai lần mà cả Đài Loan và Trung Quốc đang nỗ lực đầu tư.

Giới thiệu

Kể từ khi luật quốc tế liên quan đến đất, trời và biển ra đời, các khái niệm về điểm, đường và khu vực dù là thực hay không trở nên rất quan trọng. Mối quan hệ giữa các điểm, đường và khu vực tuân theo luật về hình học: hai điểm nối với nhau tạo thành một đường, cần ít nhất hai điểm để vẽ thành một đường và cần ít nhất một đường để hình thành nên một vùng.

Trong thuật ngữ của luật hàng hải, các điểm có thể được gọi là điểm cơ sở hoặc điểm tiếp giáp 3 bên (trijunction points) (bỏ qua những vấn đề khác nữa). Định nghĩa về đường khá phức tạp, từ các khái niệm chung chung như đường cơ sở, đường thẳng, đường xác định điểm tận cùng được đồng ý[1] (agreed closing lines) và đường lạch sâu (đường tưởng tượng cắt dọc theo phần sâu nhất của một luồng nước chính, ví dụ, của một con sông) cho đến các khái niệm cụ thể ví dụ như đường Xanh chia cắt vùng Đông và Tây Beirut của Lebanon, hoặc đường Mogadishu (hình thành từ đầu năm 1993) hoặc đường Attila chia cắt vùng Cypriot của Thổ Nhĩ Kỳ trên phần phía Bắc của đảo Síp khỏi vùng Nam Cypriot của Hy Lạp, hoặc là đường Giới hạn Phía Bắc (North Limit) đơn phương quyết định  giữa Bắc và Nam Triều Tiên, hay là Đường Kiểm Soát ở vùng tranh chấp Kashmir (giữa Ấn Độ và Pakistan). Các đường có thể trở thành vùng biển ở một dạng nào đó: ví dụ, Công ước Liên Hiệp Quốc Lần Thứ Ba vào tháng 4 năm 1982 về Luật biển (dưới đây gọi là Luật biển 1982) không quy định về vùng ven bờ biển (coastal zone) và điều này cho thấy Luật biển 1982 có những chỗ chưa rõ ràng và có lỗ hổng về luật pháp.

Bài báo này tập trung phân tích đường chữ U của Trung Quốc. Đây vốn là đường ranh giới biển của Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa (NTH), vùng nước lớn thứ 5 trên thế giới và giao diện với các vùng nước tính từ bờ bốn nước Đông Nam Á (ĐNA). Phần đầu của bài này đề cập đến các ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đường chữ U cũng như xem xét các điểm đáng quan tâm khác còn chưa rõ ràng. Phần hai nghiên cứu về mối quan hệ giữa đường chữ U và các khái niệm hàng hải khác.

Trước tiên, điều cần nhấn mạnh là theo quan điểm của tác giả bài này, trong bối cảnh thiếu vắng một chính phủ toàn cầu hiệu quả để thực thi các luật quốc tế và trừng phạt nước vi phạm, các hình thái chính trị khác nhau sẽ chi phối vũ đài quốc tế. Chiến tranh cũng có thể xảy ra như là một hệ quả của đấu tranh chính trị. Nhiều chuyên gia về luật quốc tế đã thừa nhận rằng ý chí chính trị  là cần thiết để giải quyết các tranh chấp luật pháp trên biển, đặc biệt trong bối cảnh là không có một sự nhất quán về cách hành xử của con người trong lĩnh vực này. Vì thế, người ta lập luận rằng thay vì áp dụng luật biển, các hình thức vũ lực (chính trị và/hoặc quân sự) sẽ quyết định số phận của các điểm, đường và vùng tranh chấp trên biển; và điều này sẽ là nguyên tắc trong ít nhất vài thập kỉ tới.[2]

Một ví dụ điển hình đó là Huangyan Dao (cũng được biết tới là đảo Dân chủ hay Scarborough), là một phần của nhóm đảo Trung Sa (Macclesfiend Bank).[3] Cho đến gần đây, số phận hòn đảo này không còn quan trọng đối với hầu hết các chuyên gia Trung Quốc và nước ngoài vì nhóm đảo Trung Sa đã bị chìm (theo quan sát của Chiu Hungdah) và vì thế theo luật quốc tế, cả Trung Quốc và Đài Loan không thể nói là họ sở hữu nó.[4] Tuy vậy, việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với Huangyan Dao, và gộp nó vào nhóm đảo Trung Sa [Việt Nam cũng gọi là Trung Sa] vẫn bị coi là một sự gian lận. Theo quan điểm của Trung Quốc việc này cũng tương tự như trường hợp Mỹ chiếm đảo Hawaii. Tuy vậy trường hợp Huangyan Dao cần được xem xét trong sự liên quan đến vấn đề đường chữ U sẽ được đề cập chi tiết dưới đây.

Đường chữ U

Trước hết, tôi nói về căn nguyên của của đường chữ U, được Hu Jinjie, một người chuyên vẽ bản đồ người Trung Quốc, vẽ lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1914, sau khi nước Cộng hòa Dân Quốc giành lại nhóm đảo Dongsha (hay Pratas) từ đế quốc Nhật vào tháng 10 năm 1909 (theo lịch âm Trung Quốc). Các bản đồ của Trung Quốc xuất bản từ giai đoạn những năm 1920 và 1930 sau đó đều dựa trên bản vẽ của Hu về vùng biển này.[6]

Đường chữ U trên biển Nam Trung Hoa (NTH) được chính thức vẽ bởi Bai Meichu, một viên chức thuộc nhà nước Cộng hòa Dân Quốc (Republic of China)[7], vào tháng 12 năm 1947. Các vùng phía bên trong đường này được coi là các vùng nước lịch sử (historic waters). Lập luận của Bai về việc vẽ đường này không thực sự rõ ràng, mặc dù có một đường tương tự xuất hiện trên New China’s Construction Atlas do ông biên tập vào giữa những năm 1930.[8] Một điều cũng chưa rõ đó là liệu Bai có đủ kiến thức về luật hàng hải quốc tế trong thời điểm ông vẽ hay không. Tuy vậy có nhiều khả năng là ông chủ yếu bị thôi thúc bởi bản năng sở hữu sơ khai (nghĩa là như người ta thường nói quan điểm là 9 phần 10 của luật pháp). Thực tế là Bai nhận rằng người Pháp đã chiếm đóng (từ tháng 7 năm 1933) sáu hòn đảo trên nhóm đảo Nansha, Nam Sa (hay Spratly) [tức là Trường Sa theo Việt Nam] trên biển Nam Trung Hoa và anh ta nói rằng hoặc có thể cho là cảm thấy chủ quyền của Trung Quốc cần phải được bảo vệ.[9] Hiệp định tháng 6 năm 1887 giữa nhà Thanh và Pháp phân chia vịnh Bắc Bộ (Beibu) (hay Tonkin;  kéo dài thêm về phía nam của vịnh Bắc Bộ để gộp thêm vào tất cả các đảo ở Biển NTH) cũng có thể đã ảnh hưởng đến ý đồ của Bai nhằm bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc.[10] Tuy vậy, Bai chỉ đề cập đến nhóm đảo Nam Sa trong atlas của mình hoặc trên bản đồ của nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và không tham chiếu tới bất cứ tài nguyên động thực vật nào trong khu vực đường chữ U. Ông cũng không hề đề cập tới không phận phía trên miền biển chữ U của Trung Quốc.

Bai có thể chỉ quan tâm về chủ quyền của Trung Quốc, nhưng có thể dựa vào lịch sử và văn hóa để giải thích tính chất đường anh ta vẽ. Trung Quốc (cho đến những thập kỉ gần đây) đã có xu hướng hướng vào lục địa, tự kỷ và vì thế muốn xây dựng những “bức tường” xung quanh mình.[11] Việc xây dựng những bức tường này là một biện pháp phòng vệ nói chung để đảm bảo sự bình yên tâm trí trong bối cảnh Trung Quốc, vốn không xa lạ gì với các cuộc nội chiến, đang ngày càng trở nên thân thiện với các nước.[12] Tôi sẽ nói kĩ hơn về sự xây dựng các bức tường trong văn hóa Trung Quốc dưới đây.

Ví dụ gần gũi nhất về bức tường là ở góc độ cá nhân hay gia đình. Một trường hợp điển hình đó là siheyuan – Tứ Hòa Viên (một cái sân trong với các ngôi nhà ở xung quanh tạo thành một hình tứ giác) thời nhà Minh và nhà Tần.[13] Một ví dụ dễ thấy ở góc độ quốc gia là Vạn lý trường thành. Harry Ying Cheng Kiang mô tả Vạn lý trường thành (hay Willow Wall) như là các “mốc” biên giới của Trung Quốc.[14] Các hình thành địa lý tự nhiên cũng tạo thành các bức tường: các sườn núi ở phía Đông bảo về vùng Trung Nguyên chiến lược (vùng đồng bằng miền trung Trung Quốc), mà trong lịch sử khi kiếm soát được vùng này sẽ đảm bảo việc kiểm soát Trung Quốc. Tương tự như vậy, vùng biển Bột Hải,[15] Hoàng Hải và Đông Hải cũng đóng vai trò là các rào chắn tự nhiên, tránh được kẻ “mọi rợ”  tiến vào vùng đất thuộc các bờ biển Đông Nam Trung Quốc đại lục. Vì thế đường chữ U có thể coi là một đường ở phía Nam tương tự với Vạn lý trường thành ở phía Bắc, trải dài bao cả đảo Zengmu Ansha (hay James Shoal, bao gồm cả các bờ biển chìm) và trở thành vùng lãnh thổ xa nhất về phía Nam của Trung Quốc. Có thể lập luận rằng sự xuất hiện muộn màng của bức tường phía Nam này là do Trung Quốc trước đó vốn không tự coi mình là một quốc gia có sức mạnh về hàng hải (a maritime power) và cũng như do chưa có những đe dọa từ phía Nam cho đến khi cách mạng công nghiệp nổ ra và người châu Âu mở rộng thuộc địa.

Điều đáng nói ở đây là việc Trung Quốc vẽ đường chữ U trên Biển NTH là một hành động đối phó đón đầu (pre-emptive act) những bất ổn trong tương lai, và hơn nữa là hành động trước khi các thực thể quốc gia khác (bao gồm cả đế chế Anh) thực sự kiên quyết đặt ra để giải quyết các vấn đề chủ quyền trên biển Nam Trung Hoa. Không có bất cứ một thực thể quốc gia hay thực thể chính trị nào phản đối bằng đường ngoại giao khi Trung Quốc vẽ đường chữ U này. Vì thế, đường chữ U có thể lập luận là nó có một vị thế tốt hơn, chứ không chỉ đơn giản là yêu sách của Trung Quốc, và trong thực tế, ngụ ý của nó bao gồm cả chủ quyền của Đài Loan và Trung Quốc đại lục.

Tuy vậy, một số nước đã bắt đầu thách thức quyền sở hữu của cả Trung Quốc lẫn Đài Loan đối với vùng Biển NTH. Quyền sở hữu này được hiểu là quyền sở hữu các vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế (kể cả vùng đặc quyền khai thác đánh bắt cá) và thềm lục địa v.v. Chỉ từ khi sự việc này bắt đầu thì các học giả mới đề cập đến đường chữ U như là yêu sách của người Trung Quốc hoặc là yêu sách lãnh thổ (an areal claim).[16] Về các thách thức này, tôi sẽ mở rộng phân tích của mình về bức tường hình chữ U theo quan điểm của cả Trung Quốc và Đài Loan.

Các khía cạnh tích cực của đường chữ U

Có một số khía cạnh tích cực của đường chữ U góp phần làm tăng tính thuyết phục trong lập luận của Đài Loan và Trung Quốc. Thứ nhất, đường chữ U không phải là dụng ý của Trung Quốc trong việc biến biên giới quốc tế thành biên giới quốc gia.[17] Người Hoa vốn không mấy thích thú với việc trở thành bá chủ về hàng hải.[18] Trong khi sự thật là Trung Quốc đã thiết lập Lực lượng Kiểm soát Hàng hải Biển phía Nam (South Sea Marine Surveillance Force) vào tháng 5 năm 2000, mục đích của lực lượng hải quân này là bảo vệ các quyền lợi của Trung Quốc và tìm hiểu các nguồn tài nguyên biển và hải sản trên Biển NTH. Vào tháng 11 năm 2002, Trung Quốc đã kí quy tắc ứng xử với mười nước ĐNA nhằm tránh leo thang căng thẳng đối với vấn đề nhóm đảo Trung Sa trên Biển NTH. Sau đó cuối tháng 6 năm 2003, Trung Quốc đã kí Hiệp ước về quân sự và hợp tác với các nước ĐNA, một quy trình [giải quyết] tranh chấp do ASEAN đưa ra vào tháng 2 năm 1976, theo đó Trung Quốc đồng ý không “tham gia vào bất kì hành động nào tạo nên mối đe dọa về ổn định chính trị và kinh tế, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” của các nước tham gia kí kết. Cùng với việc đó cũng phải lưu ý rằng trước Trung Quốc, không có bất cứ một quốc gia nào khác yêu sách chủ quyền trên  một vùng rộng lớn của Biển NTH và rằng lý thuyết về biển bao bọc quốc gia (state-centric closed sea) đã xuất hiện lần đầu tiên ở châu Âu, trước khi đường chữ U được vẽ ra.

Thứ hai, đường chữ U đóng vai trò quan trọng trong các mối quan hệ dọc eo biển Đài Loan. Như Oran R. Young đề cập “…phong trào [cổ võ] vùng bao bọc liên quan đển khu vực biển sau thời hậu chiến rõ ràng đã cho thấy rằng việc định vùng (zonal arrangement) ngày càng được nhiều nước quan tâm”.[19] Những lợi ích tiềm tàng mà một sự dàn xếp vùng phía trong (và bao gồm) đường chữ U giữa Trung Quốc và Đài Loan sẽ là một quân bài quan trọng trong quá trình thương lượng (hoặc là trao đổi) trên bàn đàm phán.

Ở điểm này, chúng ta cần xem xét một số nguồn khác ủng hộ vấn đề đường chữ U. Ví dụ, một số vụ kiện do Tòa án Quốc tế xử trong đầu những năm 1950 và 1990 đã ủng hộ cho sự tồn tại của các vùng nước lịch sử (mà theo Trung Quốc thì nó giống với khái niệm “đường nội thủy”).[20] Các học giả không phải người Trung Quốc như Park Choon-ho[21] và Iain Scobbie và có thể là cả Greg Austin[22] đã có cùng quan điểm đối với vấn đề đường chữ U. Một số khác, như Mark J Valencia, thì không ủng hộ cho lắm. Ví dụ Valencia đã đề xuất là thiết lập Tổ chức Công quản Trường Sa (Spratly Authority) và hi vọng là Trung Quốc và Đài Loan sẽ từ bỏ đường chữ U đổi lấy việc sở hữu 51% Tổ chức này. Tuy vậy ông ta cũng đề cập đến việc chính phủ Cộng Hòa Nhân dân Trung Quốc vào tháng 5 năm 1992 cho phép Tập đoàn Creston Energy khai thác dầu thô giữa Wanan Tan (hay bãi ngầm Vanguard), và Guangya Tan (hay bãi ngầm Price of Wales) và cho rằng các bãi ngầm này, cách bờ biển Việt Nam 160 hải lý, không thể có riêng vùng đặc quyền kinh tế, điều này cho thấy ông ngụ ý rằng đường chữ U có thể có ích.[23]

Điểm thứ ba khi nói đến những mặt tích cực của đường chữ U là về mặt tương đối không vũ trang, không giống như trường hợp đường Maginot được dựng lên, có thể coi là một ví dụ trái ngược với đường chữ U.[24] Mục đích của đường Maginot là nhằm tránh sự xâm lăng của người Đức vào vùng Alsace-Loraine của Pháp. Được xây trong phạm vi vài kilomet gần biên giới (tiền) Đức Quốc xã, đường Maginot, như Anthony Kemp nói, là “hệ thống pháo đài lớn nhất và cũng có thể là cuối cùng được xây dựng,”. Nó bao gồm các đường khởi đầu nhằm ngăn cản kẻ thù, các đường chính được che bởi các chướng ngại chống tăng và người và một đường bảo vệ cuối cùng ở phía sau.[25] Đường Maginot với khẩu hiệu “Không ai qua nổi” (None Shall Pass) trở nên nổi tiếng như là biểu tượng của ý chí Pháp (và cũng như sự thất bại ê chề của nó).[26] “Ý chí Pháp” này rõ ràng không áp dụng cho trường hợp Biển NTH. Đường chữ U làm tăng cường quyền sở hữu của Trung Quốc và Đài Loan đối với các nguồn động thực vật trong phạm vi đường này và ngụ ý rằng các nước khác phải được phép của Trung Quốc trước khi tiếp cận các nguồn lực đó; rõ ràng đây không phải là một “Vạn lý trường thành đe dọa”.[27]

Các khía cạnh tiêu cực của đường chữ U

Việc thiếu tính liền mạch của đường chữ U cũng là điểm yếu, đặc biệt từ quan điểm của các nước đề xuất. Về mặt địa lý, có những ”đoạn hở” (breathing spaces) hoặc là “lối vào” giữa chín phân khúc của đường này (theo bản vẽ của Trung Quốc) hoặc là nằm trên các đoạn điểm chấm (dotted line) (theo bản vẽ của Đài Loan), mà theo đó các tàu thuyền hải quân hoặc phi hải quân có thể đi lại không bị ngăn cản. Nói cách khác, đường chữ U chỉ không phải là một đường liền mạch mà cũng không phải là một bức tường chắn thật như là đường Maginot hay thậm chí như là bức tường Berlin, vốn bao gồm “bê tông, dây thép gai, đài quan sát, mìn, bẫy súng máy và đường tuần tra dành cho lính bảo vệ biên giới và chó tuần tra”.[28] Cũng có thể các quá trình địa chất (ví dụ như sự xuất hiện của đảo mới, hay là sự bồi đắp tự nhiên) cuối cùng sẽ lấp đầy các khoảng trống, nhưng trong lúc chờ đợi, việc thu hẹp các khoảng trống này cũng là một vấn đề đối với Trung Quốc. Các chiến lược khả thi bao gồm việc thiết lập các vùng đặc quyền mới (có thể là dưới dạng khu bảo vệ hàng hải) giữa các phân khúc này.[29]

Trong quá khứ Trung Quốc đã sử dụng các chiến lược bao gồm việc thiết lập các khu quân sự trên Biển NTH, và  (ngoại trừ một số vụ đụng độ nhỏ giữa các bên khác) Đài Loan là nước đầu tiên sử dụng vũ lực để đuổi các cư dân Philipine (gồm có Tomas Cloma và tùy tùng của ông) khỏi đảo Taiping (hay Itu Aba) trong đầu những năm 1960 (hoặc có thể là giữa những năm 1950).[30] Việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc là khó tránh khỏi một khi họ cho rằng một phần lớn của Biển NTH là “hồ Trung Quốc”, tương tự như “các đường nội thủy”. Đường chữ U không chỉ có mặt trên vùng biển phía Nam mà còn cả phía Đông của Trung Quốc, bởi vì như một số học giả và chuyên gia nhận định “rất khó để định nghĩa về biển một cách chính xác, trừ khi những vùng biển đó đã hoàn toàn bị chiếm đóng…”.[31] Ví dụ, Sang-Myoon Rhee và James Mac Aulay cho rằng Biển NTH “vẫn được xem như là “thuộc về” Đông Nam Á”.[32] Trong trường hợp cực đoan, sự khác biệt này có thể chấm dứt khi hai bên của eo biển Đài Loan bất ngờ tuyên bố đóng các khe hở của đường chữ U và tạo thành một đường biên giới liền mạch để xóa đi sự mù mờ.[33]

Trong thực tế bối cảnh cực đoan nhất này chưa xảy ra, mà thay vào đó là các thay đổi về mặt kĩ thuật trong quá khứ. Hình thức thay đổi này không có gì lạ, và cũng không chỉ giới hạn đối với riêng Trung Quốc. Trên vùng Biển NTH, Philipine đã tham gia vào việc vẽ lại các đường biên giới trên bản đồ.[34] Xa hơn, Liên Xô cũ cũng đã từng tranh cãi thẳng thắn với Na Uy về biển Barents, đưa ra những “trường hợp đặc biệt” liên quan đến đường biên giới là đường cắt theo kinh độ chạy từ điểm cuối cùng của đường biên giới hiện tại ở Varangerfjor đến cực Bắc, nhưng có điều chỉnh lệch về phía Đông trên biển Svalbard nhằm tránh cắt qua vùng này theo định nghĩa của Điều khoản 1 của Hiệp ước Svalbard năm 1920.[35] Gần hơn nữa, các thay đổi về kĩ thuật đối với đường biên giới biển bao gồm cả việc chia cắt về giao thông được dựng lên bởi các nước có bờ biển quanh eo Malacca.[36] Ngay cả các tổ chứ phi chính phủ như Hội đồng Hợp tác An ninh Châu Á Thái Bình Dương (Council for Security Cooperation) theo hướng thứ hai tức là trên bình diện không chính thức đã tạo ra những gợi ý hành xử (guidelines) cho việc hợp tác về hàng hải trong khu vực.

Các biện pháp mà Trung Quốc sẽ thực thi nhằm giải quyết vấn đề khe hở trên đường chữ U sẽ phụ thuộc vào các đánh giá của họ đối với những hệ quả có thể xảy ra. Trung Quốc hoàn toàn ý thức rằng Mỹ sẽ chống đối nếu như các đoàn tàu thuyền của Mỹ và máy bay của Mỹ cũng như các đồng minh của Mỹ bị gây trở ngại. Các chiến lược khả thi trong tương lai có thể bao gồm việc thiết lập “trạm thu phí” (toll booth) (do cả Trung Quốc và Đài Loan thực hiện) trong các vùng hổng hoặc ở mức độ ít đe dọa hơn là tạo ra những công viên trên biển hoặc sân chơi trên biển.[37] Các đảo giả hoặc trạm nghiên cứu cũng có thể được thiết lập. Các hành động nói trên có thể được giải thích như là những biện pháp cần thiết, bao gồm cả trừng phạt về tài chính, nhằm ngăn chặn và giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm do tàu thuyền gây ra như là dầu loang hoặc rò rỉ dầu trong khu vực đường chữ U.[38]

Thứ hai, đường chữ U đem đến quyền (và ưu tiên) cho Đài Loan và Trung Quốc, nhưng nhiều khả năng nó lại tạo ra gánh nặng, đặc biệt kể từ tháng 5 năm 1987 việc Trung Quốc lần đầu tiên cắm cờ trên quần đảo Nam Sa có nghĩa là Trung Quốc đại lục có trách nhiệm chính trong việc việc bảo vệ chủ quyền của toàn bộ Trung Quốc. Trách nhiệm của Trung Quốc gần đây đã tăng lên khi ( từ tháng 2 năm 2000) Lực lượng Kiểm soát Hải biên Đài Loan (Taiwan’s Coast Guard Command) thay vì Bộ Quốc phòng chỉ trông coi đảo Taiping Dao, và trút gánh nặng bảo vệ nhóm đảo Nam Sa cho Trung Quốc. Các học giả và chuyên gia người nước ngoài cũng không giúp cho tình hình sáng sủa hơn, kể từ tháng 4 năm 1992 sau sự sụp đổ của Liên Xô cũ, khi họ đề xuất quan điểm về “mối đe đọa Trung Quốc” (China threat).[39] Các nhà quan sát đó dường như họ đã quên mất rằng Việt Nam đã xây dựng những hòn đảo nhân tạo trên bãi ngầm Wumie (Pigeon hoặc Tennet)[40] và lo ngại một Trung Quốc hung hăng và muốn bành trướng sẽ bắn những phát súng đầu tiên trên Biển NTH.[41] Thực tế là Trung Quốc đã cam kết bỏ qua những bất đồng và cam kết tham gia vào sự phát triển vì lợi ích chung của khu vực. Hơn nữa, những người giải thích cho “mối đe dọa Trung Quốc” có vẻ như đã bỏ qua những tài liệu như là Quy tắc Ứng xử kí kết giữa Trung Quốc và Philipine tháng 8 năm 1995, theo đó (Điều khoản 2) tuyên bố rằng hai bên cần thực thi những nỗ lực nhằm tránh sử dụng vũ trang hoặc là tránh đe dọa sử dụng vũ trang để giải quyết bất đồng. Khi Trung Quốc mở rộng việc xây dựng các các cấu trúc bê tông làm chỗ trú cho dân đánh cá từ tháng 10 năm 1998 đến tháng 2 năm 1999 (có thể cho phép việc đặt căn cứ hải quân và không quân), và trong tháng 2 năm 1995, khi các cột mốc được đặt trên bãi ngầm Meiji Jiao (mischief reef), một số nhà phân tích đã cáo buộc Trung Quốc đang dần dần xâm phạm về mặt quân sự, dù rằng trước đó, Phililpine đã được thông báo trước.[42] Điều này còn chưa kể đến khó khăn về hậu cần mà Giải phóng Quân Trung Quốc (PLA) sẽ gặp phải để phục vụ số quân lớn hơn trong vùng. Thí dụ như khó tin là có đủ nước lọc đã khử muối để cung cấp liên tục từ tỉnh Hải Nam tới các đảo mà PLA chiếm đóng.  Với cái gọi là “sự hung hăng Trung Quốc”, các nhà phân tích cũng phải xem xét một thực tế là Trung Quốc chưa bao giờ ngăn chặn các hoạt động diễn tập hải quân vào tháng 6 năm 1983 và vào tháng 4 năm 1999 có sự tham gia của Australia, New Zealand, Anh, Singapore và Malaysia theo Thỏa thuận Quốc phòng 5 Bên, “một thỏa thuận quân sự theo đó Australia, New Zealand và Anh sẽ cùng nhau “tham vấn” nếu như Singapore hoặc Malaysia bị tấn công và sẽ quyết định các biện pháp được thực hiện, ở mức độ hợp tác hay riêng rẽ”.[43] Xét về sức mạnh thực tế thì có thể biện luận là Trung Quốc không có khả năng hành xử quyền phủ quyết đối với các hành động quân sự này.

Yếu tố tiêu cực thứ ba của đường chữ U liên quan đến vấn đề phân chia lãnh thổ bên trong đường này giữa Đài Loan và Trung Quốc. Điều này phụ thuộc vào liệu họ có đồng ý hình thành một liên bang (với các đặc điểm Trung Quốc) như một số người cổ võ,[44] hay là đối xử theo kiểu “một chính quyền đặc biệt đối với một chính quyền” (special state to state)  (như đã thực hiện vào tháng 7 năm 1999) hay là dưới những tuyên bố như “chỉ có một quốc gia ở mỗi bên của eo biển Đài Loan” (do Đài Loan tuyên bố vào tháng 8 năm 2002). Không có bên nào ở hai bên eo biển Đài Loan tuyên bố về các tọa độ địa lý trong phần sở hữu của họ (nhiều khả năng là họ không thống nhất với nhau).

Các điểm quan tâm khác

Andrew J Nathan và Robert S Ross quan sát rằng “Vạn lý trường thành là biểu tượng của sự yếu thế vì nó báo hiệu nguy cơ bị xâm lăng và cũng là biểu tượng của sức mạnh vì nó thể hiện tính siêu việt trong kinh tế và văn hóa và khả năng chống đỡ sự xâm lược với một kỳ công về kỹ thuật và tính cảnh giác”.[45] Tính nước đôi này cũng áp dụng cho vấn đề đường chữ U như là các đường vẽ trên cát mang tính tâm lý, như Cossa viết “…Trong khi tất cả các bên đều hiểu rõ rằng có những “đường trên cát” là đường vạch không nên bước qua, nhưng phần lớn các đường này không được định nghĩa một cách rõ ràng. Nước đôi về chiến lược liên quan đến phản ứng có thể xảy ra đối với hành động thù địch có thể có ích, nhưng nước đôi về chiến thuật liên quan đến đánh giá cái gì có thể coi là hành động khiêu khích có thể đưa tới những kết quả chế người. Và cần tranh luận thẳng thắn hơn…”.[46] Cossa cũng nói rằng “một số chuyên gia an ninh ĐNA bày tỏ không dấu diếm  việc cần có những động thái mạnh hơn với Trung Quốc, và kể cả sẵn sàng dùng vũ lực chống vũ lực”.[47] Các học giả như Kemp, tuy vậy, lại nhắc nhở rằng luôn có tuyến cùng tồn tại: tuyến thực và tuyến tuyên truyền.[48] Vì vậy có nhiều khả năng là đường cơ sở và các đường liên quan đến đường cơ sở của Trung Quốc là tuyến thực, trong khi đường chữ U chỉ tồn tại nhằm mục đích chính là tiêu thụ nội địa ở Trung Quốc, đặc biệt là làm nguôi thành phần quá khích.

Thứ hai, không có một tọa độ địa lý cố định cho đường chữ U, trừ vĩ độ Bắc 4. Điều này đem lại cho Trung Quốc một độ tự do nhất định để thay đổi quan điểm. Họ có thể quyết định giảm diện tích vùng phía trong đường chữ U, điều này có thể xoa dịu những lo lắng của các nước cũng có yêu sách về mối đe đọa từ Trung Quốc. Mặt khác, Đài Loan và/hoặc Trung Quốc đại lục cũng chọn cách mở rộng đường chữ U, tận dụng “…sự thiếu rõ ràng và chung chung của luật quốc tế về việc phân chia ranh giới hàng hải” có nghĩa là “ luật quốc tế không mô tả một cách chính xác ranh giới này phải đặt ở đâu”.[49] Nếu điều này xảy ra, chúng ta chắc chắn một điều là các nước ĐNA sẽ trong tình trạng báo động nếu như họ không chống đối một cách thẳng thừng. Liên quan đến việc thu hẹp và mở rộng đường chữ U, điều đáng lưu ý là Trung Quốc đã bỏ đi hai đoạn trên vịnh Bắc Bộ trong  11 đoạn xác định lúc đầu của đường chữ U khi nổ ra tranh chấp.[50] Nếu như Đài Loan và/hoặc Trung Quốc mong muốn mở rộng đường này, họ sẽ chọn điểm kết thúc ở các tỉnh khác của Trung Quốc như là Triết Giang (Zhejiang) thay vì ở huyện Yilan thuộc Tỉnh Đài Loan. Tương tự như vậy, cả hai bên của eo biển Đài Loan sẽ bao gồm hoặc cắt một vài phân đoạn gần Zengmuansha khiến cho đường chữ U trông sẽ khác đi.

Thứ ba, cho đến nay, không chỉ Trung Quốc mà cả Đài Loan, vốn không có cơ hội tham gia vào việc kí kết, không thể hoàn thành mọi nghĩa vũ của họ theo luật biển 1982. Luật này (khi có hiệu lực) giảm các vùng biển cả (high seas) đi 40%,[51] tăng vùng thuộc về các nước có bờ biển, nhưng lại tạo ra những ràng buộc về hoạt động khá nặng nề cũng như các nghĩa vụ tài chính.[52] Nhiều nước đã thất bại trong việc thực thi các quy định này.  Ví dụ, cả Đài Loan và Trung Quốc đều không thể kiểm soát Biển NTH trong 24 giờ một ngày (mặc dù họ có thể sử dụng vệ tinh để kiểm soát các hoạt động trên biển).

Thứ tư, dân số các vùng nước phân định bởi đường chữ U tương đối thưa thớt. Thực tế là khi đường này xuất hiện lần đầu tiên, có thể nói rằng nó là một “pháo đài trống”. Dân số trong “pháo đài trống” này tăng rất chậm.[53] Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Hải quân Đài Loan đã đã đem lính đến đảo Taiping Dao. Nhưng mãi đến vài thập kỉ sau, tháng 8 năm 1988, lính thủy đánh bộ Trung Quốc mới xây đại bản doanh, trung tâm chỉ huy và đài quan sát hải dương trên bãi đá ngầm Yong shu Jiao (hay còn gọi là Fiery Cross hay N.W Intestigator). Đầu năm đó (tháng 5), Trung Quốc đã thiết lập các trạm quan sát, tất cả đều là ở những vùng thủy triều thấp trên bãi đá ngầm Chiqua Jiao (Johnson), Zhubi Jiao (Subi), và Meiji (cái này lớn hơn pháo đài trên bãi đá Yongshu).[54] Mặc cho những hoạt động gần đây, sự xuất hiện của Trung Quốc trên Biển NTH vẫn khá hạn chế và Trung Quốc cũng nói rõ rằng họ không sử dụng bãi đá Meiji cho mục đích quân sự.[55] Trường hợp này có thể liên hệ đến kinh nghiệm của Philipine vào những năm 1990 khi Đài Loan yêu cầu hai lạch đường tầu đi từ Philipine cho phép tàu đánh cá của Đài Loan rút ngắn chặng đường đến Biển NTH. Tuyến đường này, theo Meliton Juannico, rõ ràng là thuộc hải phận của Philipine, dù là áp dụng đường cơ sở, thuyết về quần đảo hay là luật biển 1982. Nói cách khác, Philipine cho rằng họ có toàn quyền (chứ không chỉ đơn giản là quyền tài phán) đối với hai tuyến đường này. Tuy vậy, một học giả Philipine sẽ không hiểu được tại sao nước này lại cho phép các ngư dân Đài Loan đi qua hải phận của họ.[56]

Mối quan hệ giữa đường chữ U và các khái niệm hàng hải khác

Phần này đề cập đến mối quan hệ giữa đường chữ U của Trung Quốc và các khái niệm hàng hải bằng cách giải thích về các điểm, đường, và khu vực. Nhìn từ trên xuống (từ không trung hay là ngoài vũ trụ), các đảo và thậm chí là quần đảo trở thành các điểm hoặc chấm. Một số nhà nghiên cứu thậm chí gọi các đảo (islands), đảo nhỏ (islets), bãi đá ngầm (reefs), đảo san hô (atolls) và bãi cát thấp (cays) trên Biển NTH là những cứt ruồi. Đường được hình thành từ hai điểm nối với nhau. Hai loại đường thường được đề cập đến là đường cơ sở và đường ranh giới hàng hải (ví dụ như đường trên vịnh Bắc Bộ). Khái niệm về vùng (phân định các vùng bên trong đường) đặc biệt liên quan đến việc phân chia biển cùng với sự tham gia của các yếu tố sau: chỉ kể một số như vùng (biên giới) quân sự hoặc là an ninh, vùng biển quốc phòng,[57] vùng có thể đặt chất nổ, vùng đánh cá, vùng trung lập, vùng bảo vệ cấm khai thác,[58] vùng thăm dò,[59] vùng xám[60] [chưa xác định rõ], vùng đệm,[61] vùng an toàn,[62] lối đi an toàn,[63] vùng bến đỗ cách ly,[64] vùng phi quân sự, vùng cấm võ khí hạt nhân, vùng hòa bình, tự do và trung lập, vùng sử dụng đặc biệt,[65] vùng hải dương chung.[66] Như đã nói ở phần trước, các đường bao quanh khu vực này (dù là vùng đặc quyền kinh tế hay vùng tiếp giáp) có thể được so sánh như là những bức tường bảo vệ khác nữa của Trung Quốc.[67]

Vào tháng 5 năm 1996, Trung Quốc đã thông qua luật biển 1982 và tuyên bố đường cơ sở thẳng trong các vùng như là nhóm đảo Tây Sa (hay Paracel)[68] [Hoàng Sa theo Việt Nam], thừa nhận rằng “…sự nhạy cảm về chính trị của một số vấn đề liên quan đến biên giới [theo Công ước biển 1982] buộc những nước tham gia trong một số trường hợp phải đánh đổi sự chắc chắn lấy tính linh hoạt”.[69] Bốn năm sau sự kiện này, Quốc hội Trung Quốc đã ban hành “Luật của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hải phận và vùng tiếp giáp” và, hai năm sau, tháng 6 năm 1998, “Luật Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Vùng Đặc quyền Kinh tế và Thềm Lục địa” được ban hành. Những hành động này đã cho thấy khả năng các đường cơ sở trên nhóm đảo Nam Sa sẽ được vẽ (lại). Vì vậy vào tháng 2 năm 1999, Đài Loan công bố đường cơ sở của mình dựa trên đảo Huangyan Dao, và họ đã kí gửi các bản đồ và tọa độ liên quan ở Liên Hiệp Quốc. Tuy vậy chúng ta sẽ thắc mắc đối với Trung Quốc đâu sẽ là lí do để họ vẽ (lại) đường cơ sở khi mà đường chữ U đã tồn tại.[70]

Một trong những lí do  chính mà Trung Quốc quan tâm đến đường cơ sở đó là tính không chắc chắn gây ra Luật Biển 1982 đã thất bại trong việc giải quyết các tranh chấp về đảo và biên giới hàng hải, quyền tự do đi lại của naval passage, cũng như ô nhiễm trên biển (among other things). Trong bối cảnh không chắc chắn này, Trung Quốc , vừa vẽ các đường cơ sở vừa như bảo vệ quan điểm về đường chữ U, đã áp dụng hình thức bảo hiểm kép (double insurance) một cách hiệu quả để giảm thiểu các mất mát (có thể có). Khái niệm bảo hiểm kép trong thực tế tồn tại trong bảo hiểm hàng hải.[71] nếu một hợp đồng bảo hiểm không đáp ứng được, thì một hợp đồng khác sẽ được sử dụng, đặc biệt là liên quan tới các “chính sách biển linh hoạt” Luật Biển 1982 đề ra.[72]

Một lí do khác mà Trung Quốc quan tâm đến đường cơ sở có lẽ được mô tả rõ nhất khi đề cập đến một đường khác. Từ tháng 2 đến tháng 7 năm 1945, đường oder-neisse (những con sông), do Franklin Roosevelt, Winston Churchill và Joseph Stalin xây dựng tại Yalta, đã xác định các lãnh thổ Đông Đức nằm dưới quyền của Ba Lan sau khi kết thúc thế chiến thứ 2. Nó cũng được mô tả là “đường an ninh tự nhiên”[73] sau thế chiến 2 và cũng là một hình thức đền bù cho Liên Xô cũ trong việc đánh đuổi Đức Quốc xã.[74] Tương tự như vậy, việc thể  chế hóa đường cơ sở cũng là một hình thức đền bù cho những  gì mà Đài Loan và Trung Quốc đại lục đã mất trong phần đường chữ U trong những thập kỉ qua. Nó cũng là một dấu hiệu cho thấy rằng Trung Quốc sẽ rất cứng rắn bảo vệ các quyền lợi quốc gia của họ trong những khu vực như là khu đặc quyền kinh tế.

Bên cạnh những lí do này, một điều cũng cần lưu ý đó là tuyên bố của Trung Quốc về vị trí của đường cơ sở trên Biển NTH không có nghĩa là Trung Quốc tạm rút lui chỉ vì họ đã không thể hoàn toàn thuyết phục các nước ĐNA khác cũng có yêu sách rằng phần phía bên trong đường chữ U thuộc về cả hai phía của eo biển Đài Loan. Trung Quốc rõ rằng nhận thức được rằng “các tranh chấp biên giới luôn đem lại lợi ích cho luật sư; thường xuyên đem lại lợi ích cho người giám định; và không bao giờ mang lại lợi ích cho người sở hữu”[75] và họ sẽ không ra tòa trừ khi điều đó là rất cần thiết. Không thể nói rằng không có sự khiêu khích ở đây. Một số nước có yêu sách đã cố ý toàn bác bỏ quyền của Trung Quốc đối với đường chữ U, họ lập luận rằng (như Prescott nói) “có thể tới 10 biên giới song phương tiềm năng xung quanh các bờ của Biển NTH nhưng chỉ có 5 trong số đó là được vẽ ra và không có cái nào hoàn chỉnh cả”.[76] Một trong số những nước có yêu sách phản đối là Việt Nam (bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào tháng 11 năm 1991). Trước khi Sài Gòn giải phóng vào tháng 4 năm 1975, Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc thí dụ đối với nhóm đảo Nam Sa. Tuy vậy, sau khi tiếp quản miền Nam Việt Nam quan điểm của họ đã thay đổi đột ngột. Vào cuối năm 1975, một bản đồ lãnh thổ mới của Việt Nam thống nhất hai miền Bắc Nam đã được xuất bản trong đó bao gồm (và lần đầu tiên) cả nhóm đảo Nam Sa và Tây Sa.[77] Các nước khác thì sử dụng Luật Biển 1982 để đòi nhượng bộ từ phía Đài Loan và Trung Quốc.[78]

Để xác định quan điểm của Trung Quốc trong vấn đề đường chữ U, và phản bác những cáo buộc cho rằng Trung Quốc đang bành trướng, chúng ta cần phải xem xét một số trường hợp trong đó các thực thể chính trị hoặc quốc gia cũng có thể coi là có hành vi bành trướng. Đầu tiên là sự tranh cãi giữa lý thuyết mare clausum (closed sea, biển đóng) được John Selden ủng hộ, và lý thuyết mare liebrum (open sea, biển mở) được Hugao Grotius đưa ra. Cuối cùng khái niệm sau đã thắng thế, nhưng không phải là không có những nhượng bộ đáng kể đối với lý thuyết đầu về quyền đối với các khu vực bờ biển, như Johnston viết, vào cuối thế kỉ 18 “phần lớn các nước phương Tây, và tất cả  các thế lực đang thắng thế, đều đồng ý xem các đặc quyền và độc quyền (special or exclusive rights) đối với vùng biển gần bờ là một vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia (national entitlement), xuất phát từ khái niệm về chủ quyền và được công nhận bởi hư cấu pháp lý về lãnh thổ (legal fiction of territoriality)”.[79]

Ví dụ thứ hai liên quan đến đường cơ sở, mà phần lớn chúng không được vẽ một cách chính xác hoặc, ít nhất, là vẽ ra một cách đơn phương. Ví dụ Thái Lan đã phản đối đường cơ sở mà Việt Nam vẽ. Đây là một đường thẳng trừ phần tiếp giáp với bờ biển Campuchia và Trung Quốc.[80]

Vị trí của Mỹ trên Biển NTH cũng có thể xem là ví dụ thứ ba. Vào tháng 5 năm 1995, Bộ Ngoại giao Mỹ đã nhắc lại tuyên bố chính thức về quần đảo Nam Sa trong đó nói rằng Washington “rất quan ngại đối với bất cứ yêu sách biển nào, hay các việc hạn chế hoạt động hàng hải nào trên Biển NTH không nhất quán với luật quốc tế, bao gồm cả Luật Biển 1982“.[81] Điều thú vị là Mỹ đề cập đến cả luật quốc tế và luật Biển 1982, vì điều này có vẻ như sẽ là yêu sách bảo hiểm kép  nhằm mục đích duy trì lợi ích quốc gia của Mỹ, đặc biệt khi mà Luật Biển 1982 không đề cập đến vấn đề chủ quyền”.[82] Như một quan chức Quốc dân Đảng ở Đài Loan nhận xét, Mỹ vẫn xem Thái Bình Dương như là “cái hồ Mỹ”.[83]

Ví dụ thứ tư liên quan đến Peta Baru (bản đồ mới) của Malaysia xuất bản vào tháng 12 năm 1979. Peta Baru không bao gồm bản vẽ khu đặc quyền kinh tế của Malaysia, một phần vì tiên đoán rằng đường cơ sở có thể được điều chỉnh lại sau Hội nghị về Luật biển 1982.[84] Tuy vậy việc Malaysia không xác nhận các tọa độ của khu vực đặc quyền kinh tế trên bản đồ nước này là một hành động cẩn trọng do cho rằng các nước khác sẽ chống lại sự xác lập các tọa độ này.[85] Việc bỏ qua các tọa độ của khu đặc quyền kinh tế rõ ràng là một hành động nhằm duy trì lợi ích quốc gia, đặc biệt khi mà trên thực tế, vào tháng 12 năm 1984, Malaysia đã thông qua luật về vùng đặc quyền kinh tế của mình theo đó (trong điều kiện không bị các nước khác phản đối) trọng tài của họ có thể sử dụng luật về khu đặc quyền kinh tế để xét xử các tàu đánh cá nước ngoài đi vào vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia.[86]

Nếu như khái niệm bảo hiểm kép không tỏ ra thuyết phuc, người ta có thể dùng tới kết quả phân xử của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) về sự tồn tại các đường trên biển một cách chính thức và không chính thức, hoặc trên cơ sở pháp định (de jure) hay cơ sở đương nhiên (de facto).[87] Các bên không phải là Trung Quốc có thể coi đường chữ U là không chính thức hoặc đương nhiên, và các đường cơ sở khác là chính thức hay pháp định. Như là một sự mở rộng của lập luận này, một đảo trên Biển NTH có thể được coi là nằm trong  vùng nước lịch sử của Trung Quốc nhưng không thuộc vùng đặc quyền kinh tế của họ. Vì vậy nếu trong quá trình thương lượng với các nước ĐNA về một hòn đảo, Đài Loan và/hoặc Trung Quốc đại lục không đề cập về thềm lục địa (ví dụ), do vì cho rằng đảo nằm trong  ở vùng nước lịch sử trong phạm vi đường chữ U.

Mối quan hệ giữa các đường cơ sở (như một ví dụ về hình thức sở hữu) và đường chữ U có thể được xem xét một cách đơn giản hơn khi xét đến tính linh hoạt của nó đối với cả hai bên của eo biển Đài Loan trong quá trình giải quyết bất đồng với các nước có yêu sách. Có thể nói rằng trong trường hợp thuận lợi, Trung Quốc sẽ thể hiện quan điểm quả quyết về đường chữ U, và khi mà nước này yếu thế về mặt chính trị và/hoặc quân sự, nó sẽ im lặng. Một ví dụ về việc sử dụng linh hoạt chính sách này là Trung Quốc đã ra lệnh cấm các ngư dân của họ không đánh bắt trên Biển NTH trong hai tháng, từ 1 tháng 6 đến 31 tháng 7 mỗi năm, bắt đầu từ năm 1999,[88] nhưng cùng lúc họ cũng từ chối chấp nhận đòi hỏi của Philipine là không xây dựng thêm các công trình xây dựng trên Biển NTH.[89] Tuy vậy cũng cần phải lưu ý rằng sự im lặng trên đường chữ U không chỉ có nghĩa là Đài Loan và Trung Quốc đã đầu hàng. (Cần nói qua cho rõ là cả Đài Loan và Trung Quốc chưa nói nhiều về biên giới trên không, vốn cũng tồn tại song song với các biên giới đất liền. Cả hai bên đều không nêu rõ ở độ cao nào không phận chấm dứt)[90]. Cũng cần phải xem xét đến sự khó khăn trong việc từ bỏ một cách chính thức đường chữ U.Về mặt luật pháp, cần có ba phần tư đại biểu trong Hội đồng quốc gia của Đài Loan biểu quyết chấp thuận từ bỏ quyền sở hữu với đường chữ U. Đối với Đài Loan ngày nay thì sự việc trở nên khó khăn hơn vì quyền lực của Quốc [dân Đại] hội [gồm đại biểu của lục địa có từ thời Tôn Trung Sơn] đã chuyển sang Lập pháp Viện (Legislative Yuan) vào tháng 5 năm 2003. Một điều chắc chắn là Viện này cũng gặp những khó khăn mà Quốc hội trước gặp phải. tức là, các đảng chính trị thân chính quyền không có nổi đa số ¾. Cũng thế, Toàn Quốc dân Đại hội Nghị Trung Quốc (NPC) [tức là Quốc hội ở lục địa] cũng sẽ phải thông qua những động thái tương tự để từ bỏ đường này.  Đảng Cộng sản có thể (như một thủ thuật chính trị) yêu cầu một số thành viên NPC đưa ra vấn đề bãi bỏ đường chữ U, mà thật không bao giờ có ý định thông qua việc bãi bỏ này.

Cuối cùng là một số ý kiến về vấn đề vùng nước lịch sử và hành động xâm lấn đang xảy ra. Đường chữ U xác định vùng của Trung Quốc và vùng nước bên trong nó thành các “vùng nước lịch sử”. Các bài báo của Trung Quốc đã cáo buộc về việc các nước khác xâm lấn vùng này. Một số tính toán sơ bộ về diện tích vùng lấn chiếm như sau; Việt Nam 1,170,000 kilomet vuông, Philippines 620,000, Malaysia 170,000, Brunei 50,000. và Indonesia 35,000.[91] Đúng là khái niệm vùng nước lịch sử không được đưa ra trong Luật Biển 1982. Tuy vậy khái niệm này có được đề cập qua trong một bản ghi nhớ của Liên Hiệp Quốc vào cuối những năm 1950. Nội dung của bản ghi nhớ đó là một nước có thể sở hữu các vùng nước lịch sử chừng nào không có nước khác phản đối.[92] Rõ ràng là không thiếu yếu tố phản đối này đối với vùng nước lịch sử của Trung Quốc trên Biển NTH. Cũng cần phải nói rằng Việt Nam và Philipine có xác nhận sở hữu vùng nước lịch sử. (Nói qua, lưu ý rằng các vùng nước lịch sử của Việt Nam trên vịnh Bắc Bộ đã được công bố vào đầu những năm 1980 thông qua Tuyên bố về Đường Cơ sở Lãnh hải của Việt Nam,[93] và bỏ qua câu hỏi là liệu những vùng nước này có được coi là “lịch sử” không). Nếu như họ bác bỏ chấp nhận vùng nước lịch sử của Trung Quốc, thì đâu là quyền để họ yêu cầu Trung Quốc thừa nhận vùng nước lịch sử của mình?. Cần bao nhiều nước phản đối để có thể hủy bỏ quyền của Trung Quốc đối với vùng nước lịch sử? Một số chuyên gia như Hasjim Djalal (Đại sứ Quốc vụ khanh về Luật Biển và Vấn đề Hàng hải của Indonesia) và B.A Hamzah (cựu tổng Giám đốc Học viện Hàng hải Malaysia) cũng phản đối quyền của Trung Quốc đối với các vùng nước lịch sử.[94]

Manila và Kuala Lumpur cũng có những tranh cãi song phương, ví dụ, Manila đặt nghi vấn cách hành xử của Kuala Lumpur đối với Hiệp ước của Philipine với Mỹ và Anh trong vấn đề biên giới giữa Philipines và Malaysia. Malaysia nói rằng đường này chỉ là giới hạn (line of demarcation) vì thế không phải là một đường biên giới. Đường này chỉ ra đảo hay vùng quặng nào của Biển NTH thuộc về Malaysia hay Philipine, nhưng điều đáng nói là nó không liên quan gì với (a) các vùng nước, (b) thềm lục địa, và (c) các lãnh thổ khác.[95] Liên quan đến Biển NTH, Bộ Ngoại giao Mỹ “không có quan điểm về phải trái trị pháp lý (legal merit) đối với những yêu sách chủ quyền tranh chấp trên các đảo, bãi ngầm, đảo san hô và các bãi cát trên Biển NTH”.[96] Và nó cũng không đề cập đến các vùng nước lịch sử của Trung Quốc. Khi Philipine tìm kiếm sự hỗ trợ của Mỹ trong việc giải quyết tranh chấp đảo Nam Sa, Mỹ vẫn “duy trì một chính sách trung lập nói chung, với lí do là Hiệp ước Quốc phòng chung Mỹ-Philippines không đề cập đến vùng lãnh thổ tranh chấp [nhóm đảo Nam Sa] không đương nhiên bao gồm vùng tranh chấp [nhóm đảo Nam Sa vì] cho đến trước khi kí hiệp ước (tháng 8 năm 1951) Manila vẫn chưa tuyên bố yêu sách về vấn đề này” và quan trọng hơn, bởi vì Trung Quốc không trực tiếp xâm lăng Philippines.[97] Nói tóm lại, có thể lập luận rằng người Mỹ không cho rằng đường chữ U của Trung Quốc là quá đáng.[98] Liên quan đến điều này, cần nhớ lại là các phản ứng của Mỹ vào tháng 10 năm 1973 khi Cộng hòa Arab Libya đơn phương tuyên bố đường tận cùng trong vịnh sirte. Mỹ đã nhanh chóng không thừa nhận điều này (về mặt ngoại giao) và sau đó bằng hành động quân sự.[99] Điều dễ thấy đó là Mỹ (với những lợi ích đã xác lập của mình) không phản đối sự tồn tại cái “hồ Trung Quốc” (Chinese lake) này chừng nào mọi thứ vẫn diễn ra hòa bình đối với tàu bè thương mại và phi thương mại của họ.

Kết luận

Vào cuối những năm 1970, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã mở cửa với thương mại thế giới. Quá trình này đã được thúc đẩy sau chuyến đi của Đặng Tiểu Bình qua các tỉnh vùng nam Trung Quốc lục địa vào tháng 1 và tháng 2 năm 1992. Sang năm 1993, Trung Quốc bắt đầu trở thành một nhà nhập khẩu ròng dầu thô khi mà cầu về dầu của nước này vượt quá cung trong khi giá dầu nhập khẩu lại rẻ hơn. Trong năm 1993, Trung Quốc đã nhập 20% tổng trữ lượng dầu thô (và các sản phẩm liên quan đến dầu).[100] Có nhiều khả năng là nguồn cung ứng dầu chiến lược nhất và lớn nhất Trung Quốc là mỏ dầu Daqing cho đến hiện tại đã cạn kiện.[101] Theo đó, dự báo cho rằng đến năm 2005, tiêu thụ dầu ở châu Á sẽ vượt qua Bắc Mỹ.[102] Song song với sự tăng trưởng tiêu thụ dầu là việc tăng giá dầu, đặc biệt là các nước OPEC tiếp tục định kì cắt giảm nguồn cung toàn cầu 2 triệu thùng mỗi ngày.[103] Mặc cho khả năng này, cũng không có nhiều khả năng là ngoại thương của Trung Quốc sẽ giảm đi, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO vào năm 2001.

Để tiếp tục tăng sản xuất các sản phẩm và dịch vụ xuất khẩu, Trung Quốc sẽ phải tiêu thụ dầu và nhu cầu này khiến cho Biển NTH trở nên cực kì quan trọng về mặt chiến lược. Vì thế, tháng 8 năm 2003, khi ở Philipine, một quan chức Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cao cấp, Wu Bangguo (Ngô Bang Quốc), đã nói rằng Trung Quốc đại lục có thể phát triển các mỏ dầu trên quần đảo Nam Sa cùng với các quốc gia khác. Philipine có thể có khả năng là nước đầu tiên tham gia vào chiến lược hợp tác này. Thậm chí nếu như Trung Quốc thành công trong việc đảm bảo nguồn cung dầu trên Biển NTH bằng cách xua đuổi quân đội các nước khác ra khỏi vùng này, việc bảo vệ nhóm đảo Nam Sa và các dự án phát triển dầu khí của họ, chống lại sự quấy rối và/hoặc phá hoại của quân đội các nước là vô cùng khó khăn. Đây là tình thế tiến thoái lưỡng nan mà hiện nay Trung Quốc đang mắc phải, và vì thế nước này không mong đợi rằng họ sẽ đề cập nhiều đến đường chữ U trong vài thập kỉ tới.[104] Tuy vậy phải nhấn mạnh rằng, nếu có cơ hội, trường hợp East Greeenland có lợi đối với vị trí của Trung Quốc, như đã chỉ ra trong báo cáo của Scobbie. Đúng là việc loại bỏ các bức tường là có thể, giống như bức tường Berlin tháng 11 năm 1989, Trung Quốc, tuy vậy, sẽ không xóa bỏ đường chữ U, trừ khi họ bị đánh bại về mặt quân sự và bị thách thức bởi cộng đồng quốc tế. Vị trí của Đài Loan cũng tương tự như như vậy mặc dù nó muốn giữ thế tránh bị chú ý trong vấn đề này, để không gây căng thẳng với các nước ĐNA. Liên quan đến quan điểm của Trung Quốc và Đài Loan về biển Đông, Fu kuen-chen cho rằng các tọa độ địa lý được hai nước này công bố không mâu thuẫn mà cũng không phải là thiếu nhất quán với nhau.[105] Điều này chỉ ra rằng cả hai bên của eo biển Đài Loan sẽ hợp tác với nhau trên Biển NTH trong dài hạn và có nhiều khả năng hợp tác về mặt chính sách, đặc biệt là khi họ đã có một sự đồng thuận về việc duy trì mối quan hệ đặc biệt của hai bên trên bình diện trong nước cũng như quốc tế.

Tuy vậy, khi chạm đến vấn đề chủ quyền và các vùng như vùng cơ sở và đặc quyền kinh tế bị đe dọa, chúng ta có thể đoán được là Trung Quốc và Đài Loan sẽ trở nên cứng rắn. Chủ nghĩa quốc gia và tình cảm đi cùng với nó sẽ đưa đến tăng cường quân sự. Điều này không có nghĩa là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa muốn bị coi là nước côn đồ. Quả thực, như tuyên bố gần đây, vào tháng 8 năm 1990 tại Singapore, cựu Thủ tướng Li Peng (Lý Bằng) tuyên bố Trung Quốc đại lục vẫn mong muốn được coi là người chơi có tinh thần đồng đội: “Trung Quốc sẵn sàng tham gia vào các nỗ lực với các nước ĐNA để phát triển nhóm đảo Nam Sa và vào lúc này bỏ sang một bên những bất đồng”.[106] Để thúc đẩy việc này, Trung Quốc và Đài Loan đã tạm thời xác định vài lạch đường nhất định coi như hành lang trên biển khơi (high sea corridors) trong vùng chữ U. Nhật Bản, Nam Triều Tiên, và Phần Lan là một số nước chứng tỏ bằng hành động, chọn giảm lãnh thổ biển từ 12 hải lý xuống 3 hải lý nhằm tránh các vấn đề tàu thuyền qua lại.[107] Một khả năng nữa đó là bắt chước hình thức miền hải dương (maritime domain) của Peru, khi họ chấp nhận tàu thuyền và máy bay tự do đi lại. Các vùng nước không nằm trong các vùng như vùng đặc quyền kinh tế hoặc là các vùng tiếp giáp có thể thuộc miền hải dương trên Biển NTH.[108] Làm khác đi một chút, các vùng nước đó có thể tạo thành một vùng thuộc loại riêng biệt (sui generis) trong một khoảng thời gian nhất định. Các khả năng hợp tác này khá là khác với cái gọi là  tiềm năng “Tây Tạng hóa biển Đông”.[109]

Sự phát triển về tài liệu liên quan đến việc hình thành biên giới bắt đầu từ  25 năm cuối của thế kỉ 19 và bài viết này có thể xem như là góp phần vào sự phát triển chung đó.[110] Valencia, trong cuốn Malaysia và Luật Biển, đã đề tặng con cháu người Malaysia, mà ông ta cho là sẽ phải gánh chịu nếu như Malaysia không quản lý các vấn đề hàng hải một cách khôn ngoan.[111] Tôi cũng muốn dành tình tự này cho người Trung Quốc trên cả hai bên của eo biển Đài Loan. Chúng ta cần phải kiểm soát các vấn đề hàng hải một cách khôn ngoan. Khi mà các nước có yêu sách vẫn nắm chặt phần họ chiếm đóng, thì không thể tưởng tượng được là Trung Quốc và Đài Loan sẽ từ bỏ đường chữ U trong tương lai trước mắt. Ngoài vấn đề lợi ích quốc gia, hành động như thế có thể coi như mở nắp hũ mắm (Pandora’s Box) là khi mà các nước khác nhau nhảy vào chỗ trống tranh giành với yêu sách chủ quyền tài nguyên thiên nhiên.

Mất 15 năm để 119 nước kí kết Luật Biển 1982. Bất cứ một hiệp định nào về Biển NTH cũng cần ít nhất cùng một khoảng thời gian như vậy, nếu không phải là lâu hơn, để tiến hành và đưa đến một thỏa thuận mới. Luật Biển 1982 không đề cập đến đường chữ U, nhưng điều này có thể liên quan tới các lỗi thủ tục (procedures) và một số lỗi khác có liên quan, mặc dù đã có 66 “nguyên tắc về thủ tục” khác nhau được áp dụng từ tháng 7 năm 1974.[112] Thậm chí nếu có thảo luận về đường chữ U, các đại biểu Trung Quốc có khả năng cao là kiểm cách xếp xó  nó vì sợ rằng nó sẽ không được đa số phiếu ủng hộ. May mắn là cho đến hiện tại, không có một thế lực hàng hải nào buộc Trung Quốc phải từ bỏ đường chữ U.  Vì Trung Quốc đã không mất cái gì đáng kể, việc khôi phục lãnh thổ là một bước đi không cần thiết, không giống như trường hợp Argentina trong vấn đề quần đảo Malvinas/Falkland mà mãi sau 17 năm cho đến tháng 8 năm 1999 người dân trên đảo này mới có thể quay trở lại.[113] Thay vào đó có nhiều khả năng là Trung Quốc sẽ tiếp tục dùng phương hướng thực dụng trong khi đầu tư mạnh vào “bảo hiểm kép” (double insurance), điều này nghĩa là đường chữ U sẽ vẫn mang bản chất là sự xác quyết vô hại hơn là một pháo đài đáng lo ngại.[114]
Chú thích

[1] International Maritime Boundaries, Vol.1, Jonathan I. Charney và Lewis M. Alexander biên tập (Dordrecht: Martinus Nijhoff Publishers, 1993), trang 763

[2] Senior Minister Lee Kuan Yew có quan điểm cho rằng trong 25 năm tới, vũ trang chứ không phải luật quốc tế sẽ thống trị. Xem Strait Tímes (dưới đây gọi là ST) (Singapore), 29 tháng 3 1999, trang 3 Ralph A. Cossa chỉ ra rằng “…trước đây quân sự được sử dụng nhằm tăng cường và mở rộng các xác nhận chủ quyền quốc gia và nó có thể được áp dụng trở lại, khả năng là gây ra những hậu quả nghiêm trọng hơn rất nhiều”. Xem báo cáo của ông, Security Implications of Conflict in the South China Sea: Exploring Potential Triggers of Conflict (Hawaii: Pacific Forum CSIS, tháng 3 1998), trang V. Cũng xem Bernard H. Oxman, “Political, Strategic, and Historical Considerations”, International Maritime Boundaries, trang 5-40, đặc biệt là các trang 30-34.

[3] The Collection of Names and Materials on the South China Sea Islands, Chen Shijian biên tập (Guangzhou: Guangdong Atlas Publishing House, 1987), trang 48.

[4] Rõ ràng là Trung Quốc đang chờ cho mực nước biển hạ thấp xuống, 1000 năm sau kể từ bây giờ nó mới xảy ra. Dieter Heinzig không đưa đảo Huangyan Dao thành một phần của quần đảo Zhongsha, như trường hợp của the British Admiralty Chart số 270. Xem monograph của Heinzig, Disputed Islands in the South China Sea (Hamburg, Germany: Institute of Asian Affairs, 1976), trang 17, 47 và 57. Elizabeth Van Wie Davis cũng đề cập riêng đến quần đảo Zhongsha và Huangyua Dao. Xem sách China and the Law of the Sea Convention (New York: The Edwin Mellen Press, 1995), trang 13. Trung Quốc nói rằng họ có 6,500 hòn đảo, 70% trong số đó là trong vòng bán kính 10 kilomet vùng bờ biển và 90% trên vùng thềm lục địa. Họ cũng sở hữu 180 triệu nguồn tài nguyên thiên nhiên khác nhau, xem China Times (dưới đây gọi là CT( (Đài Bắc), 7 tháng 5 1996, trang 3.

[5] Từ này được lấy từ Wolfgang Wagner. The Genesis of the Older-Neisse Line (Germany: Brentano-Verlag Stuttgart, 1957)

[6] Zou Keynan, “Chinese Traditional Maritime Boundary Line in the South China Sea: Legal Implications for the Spratly Islands Dispute”, EAI Background Brief No. 14 (Singapore, 7 May 1998, trang 5 và 7.

[7] Huang Yi và Wei Jingfen, “The Legal Status of the South China Sea,” trong Taiwan on the Move, do Jeh-hang Laivaf Goerge T. Yu (Taiwan: National Central University, tháng 10 1998), trang 213. Bai đã được mời đến Bắc Kinh vào mùa hè 1990 để giải thích tại sao ông lại vẽ đường này. Tại thời điểm đó, ông đã hơn 80 tuổi và vì tuổi  cao, đã không thể nói hết được những lí do chính xác về việc vẽ đường này của ông. Tuy vậy, ông cũng nói rằng daoyu guishu xian (thực tế đường này chỉ ra quần đảo này thuộc về nước nào). Đối thoại với Zou Keyuan (vào khoảng nửa cuối năm 1998).

[8] Zou, sđd, trang 6. Vào tháng 1 năm 2000, Xinhuashe (New China News Agency) báo cáo rằng bản đồ do người Trung Quốc vẽ lần đầu tiên vào tháng 10 năm 1845 được phát hiện tại thành phố Shijianzhuang, tỉnh Hebei. Bản đồ thế giới này có đề cập đến quần đảo Nansha, Xisha, và Zhongsha. Mao Trạch Đông (Mao Zedong) đã từng nói rằng Trung Quốc không được bảo vệ trên biển. Điều này có nghĩa là Trung Quốc chỉ an toàn khi các thế lực bên ngoài không thực hiện chính sách “ngoại giao pháo hạm” (“gunboat diplomacy”), nhưng trong hoàn cảnh hiểm nguy, chính sách này có thể được áp dụng. Xem Jiefangjunbao (dưới đây gọi là JFJB) (Bắc Kinh), 9 tháng 4 2001, trang 7.

[9] Huang và Wei, sđd, trang 213. Đến tận Cách mạng mùng 4 tháng 5 năm 1919 giới trí thức Trung Quốc mới bắt đầu ủng hộ chủ nghĩa dân tộc (nationalism).

[10] Cossa, sđd, trang B-1. Vào tháng 5 1956, miền Nam Việt Nam xác nhận chủ quyền quần đảo Xisha và Nansha. Vào tháng 8 năm 1973, họ chiếm đóng 6 đảo trong hai quần đảo này. Vào ngày 14 tháng 3 năm 1983, hải quân Việt Nam đã nổ phát súng đầu tiên vào hai nhà khoa học Trung Quốc trên hai quần đảo này. Xem Liu Yanxun, Zongguojandai duiwaizuozhan zhongdashilu (Xizang: Xizang renmin chubanshe, tháng 5 2000), trang 211. Theo Robert Karniol, Jane’s Defense Weekly, “PLA đã nổ phát súng đầu tiên, và rất nhiều việc khác nữa, khi họ quyết định chiếm quần đảo Paracels từ miền Nam Việt Nam năm 1974. Điều đó có nghĩa là: họ tấn công khi họ cảm thấy cơ hội để giành chiến thắng nhanh chóng đã đến khi mà cả miền Nam Việt Nam và cộng đồng quốc tế đang bị phân tán bởi những vấn đề quan trọng hơn, sau đó coi như mọi sự đã rồi. Cuộc tranh chấp trên quần đảo Trường Sa (Spratly) không phải là chủ ý của cả hai bên nhằm tranh giành lãnh thổ, và nếu như đó là mục tiêu thực sự, thì tình thế sẽ rất khác”. (Karniol, email tới tác giả, 11 tháng 5 1999). Tuy vậy, theo như  bản tháng 9 1989 của tờ Chuanjianzhishi (Bắc Kinh) (trang 24) vào tháng 1 năm 1974, bốn tàu hải quân miền Nam Việt Nam đã đồng thời bắn vào tàu hải quân của PLA. Điều này cũng cho thấy Việt Nam không hề nhút nhát. Họ nói rằng tàu khu trục (destroyer) số 134 của PRC đã hai làn bắn vào tàu số 505 của Việt Nam vào ngày 19 tháng 11 1988. Ngược lại, PRC khăng khăng cho rằng tàu khu trục của họ neo trên vùng biển thuộc quần đảo Nansha. Xem Wen Hui Pao (dưới đây gọi là WWP), ngày 25 tháng 11 1988, trang 2. Cũng có một sự trùng hợp đó là cả Bắc Kinh và Hà Nội cáo buộc lẫn nhau bắn phát súng đầu tiên. Xem CT, 16 tháng 3 1988, trang 3. Số xuất bản ngày 1 tháng 4 1988 của People’s Daily (dưới đây gọi là PD) (Bắc Kinh) cũng cáo buộc Việt Nam bắn phát súng đầu tiên vào tháng 3 năm 1988 (trang 1). Các học giả và chuyên gia Trung Quốc cũng chỉ ra rằng, kể từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) thành lập, nước này đã dính líu đến chiến tranh 9 lần, nhưng tất cả đều trong tình trạng bị động. Xem Zhongguo Pinglun (China Review) (Hongkong) tháng 7 1998 trang 91.

[11] Bernard D. Cole, The Great Wall at Sea (Annapolis, MN: Naval Insitutue Press, 2001)

[12] Douglas M. Jonhston, The Theory and History of Ocean Boundary Making (Kingston, Canada: McGill-Queens’ University Press, 1988), trang 225. Sheee Pon Kim cho rằng “cái gọi là “sự đe dọa Trung Quốc” là khá rõ ràng…” Xem bài báo của ông, “Is China a Threat to the Asia-Pacific Region?” trong China’s Political Economy, do Wang Gungwu và John Wong biên tập (Singapore University Press và World Scientific, 1998) trang 355. Để hiểu cơ bản về Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc, xem Arthur Waldron, The Great Wall of China: From History to Myth (Cambrigde, U.K,: Cambridge University Press, 1990).

[13] Để hiểu rõ hơn về siheyuan, xem Hongkong Economic Journal (dưới đây gọi là HKEJ) (Hongkong) 25 tháng 11 2000, trang 18.

[14] Harry Ying Cheng Kiang, China’s Boundaries (Lincolnwood, III.: The Institute of China Studies, 1984), trang bìa và trang 10.

[15] Zou (chú thích 6) trang 16.

[16] Mark J. Valencia, Malaysia and the Law of the Sea (Kuala Lumpur: Institute of Stategic and International Studies, 1991), trang 62. Một ranh giới là một đường và một biên giới là một khái niệm mang tính lãnh thổ. Xem Johnston (chú thích 12), trang 226. Vào tháng 5 1994 Việt Nam tuyên bố rằng nước này đã tìm thấy những di vật cổ như là đồng tiền năm 1830 ở Sơn Tử Tây. Nước này cũng xác nhận rằng người Việt đã từng sống ở Trường Sa Lớn, Nam Yết và Sơn Tử Tây kể từ thế kỉ 15. Xem CT, ngày 26 tháng 5 1994, trang 9.

[17] Quan điểm này là của William F.S Miles trong bài “Absorbing International Boundaries Within a National Framework: Pondicherry and the French Indian Experience”, Territory Briefing 5 (Durham, U.K), 1993.

[18] Van Wie Davis (chú thích 4), trang 91 và 93. Hamzah Bin Ahmad viết “Sự tăng cường khả năng chiến đấu của Hạm đội Xoviet Thái Bình Dương đã làm cho các nhà hoạch định chiến lược quốc phòng của Malaysia đau đầu”. Xem sách Malaysia’s Exclusive Economic Zone (Kuala Lumpur: Pelanduk Publications, 1988) trang 6.

[19] Oran R. Young, International Cooperation: Building Regimes for Natural Resources and the Environment (Ithaca: Cornel University Press, 1989) trang 39.

[20] Zou (chú thích 6), trang 14. Vào tháng 12 năm 1997, The International Tribunal for the Law of the Sea (ITLS), một trong những cơ chế chính để hòa giải tranh chấp được thiết lập bởi Luật Biển tháng 4 năm 1982, đã đưa ra phán quyết đầu tiên.

[21] Park mô tả sự chiếm đóng một phần của Malaysia đối với quần đảo Nansha là “sự xâm chiếm vào vùng bờ phía Nam” của SCS. Xem Choon-ho Pak “Central Pacific và East Asian Maritime Boundaries” trong Charney và Alexander (chú thích 2) trang 299.

[22] Xem Iain Scobbie “The Spratly Islands Dispute: An Alternative View”, Oil and Gas Law and Taxation Review 14 (1996), trang 173-83. Scobbie cho rằng sự xác nhận của Trung Quốc trên quần đảo Nansha “is to be preferred to that of Vietnam (and that of any other state)” . Nếu đây đúng là vấn đề, thì có khả năng là cả hai bên Trung Quốc đại lục và Đài Loan có thể hình thành, chẳng hạn, vùng đặc quyền kinh tế xung quanh các đảo của quần đảo này. Các vùng đặc quyền kinh tế đó sẽ chồng lên các vùng nước lịch sử của Trung Quốc trong đường chữ U. Xem Greg Austin, China’s Ocean Frontier (St. Leonards, N.S.W: Allen $ Unwin, 1998), mặc dù ông có vẻ như có một quan điểm khác khi nêu ra trong hội nghị “Human and Regional Security Around the South China Sea” ở Oslo, Nauy từ mùng 2 đến mùng 4 tháng 6 năm 2000. Ở điểm này ông cho rằng đường chữ U là “một ví dụ điển hình về đặc điểm của chép sử Trung Quốc”. Qua việc chép sử, ông ngụ ý răng “đó là cách mô tả sự kiện” hoặc “…các phong cách, giả định và mục đích của người viết nhằm biến các thông tin có thể kiểm chứng được thành một câu chuyện” trong đó lòng ái quốc được dùng như một thứ nguyên liệu mạnh.

[23] Xem Mark J. Valencia, “Spratly Solution Still at Sea”, Pacific Review (sau đây gọi là PR) 6 số 2 (1993). Xem bản đầu tiên (chú thích 16) của ông, Annex 1. Xem Mark J. Valencia, J.M van Dyke và N.A Ludwig, Sharing the Resources of the South China Sea (Dordrecht: Martinus Nijhoff, 1997) trang 27.

[24] “Bức tường châu Âu” được đề cập đến bởi một học giả trong một bối cảnh khác, xem Ola Tunander “Post-Cold War Europe: Synthesis of a Biploar Friend-Foe Structure and a Hierarchic Cosmos-Chaos Structure?” In Ola Tunander, Pavel Baev, and Victoria L Einagel, Geopolitics in Post-Wall Europe: Security, Territory and Identity (London: Sage Publication, 1997), chương 2.

[25] Anthony Kemp, The Maginot Line: Myth and Reality (London: Frederick Warne, 1981), trang 9, trang 41-2 và trang 55-6.

[26] Xem J.E. Kaufmann và H.W Kaufmann, The Maginot Line: None Shall Pass (Westpoint, CONN: Praeger, 1997). Nước Pháp sụp đổ vào năm 1940. Đường này đã tham gia vào cuộc chiến vào tháng 8 năm 1939. Pháp tuyên bố chiến tranh với Đức quốc xã vào tháng 9, 1939.

[27] Cụm từ này là của Steven W. Mosher. Xem Hegemon: China’s Plan to Dominate Asia and the World (San Francisco, CA: Encounter Books, 2000), trang 160.

[28] ST, tháng 5 1999, trang 11. Đông Đức bắt đầu xây dựng bức tường vào tháng 8 năm 1961 xung quanh vùng phía Tây của Berlin với chiều dài 155 kilomet. Bức tường này bị phá bỏ vào tháng 11 năm 1989.

[29] Quan điểm này là từ Cossa (chú thích 2) trang vii.

[30] Lbid, trang 7. trong một bài báo khác, Cossa đề cập vào cuối những năm 1950, xem ST, ngày 30 tháng 11 1998, trang 28. Xem The South China Sea Disputes: Phillipine Perspectives, do Aileen San Pablo-Baviera biên tập (New Manila, Quezon City, Phillippine: The Phillippine-China Development Resource Center and the Phillippine Association for Chinese Studies, 1992) trang 20. Ji Guoxing cũng đề cập một sự cáo buộc khác. Xem trong chuyên khảo của ông, The Spratlys Disputes and Prospects for Settlement (Kuala Lumpur: 1992), trang 11-12.

[31] Robin Churchill và Geir Ulfstein, Marine Management in Disputed Areas (London: Routledge, 1992) trang 4.

[32] Sang-Myon Rhee và James Mac Aulay, “Ocean Boundary Issues in East Asia” trong Ocean Boundary Making, do Douglas M. Johnston và Phillip M. Saunders (London: Croom Helm, 1988) trang 74. Đảng cầm quyền của Cộng hòa Trung Hòa (Đài Loan), cách đây vài năm, đã cho rằng vùng thấp hơn của Đài Loan là thuộc về Đông Nam Á.

[33] Xem báo cáo của Cossa về việc đường này đã xuất hiện như thế nào (chú thích 2) trên trang 3. Một bản vẽ khác có thể tìm thấy trong báo cáo của Andrew J. Nathan và Robert S. Ross, The Great Wall and the Empty Fortress: China’s Search for Security (New York: W.W. Norton & Company, 1997) trang 114.

[34] Oxman (chú thích 2), trang 35. Manila cũng vẽ lại đường biên giới bản đồ của mình, xem ST, mùng 3 tháng 3 năm 1999, trang 24.

[35] Churchill và Ulfstein (chú thích 31) trang 63.

[36] Xem Peter Polomka, Ocean Politics in Southeast Asia (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 1978) trang 223-8.

[37] Singapore, Indonesia và Malaysia đang nhắm vào việc xây dựng một sân chơi cho tới năm 2004, gọi là “Aseananrean” cung cấp những hoạt động như tuần tra, đánh bắt, và lặn. Xem ST, 20 tháng  1999, trang 39.

[38] Nhiều tàu buôn đã gặp khó khăn tại đảo Langhua Jiao thuộc quần đảo Xisha và Bei Jiao (bãi đá ngầm phía Bắc) Xem China Ocean News (sau đây gọi là CON) (Beijing) ngày 20 tháng 4 1999, trang 3.

[39] MURAI Tomohide giảng dạy tại Học viện Quân sự quốc gia tại Yokosuka, Nhật, vào tháng 5 1990, trong một bài báo tiếng Nhật, đã đóng góp một bài bàn về mối đe dọa Trung quốc. Ông cũng là người đầu tiên công khai nêu ra vấn đề. Xem Yazhouzoukan (sau đây gọi là YZZK) 17, số 39 (tháng 9 2003) 31. Theo Executive Intelligence Review (sau đây gọi là EIR), các nhà chiến lược ở London đã bắt đầu cuộc chơi này. Xem Vol. 6, số 9 (30 tháng 9 năm 1995) xuất bản bằng tiếng Trung, trang 17. Mặt khác, Reniminribao (People’s Daily) đề cập trong một bài báo rằng “mối đe dọa Trung Quốc” bắt đầu vào cuối năm 1992. Ban đầu, các nhà quan sát nước ngoài dự đoán là vào cuối những năm 1980. rằng Trung Quốc đại lục sẽ sụp đổ. Xem United Daily News (sau đây gọi là UDN) (Đài Bắc) 23 tháng 12 1995, trang 10.

[40] Victor Prescott, The South China Sea: Limits of National Claims (Kuala Lumpur: Maritime Institute of Malaysia, 1996) trang 40.

[41] Cossa (chú thích 2) pp v. 6 và 10. Cossa trích lời một học giả Trung Quốc đã mô tả SRV “as the most likely protagonist”. Xem trang C-4. Theo Robert Karniol (sống ở Thái Lan) của tờ Jane’s Defense Weekly, Trung Quốc là bên nổ phát súng đầu tiên trên quần đảo Xisha vào tháng 1 năm 1974 (Karniol đã email cho tác giả, tháng 10 1999). Về việc bên nào nổ súng đầu tiên, điều thú vị đó là vào tháng 8 2002, có một số báo cáo cho rằng hải quân Mỹ đã bắn phát súng đầu tiên vào tàu ngầm mini của Nhật một giờ trước cuộc tấn công của Hoàng gia Nhật vào ngày 7 tháng 12 1941. Xem www.straitstimes.com.sg/asia/story/0,1870,140802.00.html ngày 14 tháng 8 năm 2002. Vào tháng 7 2003, Bắc và Nam Triều Tiên đã nổ súng trở lại.

[42] Cossa (chú thích 2) trang vi, Lianhezaobao (sau đây gọi là LHZB) (Singapore), 20 tháng 1 1999, trang 20. United Daily News (sau đây gọi là UDN) (Đài Bắc) 10 tháng 11 1998, trang 13 và Far Eastern Economic Review (sau đây gọi là FEER) (Hongkong) , 24 tháng 12 1998, trang 18. Kuala Lumpur cũng xây những trạm trú cho dân đánh cá trên một đảo trong quần đảo, Yuyeansha (Investigator Shoal) đã được Manila xác nhận. Xem Straits Times 17 tháng 4 1998 trang 28 và ngày 6 tháng 7 1998 trang 9. Xem CT 17 tháng 2 1999 trang 5.

[43] Trích bởi Michael Nacht “Multinational Naval Cooperation in Northeast Asia”, Korean Journal of Defense Analysis (sau đây gọi là KJDA) VII số 1 (Summer 1995) 43.

[44] Xem bài báo của tôi nhận xét về sự ủng hộ của Chiu Hungdah trên CT, 26 tháng 2 1999, trang 15.

[45] Nathan và Ross (chú thích 33) trang 24.

[46] Cossa (chú thích 2) trang viii-ixvà trang C-6.  Tôi muốn cảm ơn Andrew M. Marton vì sự làm sáng tỏ khái niệm “đường trên cát”, ngày 5 tháng 4 1999. Cùng với đó, tôi trích tài liệu dưới đây từ Ellen C. Collier, Instances of Use of United States Forces Abroad, 1798-1993 (Washington DC: Congressional Research Service, Library of Congress, 7 tháng 10 1993): “1836- Mehico, tổng tư lệnh Gaines đã chiếm đóng Nacogdoches (Tex.), tranh chấp lãnh thổ từ tháng 7 đến tháng 12 trong suốt chiến tranh giành độc lập của Texas, theo chỉ thị nhằm vượt qua “đường biên giới tưởng tượng” nếu như xuất hiện nguy cơ chiến tranh của người Ấn.

[47] Cossa (chú thích 2) trang 6.

[48] Xem Kemp (chú thích 25) trang 9.

[49] Churchill và Ulfstein (chú thích 31) trang 89.

[50] Tuy nhiên, nếu như Việt Nam và Trung Quốc có thể đạt tới thỏa thuận về việc loại bỏ đường biên giới biển trên vịnh Beibu như họ đã làm vào mấy năm vừa qua, Trung Quốc có thể lấy lại hai phân khu đã mất.

[51] Li Geping “The Latest Development in the Nansha Island Group Dispute”, Inside Information on Economic Reform (sau đây gọi là IIER) (Bắc Kinh) số 4 20 tháng 2 1998, trang 28.

[52] Valencia (chú thích 16) trang 128-9.

[53] Quan điểm này lấy từ tiêu đề sách của Nathan và Ross (chú thích 33).

[54] Far Eastern Economic Review, 24 tháng 12 1998, trang 18

[55] United Daily News (sau đây gọi là UDN) (Đài Bắc) ngày 8 tháng 1 1999, trang 13.

[56] Pablo-Baviera (chú thích 30) trang 14.

[57] Các vùng này được người Nhật xây dựng lần đầu tiên trong chiến tranh Nga-Nhật và họ yêu cầu tàu thuyền nước ngoài phải tuân theo những tuyến đường biển nhằm tránh các vùng hoạt động chính của Nhật, trong vòng khoảng cách 10 hải lý tính từ bờ biển. Vấn đề này sau này được trường Chiến tranh Hải quân Mỹ coi là một tiền lệ hợp lý. Xem D.P O’s Connell, The International Law of the Sea. Vol 2 (Oxford Claredon Press, 1984) trang 1109.

[58] Vùng bảo vệ tồn tại giữa Úc và Papua New Guinea trong vùng Torres Strait. Vùng này cho phép các hoạt động đánh bắt cá truyền thống và các hoạt động truyền thống khác như là tự do đi lại giữa cư dân. Xem Oxman (chú thích 2) trang 38-9.

[59] Vùng này ám chỉ vùng được bao bởi đường trung tuyến Nhật-Hàn, đường trung tuyến Trung-Nhật, và “đường đồi” chạy dọc đầu phía bắc của vùng lõm Okinawa. Xem Rhee và MacAulay (chú thích 32) trang 97.

[60] Ví dụ điển hình nhất là vùng xám hay khu xám biển Barent. Xem David Colson “The Legal Regime of Maritime Boundary Agreements” trong Charney và Alexander (chú thích 2) trang 67-8. Cũng xem Churchill và Ulfstein (chú thích 31) trang 64 và 66.

[61] Ví dụ rõ nhất là các đường biên giới của Chile, Ecuador, và Peru bao gồm một vùng đệm 10 hải lý cho phép các ngư dân có thể vô tình đi qua.

[62] Khái niệm này được đề cập trong Công ước Geneva về Thềm Lục Địa. Tuy  vậy, một công ước tương tự cũng tuyên bố rằng “kể cả việc xây dựng hay đặt các thiết bị (ngầm) cũng như các vùng an toàn xung quanh nó đều không được phép thiết lập ở nơi mà sự can thiệp có thể dẫn đến việc sử dụng các đường quy định (sea lanes) cho việc tuần tra quốc tế”.Ross D. Eckert The Enclosure of Ocean Resources (Standford, CA: Hoover Institution Press, 1979) trang 80.

[63] Ibid. trang 81-2. Lối đi an toàn tỏ ra hiệu quả trong việc di chuyển các “lối đi” trong đó không cho phép các hoạt động khoan dầu gây ra nguy hiểm cho tàu thuyền.

[64] Vùng này được Anh sử dụng cho vùng giữa Fort San Felipe và Gibraltar’s Old Mole và mở rộng tới điểm phía Đông Bắc của San Felipe. Đường này đã bị xóa bỏ do sự chống đối của Tây Ban Nha. Xem J.G O’Reilly “Gibralta: Spanish and United Kingdom Claims”, Territory Briefing 4 (Durham, U.K:1992) trang 8.

[65] Vào tháng 4 năm 1982, Anh đã tuyên bố một đường như vậy xung quanh quần đảo Falkland/Malvinas và tuyên bố “bất cứ tàu chiến và lực lượng hỗ trợ hải quân nào của Argentina xuất hiện trong vùng này sẽ bị đối xử thô bạo và có thể bị tấn công” – trích O’Connell (chú thích 57) trang 180.

[66] Vào tháng 11 năm 1976, Mỹ, khi đang trong quá trình tranh chấp với Canada, đã công khai các tọa độ của đường chia cắt cả vùng thềm lục địa và vùng đánh bắt trên vịnh Maine. Xem Johnston (chú thích 12) tramg 180.

[67] Khái niệm “các bức tường khác” lấy từ sách của Harold H. Saunders, The Other Walls: The Arab-Israeli Peace in a Global Perspective, rev. ed.. (Princeton, N.J: Princeton University Press, 1991)

[68] Phương pháp đường cơ sở thẳng cũng được áp dụng cho việc hình thành địa lý ngầm trên quần đảo Zhongha, trừ đảo Huangyan Dao.

[69] Johnston và Saunders, mục “Introduction” trong Ocean Boundary Making (chú thích 32) trang 4.

[70] Quả thực, như một học giả Trung Quốc (một người không hề biết đến khái niệm bảo hiểm kép) đã nhận định, việc công bố các đường cơ sở trên quần đảo Xisha “cho thấy Trung Quốc không xem xét các đường truyền thống là đường biên giới biển trên biển NTH”. Ông tiếp tục “nói cách khác các đường cơ sở trên quần đảo Xisha là thừa và không cần thiết”. Xem Zou (chú thích 6) trang 2.

[71] Xem Peter Koh Soon Kwang, Marine Insurance and the New Institute Cargo Clauses (Singapore: Longman, 1989) trang 94.

[72] Valencia (chú thích 5) trang 14.

[73] Wagner (chú thích 5) trang 14.

[74] Xem Friedrich von Wilpert, The Older Neisse Problem: Towards Fair Play in Central Europe (Bonn: Edition Atlantic-Forum, 1964) chương 5.

[75] John Anstey, Boundary Disputes (London: The Royal Institute of Chartered Surveyors, 1990) trang 84.

[76] Prescott (chú thích 40) trang 22-3.

[77] Ji (chú thích 30) trang 9

[78] Ví dụ, Liên Xô cũ đã thay đổi vị trí  các hạm đội tàu chiến qua các eo biển cứ khoảng 10 năm. Đầu tiên, Matxcova sẽ thông báo trước với nước đó và được phép bởi nước vùng ven biển. Sau đó, họ thay đổi vị trí ngược lại hoàn toàn. Xem Van Wie Davis (chú thích 4) trang 86.

[79] Johnston (chú thích 12) trang 78.

[80] Rhee và MacAulay (chú thích 32) trang 88. Prescott cũng đặt câu hỏi về các đường cơ sở của Trung Quốc trên biển NTH. Xem chuyên khảo của ông (chú thích 40) trang 14-20.

[81] Xem Cossa (chú thích 2) Appendix G.

[82] ST, ngày 24 tháng 11 1998, trang 17.

[83] CT, mùng 5 tháng 4 năm 1999. trang 1. Nhiều học giả và chuyên gia đã nhăc đến biển Ấn nư là một cái hồ Ấn. Ví dụ, xem UDN ngày 13 tháng 5 1998, trang 15. Xem Zhong Guo Guo Fang Bao (Bắc Kinh) ngày 10 tháng 11 năm 1998, trang 3. Một nhà sử học Trung Quốc sống ở Mỹ đã bình luận rằng Hoàng gia Nhật đã từng muốn biến biển NTH thành cái hồ nhà. Xem Straits Review (sau đây gọi là SR) (Đài Bắc) số 111 (ngày 1 tháng 3 2000) trang 16.

[84] Valencia (chú thích 16) trang 129. B.A Hamzah cũng đặt câu hỏi về cách mà đường cơ sở của Indonesia được áp dụng cho từng cơ chế biển khác nhau. Xem sách của ông,  The Spratlies: What can be done to enhance confidence (Kuala Lumpur: Institute of Strategic and International Studies, 1990) trang 8. Điều thú vị là trong trang 14 ông viết “Hiệp ước cho phép hình thành các đường đa biên giới trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế, mặc dù một đường đơn chính giữa vẫn được khuyến nghị hơn”. Xem ibid. trang 14.

[85] R. Haller Trost, “The Spratly Inslands: A Study on the Limitations of International Law”, Centre of South-East Asian Studties Occasional Paper số 14 (University of Kent at Canterbury, tháng 10 1990) trang 1.

[86] Xem bài của tôi “Issue on the South China Sea: A Case Study”, Chinese Yearbook on the International Law and Affair, số 11 (1991-1992) trang 138-200.

[87] Oxman (chú thích 2) trang 36-7

[88] Lianhezaobao (sau đây gọi là LHZB) (Singapore) ngày 25 tháng 3 1999, trang 31.

[89] Ibid 24 tháng 3 1999, trang 29.

[90] Giới hạn thông thường là đường von Karman, độ cao khoảng 80 km nhưng thay đổi tùy theo điều kiện khi mà các máy bay khí động lực không thể bay được nữa. Xem Malcolm Anderson, Frontiers (Cambridge, U.K: Policy Press, 1996) trang 163.

[91] Chen (chú thích 3) trang 381.

[92] Ví dụ, xem Tài liệu của Liên Hợp Quốc A/CN 4./143, mùng 9 tháng 3 1962 có tên là “Juridical Regime of Historic Waters, Including Historic Bays”, Yearbook of the International Law Commission, Vol II, 1962, trang 1-26, đặc biệt là trang 6. Các học giả như Daniel P. O’Connel ủng hộ xác nhận của Tonga đối với vùng chữ nhật các đường nước ở vùng biển cao, bao gồm một số nhóm đảo thuộc quần đảo Tonga và các đường nước lịch sử kể từ cuối những năm 1880. Xem sách của ông, The International Law of the Sea, vol. 1 (Oxford: Claredon Press, 1982-1984) trang 417-18 như đã trích trong báo cáo của Huang và Wei (chú thích 6) trang 214 và Zou (chú thích 6) trang 15. Leo J Bouchez cũng đưa ra định nghĩa của ông về các đường nước lịch sử. Xem sách The Regime of Bays in International Law (Leyden; A.W Sythoff. 1964) trang 281.

[93] Zou (chú thích 6) trang 8.

[94] Huang và Wei (chú thích 7) trang 217 và Cossa (chú thích 2) trang 15-16. Huang và Wei cũng đặt câu hỏi về các đường nước lịch sử của Trung Quốc. B.A Hamzah cho rằng đường chữ U “là phù phiếm, không hợp lý và thiếu logic” và Việt Nam cũng chính thức mô tả đường chữ U là bị thổi phồng và không có căn cứ luật pháp. Xem Huynh Minh “Sovereignty of Vietnam over Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) and Peaceful Settlement of Disputes in the Bien Dong Sea (South China Sea)” trong hội thảo về “Asean in the 21th Century: Opportunities and Challenges” (Hanoi: Institute of International Relations, tháng 3 1996) trang 98-9, Zou trích dẫn (chú thích 6) trang 11, Hamzah cũng viết rằng “…thế kỉ này chứng kiến sự căng thẳng ngày càng lên cao giữa các nước nhằm mở rộng vành đai biển, nhằm biến đại dương thành các vùng đặc quyền của mình”. Xem sách của ông (chú thích 18) trang 8. Hamzah cũng tự cho rằng nghiên cứu năm 1990 của ông về quần đảo Nansha là “mới là sự lướt qua những xác nhận chủ quyền đang trang chấp”. Xem sách của ông (chú thích 84) trang 1.

[95] Pablo-Baviera (chú thích 28) trang 16-17.

[96] Cossa (chú thích 2). Appendix G. Điều này có phần nào trái ngược với tuyên bố của một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ trước các đại biểu quốc hội Mỹ về việc hình thành các lực lượng Trung Quốc trên quần đảo Nansha: “ đó không phải là một mối đe dọa an ninh lớn. đó là xu hướng và thực tế là Trung Quốc xác nhận tất cả các vùng lãnh thổ này là có vấn đề, không phải là tình hình tại chỗ. Trích Straits Times, 15 tháng 3 1999, trang 11.

[97] Cossa (chú thích 2) p C-8 và Straits Times 15 tháng 3 1999, trang 11.

[98] Khái niệm về việc xác nhận chủ quyền biển quá đáng (excessive) lấy từ sách của J Ashley Roach và Robert W Smith, United States Responses to Excessive Maritime Claims, 2nd ed. (The Hauge: Martinus Nijhoff Publisher, 1996)

[99] Xem Stephen R Langford, “Libya: The Gulf of Sirte Closing Line”, International Boundaries Research Unite Briefing, 1990, trang 4 và 8.

[100] www.chinatimes.com.tw/news/papers/online/china/m8922804.htm

[101] ST 30 tháng 3 1999, trang 48. Trung Quốc nói rằng nước này sẽ có khoảng 10 triệu tấn dầu thô từ sản xuất ở nước ngoài vào đầu thế kỉ 20. Đến năm 2010, Trung Quốc đặt mục tiêu phát triển sản xuất dầu hàng năm ở nước ngoài lên tới 50 triệu tấn, song song với mức cung cấp gas từ nước ngoài 50 tỉ mét khối. Xem online <.hkstandard.com/today/default.asp> 1 tháng 6 1999. Vào tháng 10 năm 1998, Trung Quốc thông báo với Nhật rằng có khả năng họ sẽ giảm lượng cung cấp dầu từ mỏ Daquing cho Nhật. Vào tháng 1 năm 1999, Trung Quốc tuyên bố không xuất dầu sang Nhật từ tháng 2 1999. Theo hợp đồng, Trung Quốc đảm bảo cung cấp cho Nhật hơn 6 triệu tấn dầu. Điều dễ hiểu là Nhật không vui gì. Xem CT 7 tháng 2 1999, trang 14.

[102] ST, 1 tháng 4 1999, trang 50. ROC Đài Loan đã mất khá nhiều tiền trong các cuộc thăm dò dầu khí suốt 30 năm qua. Xem UDN, 26 tháng 3 1999, trang 15. Vào năm 2022, tiêu thụ dầu của Trung Quốc đại lục sẽ gấp 3 lần www.news.chinatimes.com/chinatimes/news/newslist-content/0,3546,110505+112003072700057 27 tháng 7 2003.

[103] ST 19 tháng 3 1999, trang 64 và 13 tháng 4 1999 trang 46. Xem http://lw9fd.law9.hotmail.msn.com/cgi_bin/getmsg?curbbox=F00000001&a=1f033115d5 2 tháng 11 2001 và Economist, 15 tháng 12 2001, trang 15-16.

[104] Do hiệu ứng nhà kính, có khả năng là tất cả các đảo trên biển NTH sẽ nằm dưới mực nước biển. Thậm chí khi điều này xảy ra, các vấn đề như vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa sẽ vẫn tồn tại.

[105] Fu Kuen-chen, “Maritime Rights of the Chinese People”, Straits Review, no. 99 (tháng 3 1999) trang 7.

[106] Trích từ Ji (chú thích 30) trang 26. Tuy vậy Trung Quốc đồng ý đồng sở hữu các đảo cùng với các nước phản đối Xem ibid. trang 28.

[107] Smith và Thomas (chú thích 31) trang 20

[108] Email từ Juan Antonio Escudero, United Nations Division for Ocean Affairs and the Law of the Sea, 23 January 1999.

[109] Barry Wain, “The “Tibetization” of the South China Sea”, Asian Wall Street Journal (sau đây gọi là AWS) (Hongkong) 12-13 tháng 2 1999, trang 10. Wain lại thúc giục Trung Quốc từ bỏ đường chữ U. Xem bài báo của ông “Beijing should Erase the U-shaped line” AWSJ 26-28 tháng 5 2000, trang 10.

[110] Johnston (chú thích 12) trang 288.

[111] Valencia (chú thích 16).

[112] Xem Eckert (chú thích 62) trang 272-89. Về một số thất bại khác của luật Biển 1982, xem Johnston và Saunders “Introduction” trong id.(chú thích 32) trang 4-8.

[113] Argentina vẫn muốn lấy lại quần đảo Malvinas/Falkland từ Anh. Xem LHZB ngày 7 tháng 4 1999, trang 2. Xem Straits Times 10 tháng 8 1999 trang 11.

[114] Tác giả rất cảm ơn Stein Tonnesson và các nhà bình luận về những đóng góp ý kiến cho bài báo này.

Người dịch: Hoàng Khánh Hòa và tòa soạn Thời Đại Mới(17/5/2009)

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai15/200915_PeterYu.htm

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 36. Nhật Bản bại trận và Hòa ước San Fransisco

Posted by anhbahoa on November 28, 2009

Bài 36

Nhật Bản bại trận và Hòa ước San Fransisco

日本の敗戦とサンフランシスコ平和条約

浦野起央著—Urano Tatsuo

Lê Hoàng-Bauvinal chuyển ngữ

1.Phản ứng của các nước về vấn đề chủ quyền ở các quần đảo trên biển Đông sau khi NB bại trận

Nhật bản bại trận và việc trả lại các quần đảo ở biển Đông

Khi dự đoán trước được sự thất bại của Phát xít Đức, tháng 11/1943, TT Mỹ Roosevelt đã hội đàm với Thủ tướng Anh Churchill và tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch tại Cairo(Ai cập). Tuyên ngôn Cairo được công bố sau đó xác nhận “Mục đích của các nước đồng minh trong hội nghị nầy là thu hồi tất cả các quần đảo ở Thái Bình Dương mà quân đội NB đã chiếm đóng hay cưỡng đoạt kể từ khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ vào năm 1914 ,đồng thời trả lại cho Trung Hoa Dân quốc tất cả  khu vực của Nhà Thanh mà NB đã cướp đoạt  như đảo Bành Hồ, Đảo Đài Loan, Mãn Châu;  rút sạch bóng dáng của NB  ra khỏi tất cả các khu vực mà nước nầy đã cưỡng đoạt bằng võ lưc và lòng tham trước đây”(1). Tuy nhiên đối với việc trao trả các quần đảo trên biển Đông (Nam Trung Hoa—South China Sea) thì Tuyên bố Cairo chỉ đề cập đến việc trao trả “khu vực mà NB đã cướp đoạt của Nhà Thanh”, không  trao đổi cụ thể  là có bao gồm cả những quần đảo trên biển Đông hay không, mặt khác, các bên liên quan cũng chẳng xác nhận rõ rệt việc NB sáp nhập“Tân Nam Quần Đảo” (xem giải thich ở cuối bài)  vào địa lý hành chính thuộc thành phố Cao Hùng Đài Loan trước đây vào ngày 30/3/1939 nay có thuộc về đảo “Đài Loan” hay không. Sau đó, vào ngày 17/7/1945 cuộc Hội đàm ở Postdam 3 nước gồm Tổng thống Mỹ Truman, thủ tướng Anh Clement Attlee và TBT đảng CS Liên Xô Stalin , đưa ra Tuyên ngôn Postdam yêu cầu NB phải đầu hàng vô điều kiện vào ngày 26/7. Điều 8 của tuyên ngôn nầy qui định “Những điều khoản của Tuyên bố Cairo phải được thực thi đầy đủ, chủ quyền của NB giới hạn  ở Honshu, Hokkaido, Kyushu và các đảo nhỏ thuộc vùng Shikoku”(2) mà không đề cập gì đến việc trao trả các quần đảo trên biển Đông. Ngày 14/8/1945 NB tuyên bố chấp nhận Tuyên ngôn Postdam nhưng việc trao trả các quần đảo gọi là “Tân nam quần đảo”(Shinnan Guntoo) vẫn không được xác định.(3) Theo hàng chữ ghi trên tường cơ sở hành chính đảo vào lúc bấy giờ, lực lượng quân đội NB trú đóng ở những hòn đảo trên Thái Bình Dương cho thấy họ biết biết được tin vào ngày 27/8, một ngày sau khi NB ra lệnh đầu hàng, qua những dòng chữ bi ai ghi lại trên tường hay bức thư để lại sau khi tự sát.(4)

Bản đồ nước Nhật

Kể từ khi NB lui quân ra khỏi các quần đảo trên biển Đông, các nước chung quanh bờ biển Nam Trung hoa cũng lần lượt tuyên bố chủ quyền của mình, bắt đầu tiến hành việc tiếp quản. Trước tiên, Cục khí tượng tỉnh Đài Loan đã đưa tàu “Narita” ra quần đảo Tây sa (Hoàng Sa) vào ngày 8/12/1945. Tàu Narita ghé đậu ở đảo Lâm Khang ( đảo Đông) để sữa chữa, ngày 11/8 và hôm sau đến đảo Vĩnh Hưng( Phú Lâm) treo cờ xem như tiếp quản đảo nầy. Họ đã cắm cọc gỗ, mặt trước ghi “Cục khí tượng thuộc hành chính Đài Loan hoàn thành việc tiếp thu” phía sau ghi “ngày 12 tháng 12 năm Dân Quốc thứ 34” sau khi điều tra thực trạng và chụp ảnh trên đảo Phú Lâm. Chiếc tàu nầy tiếp tục đi thăm các đảo nhỏ chung quanh đến ngày 3/1/1946 quay lại đảo Phú Lâm và trở về Đài Loan. Đảo Tây sa trở thành đảo thuộc quản lý hành chính của tỉnh Quảng Đông theo điện lệnh của Chính phủ THDQ vào tháng 7/1946.

Chiến hạm Savorgnan de Brazza(2000 tấn)

Mặt khác, chính phủ Pháp đã cử tàu chiến mang tên “Savorgnan de Brazza ”chiếm lại quần đảo Tây Sa(HS) vào tháng 5/1946. Sau khi giành được độc lập vào ngày 4/7/1946. Philippines cũng ra tuyên bố của Bộ Ngoại giao vào ngày 23/7 xác định chủ quyền của mình trên quần đảo Trường Sa và phạm vi phòng thủ chung quanh sau ngày giành được độc lập vào ngày 4/7/1946.(7)

Tình hình nầy đã làm thay đổi những hoạt động “tiếp quản” của Bộ tư lệnh hải quân và Bộ quốc phòng của Trung Hoa Dân Quốc.

Thu hồi của Trung quốc và sự can dự của Pháp

Ngày 2/8/1946, theo  yêu cầu của chính phủ thành phố Cao Hùng và Bộ Nội Vụ, chính phủ tỉnh Quảng Đông đã quyết định điều tra tình hình thực tế và những rà soát những biên bản trước chiến tranh của hai quần đảo Đông Sa và Tây Sa, các bộ thuộc  chính phủ trung ương thảo luận vè thời điểm cụ thể tái chiếm hai quần đảo Tây sa (HS) và Nam Sa(TS).(8) Hội nghị bàn về việc tiếp quản quần đảo Nam sa do Bộ Quốc Phòng, Bộ Ngoại Giao vào Nội Vụ được tổ chức vào ngày 13/9/1946, kết quả là Bộ quốc phòng hợp tác với chính phủ Quảng Đông ra quyết định tiếp  thu nhanh chóng  “Đoàn Sa quần đảo”( Tân Nam quần đảo và Nam Sa quần đảo) theo phương án của Bộ Nội vụ đề xuất. Bộ nầy đã xác định  tọa độ, đặt ra danh xưng hành chính trực thuộc cho những đảo  nói trên kèm yêu cầu Bộ Nội vụ, Bộ quốc phòng, Tư lệnh hải quân  thu gom tư liệu cần thiét  gửi cho Bộ Ngoại  giao, chuẩn bị cho những cuộc đàm phán với nước ngoài(9) Cuối cùng, Chính phủ Trung ương đã quyết định cho Tư lệnh Hải quân cử tàu chiến, các bộ Quốc phòng, Nội Vụ, Tư lệnh Không quân, Hậu Cần cử đại diện tham gia đoàn tiếp quản đồng thời chính phủ Quảng Đông cử thêm cán bộ quản lý hành chính đi theo. Lâm Tôn được đề cử làm Tư lệnh hạm đội chiếm đóng hai quần đảo Tây Sa (HS) và Nam Sa (TS), thực hiện chiến dịch tái chiếm quần đảo Tây Sa (HS), đồng thời giao cho  chỉ huy phó Đào Nhữ Ngọc triển khai đoạt lại Nam Sa (TS) .Các chỉ huy quân đoàn liên quan đã lần lượt đến các vị trí chiếm đóng bằng 4 chiến hạm, trong đó “Thái Bình” và “Trung Nghiệp” tiến vào Nam Sa (TS) và “Vĩnh Hưng”, “Trung Kiến” vào chiếm Tây Sa (HS)(10). Sau khi Pháp chiếm lại quần đảo Tây sa (HS) vào tháng 9/1946 , 4 chiến hạm bầy lần lượt rời cảng Nam Kinh vào ngày 2/10 (11) nhưng kết cuộc “Vĩnh Hưng” và “Trung Kiến” mãi đến 29/11 (có báo đưa ngày 24/11/) mới tiến hành đổ bộ lên đảo Vĩnh hưng thuộc Tây Sa (HS). Ngày 4/12 chiến hạm Vĩnh Hưng đi lòng vòng thị sát ở các đảo trong quần dảo nầy như Đảo San Hô, Cam Tuyền v.v… (12).Trong thời gian nầy, Pháp đã cử chiến hạm Sivolet đến các đảo Nam Uy, Thái bình thuộc quần đảo Nam Sa (TS) và đựng bia đá trên đảo Thái Bình vào ngày 5/10 (13).thì ngày 9/12 tàu “Thái Bình” và “Trung Nghiệp” mới đên Nam Sa(TS) và ngày 12 thì đổ bộ lên đảo nầy. Ngày 15 chiến hạm Thái Bình đi khảo sát quanh các đảo Nam Hồ( đảo Lôi Ý Thái, đảo Đế Đô( Đảo Trung Nghiệp), Đảo Song Tử, Đảo Nam Cực và nhiều đảo khác thuộc vùng biển Trường Sa. Tàu chiên bỏ neo cách các đảo 1 hải lí, cho lực lượng thám thính tiền tiêu chia nhau đột nhập bằng thuyền nhỏ,  lên đảo sau khi xác nhận không có kẻ địch mới bắt đẩu đưa người, vật tư, cột cờ và pháo nổ chúc mừng lên đảo tiếp thu, đặt tên gọi mới và dựng bia để đánh dấu trên một số đảo (15) , việc nầy hoàn tất vào ngày 4/21947.(16)

Trước động thái tiếp quản liên tục của TQ, ngày 9/1/1947 Bộ Ngoại giao Pháp ra tuyên bố Tây sa (HS) là lãnh thổ của VN (17), sau đó, ngày 13/1 chính phủ Pháp chính thức phản đối việc quân đội TQ tiếp tục chiếm đóng Tây Sa (HS) với cớ là để giải giới quân đội NB (18). Mặt khác, ngày 16/1/47 dưới sự chủ trì của Bộ Quốc Phòng, TQ đã mở hội nghị xây dựng hai quần đảo Tây-Nam sa (HS-TS), lập ra đơn vị hành chính đặc biệt, quyết định gộp hai quần đảo nầy lại thành một, dựa theo đó Viện hành Chính đã ra thông cáo số 1117 ngày 27/1/1947 cho các nơi biết.(19) Ngày 16/1 Pháp cho máy bay thám thính quần thảo trên quần đảo Tây Sa (HS)(20) và liền ngày 17/1 cử tàu chiến “Tonkin”(F-43) ra đảo Vĩnh Hưng thuộc Tây Sa (HS)(21) lập kế hoạch cử 10 lính Pháp và 17 lính an-nam đổ bộ lên đảo Phú Lâm (Vĩnh Hưng)(22) nhưng thất bại vì đụng độ với lực lượng TQ đang đóng ở đây , sang ngày 18 binh đội Pháp sang chiếm đảo San Hô(Pattle) , xây dựng trạm thông tin liên lạc vô tuyến ở đây(23).

Trước những hành động của Pháp ngày 19/1 Chính phủ TQ đã thông báo cho ĐSQ Pháp ở Nam Kinh rằng Chủ quyền quần đảo  Tây Sa (HS) là thuộc về TQ(24), kế dến  Bộ trưởng quốc phòng TQ Bạch Sùng Hỷ ra công bố chủ quyền của TQ trên quần đảo Tây Sa , yêu cầu Bộ Ngoại Giao TQ phát công hàm phản đối việc quân Pháp đổ bộ lên quần đảo Tây Sa (HS)(25). Bộ trưởng Ngoại Giao Vương Thế Kiệt ra tuyên bố chủ quyền Tây sa (HS) của TQ(26) , ngày 26/1 Cục trưởng Cục tình báo bộ ngoại giao TQ Hà Phong Sơn phát biểu bác bỏ việc Pháp cho rằng chủ quyền Tây Sa  là của VN (27). Ngày 28/1  BNG TQ kháng nghị việc Pháp cho tàu chiến đổ bộ lên Tây sa (HS) với ĐSQ Pháp (28) sang ngày 29/1 Thứ trưởng ngoại giao Diệp Công Siêu lại ra tuyên bố về chủ quyền trên đảo Tây Sa (29), tỏ thái độ phản đôi mạnh mẽ những hành động của Pháp. Từ một loạt động thái nầy, ngày 15/3/1947 Bộ Nội vụ TQ công bố chỉ thị số 442 thành lập “Khu hành chính đặc biệt Nam Hải”, chuyển việc quản lý hai quần đảo HS-TS sang cho Hải quân(30).. Ngày 1/4/1947, “Khu hành chính đặc biệt Nam Hải” chính thức ra đời, hai quần đảo nầy được sáp nhập vào đây (31).

Thống Trị của TQ và Điều tra thực địa

Ngày 12/4/1947 Bộ Nội Vụ Trung Hoa Dân quốc quyết định đổi tên các đảo tiếp quản với sự tán thành của tư lệnh hải quân, đổi đảo “Vũ Đức” thành đảo “Vĩnh Hưng”(Woody) ở Tây Sa (HS) và đảo “Trường” ở Nam Sa  (TS) thành đảo “Thái Bình”(32). Ngày 14/4/1947 tại Bộ Nội Vụ, một hội nghị có tên “Bàn về việc xác định chủ quyền và phạm vi của hai quần đảo Tây-Nam Sa” với sự tham dự của đại diện các bộ Quốc phòng, Ngoại Giao, Nội Vụ và tư lệnh hải quân. Hội nghị nầy ra quyết định xác nhận phạm vi lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa  mà cực nam là kéo dài đến Tăng Mẫu Ám Sa (James Shoal– ở tọa độ 3.58 độ kinh bắc 112.17 độ kinh đông—người dịch chú), sau khi Bộ Nội vụ quyết định đổi tên quần đảo Tây Sa và Nam Sa là đảo thuộc “Tiêu Sa châu”, công bố rộng rãi chủ quyền lãnh hải của TQ trong khi đó Hải quân quyết định cho quân tiến chiếm các đảo thuộc hai quần đảo nầy (33).Vì thế, tư liệu liên quan đến lãnh thổ của Trung Hoa Dân Quốc do bộ Nội vụ đề xuất cho Sở thống kê chính phủ để biên tập trong “Niên giám thống kê Trung hoa dân Quốc” vào tháng 10/1947, chính thức xác nhận cực nam là Tăng Mẫu Ám Sa ở quần đảo Nam Sa (TS) nằm ở 4 độ kinh bắc (34). Ngày 14/4 sau khi có quyết định nầy, Tàu chiến “Trung Cơ” đã được điều đến hiện trường để tiến hành điều tra Tây Sa (HS) (35)

Bia chủ quyền trên đảo Hoàng Sa của VN(1930)

Có thể nói cuộc điều tra ở Tây Sa lần nầy là  cuộc điều tra qui mô lớn thứ hai sau lần điều tra học thuật của Trầm Bằng Phi thực hiện vào năm Dân Quốc thứ 17. Đã có 8  chuyên gia của nhiều ban ngành như Chỉ huy hạm đội thuộc bộ tư lệnh hải quân, tham mưu, giám đốc sở điện thuộc hải quân, sở thí nghiệm, sở điều tra địa chất thuộc bộ kinh tế, sở khoáng sản tài nguyên, viện nghiên cứu thực vật trung ương, đài điện từ và các cán bộ trực thuộc ban ngành, ngoài ra còn có các giáo sư địa lý, sinh vật thuộc đại học Trung Sơn và một số nhà báo được phép đặc biệt của hải quân đi theo.

Về quần đảo Nam Sa(TS) năm 1947, TS Mã Đình Anh , giám đốc Viện nghiên cứu Hải Dương tỉnh Đài Loan kiêm chủ nhiệm khoa địa chất đại học quốc gia Đài Loan đã cùng ba vị giáo sư  khác thuộc khoa địa chất và hải dương học thuộc đại học nầy đã được cử đến quần đảo Nam Sa (TS) để thực hiện điều tra, thăm dò địa chất, hải dương theo tàu “Trung Nghiệp”, và hai giáo sư Tuyên Quế Thanh và Phạm Truyền Đề đã ở lại đảo để tiến hành điều tra sâu hơn. Sau chuyến điều tra thực địa nầy, để kêu  gọi sự quan tâm về tầm quan trọng của đường biên giới phía Nam của tỉnh Quảng Đông trong nhân dân, từ ngày 11/6, với sự chủ trì của “Ủy ban Biên soạn tài liệu  quần đảo ở Tây-Nam sa thuộc chính phủ Quảng Đông” tổ chức triển lãm về “Đặc sản ở quần đảo Tây-Nam Sa” tại nhà trưng bày Tỉnh Quảng Đông và đã có trên 4 vạn người tham quan. Ngày 4/9, bộ Nội Vụ ban hành mệnh lệnh số 0880 gộp 4 quần đảo Nam Sa, Tây Sa, Đông Sa và Trung Sa lại đặt dưới sự quản lý của tỉnh Quảng Đông đồng thời công bố trong ngoài nước tên gọi của 4 quần đảo nầy cũng như những đảo đá ngầm, dãy san hô, những bãi cát phụ thuộc. Không có nước nào phản đối việc làm nầy (37). Ngày 1/12 chính phủ ban hành “Bản đối chiếu danh xưng mới của các quần đảo ở Nam Hải”. Như vậy Trung Hoa Dân Quốc lập ra các sở quản lý Đông Sa, Tây Sa , Nam Sa , năm 2 lần chuyển lương thực và một lần thay đổi cán bộ quản lý đảo để liên tục lưu trú sau khi tiếp quản quần đảo trên biển Nam Trung Hoa.(38) Hơn thế nữa, ngày 24/3/1948 Bộ Hải quân đã cử chiến hạm “Trung Hải” chở nhân viên thay thế đồn trú gồm  thiếu úy Trương Quân Nhiên sở quản lý đảo Tây sa, Thiéu úy Bành Vận Sinh  chủ nhiệm sở quản lý Nam sa và thiếu úy Phiên Từ Thắng Ủy ban pháp chế hải quân với 104 lính chiến đấu đến nhiệm chức(39).

Chào cờ trên đảo Hoàng Sa(Pháp-Việt)

Can thiệp của Philippines , Pháp và điều lệ về tổ chức công sở của Bộ trưởng đặc khu hành chính Nam Hải

Để chống lại những hoạt động của TQ, tháng 1/1947 sau khi chiếm đóng đảo Pattler(đảo San hô), kể từ năm 1948 Pháp đã xây dựng thiết bị cấp nước cho dân cư trên đảo, cấm ngư dân TQ đánh cá ở cùng biển nầy.(40) Về phần Philippines, Viện trưởng Viện nghiên cứu Hải dương Tomas Kroma đã tổ chức đội thám hiểm ra đảo Thái Bình (Itu Apa) thuộc quần đảo Nam Sa (TS) vào năm 1948 để thăm dò.(41) Hơn thế nữa, ngày 12/4/1949  báo Bagio ở địa phương đưa tin, chính phủ Philippines đã họp nội các quyết định cử chuấn đề đốc Hose. V. Apin ra đảo Itu Apa(đảo Thái Bình). Ngày hôm sau, 13/4 Công sứ Trần Chất Bình của ĐSQ THDQ ở Manila đã xác nhận thực hư với BNG Philippines đồng thời thông báo đảo nầy thuộc lãnh thổ của THDQ(42).

Trong công hàm phúc đáp ngày 7/5 của Philippines, thứ trưởng ngoại giao Ferrino Rina chính thức xác nhận tại cuộc họp nầy rằng để bảo vệ ngư dân hoạt động ở vùng biển thuộc đào Itu Apa nầy và họ đã lưu trú tại đây đồng thời cho biết  chính phủ Philippines đã bắt tay vào việc di dân ra ở trên đảo vào tháng 4 và tổng tư lệnh hải quân cũng đã ra thăm đảo Nam Sa, tổ chức đo đạc là sự thật mặc dù có thông tin cho  biết là đã có sự dị nghị (phản đối của TQ).(44), yêu cầu phía TQ đưa ra tư liệu xác minh quan hệ giữa TQ với  đảo nầy. Tháng 4 năm 1949 Pháp đưa tàu chiến pháo kích vào đảo Robert( Cam Tuyền) ở Tây Sa, đuổi ngư dân TQ, cho quân đổ bộ lên 4 đảo Drummond(Phổ soái đảo) Duncan( Thẩm Hàng đảo), Money(Kim Ngân đảo) xây dựng bia đá khẳng định chủ quyền ở các đảo nầy.(45)

Đối với hành động của hai nước Pháp và Philippines, ngày 6/6/1949 Tổng thông THDQ Tưởng Giới Thạch đã ban bố “Điều lệ về Tổ chức  Bộ hành chính đặc khu Nam Hải “(46) trong đó qui định “Đặc khu Nam Hải gồm Đông Sa,Tây Sa, Trung Sa, Nam sa và các bãi san hô, đá ngầm, cát…trên biển Nam Trung Hoa”(47) nhưng do tình hình ở đại lục luôn thay đổi đột biến, ngày 8 tháng 6 năm 1949 tuyên bố bãi bỏ Sở quản lý quần đảo Nam sa, rút quân về , sau đó rút ra khỏi quần đảo Tây sa (đảo Vĩnh hưng) trở về Đài Loan, chỉ giữ lại quần đảo Đông Sa duy nhất. Khi nước  Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH )được thành lập 1/10/1949, chính phủ Quốc dân đảng rút lui về Trùng Khánh vào ngày 15/11 sau đó thoát ra đảo Đài Loan vào ngày 7/12/1949,. vì vậy vấn đề nắm giữ các quần đảo trên biển Nam trung Hoa đã trở thành một vấn đề lớn cho TQ.

Sau khi chính phủ Quốc Dân Đảng rút ra Đài Loan, tháng 4/1950 quân Pháp huy động hơn 600 quân ra chiếm lại quần đảo Vĩnh Lạc(Crescent )(48). Theo đó, ở Philippines, Bộ quốc phòng và Bộ Ngoại giao thảo luận về khả năng chiếm đóng Nam Sa vào ngày 17/5/1950. Tổng thông Philippines Elpidio Kirino nói rằng “nếu kẻ địch(CHNDTH) chiếm đóng quần đảo Nam sa thì an ninh của nước Philippines sẽ bị đe dọa” trong một buổi họp báo.

Việc tiến quân chiếm đóng quần đảo Tây Sa(HS) của nước TQ mới và tuyên bố của VN và Philippines đối với hành động nầy

Bản đồ biển Đông của Trung Hoa Dân Quốc(Đài Loan) ấn hành

(Tân Hoa Xã ngày 19/5/1950)

Một số nhân vật trong chính phủ tay sai Philippines do Mỹ nắm giữ gần đây đang có âm mưu tạo ra bầu không khí xâm phạm quần đảo (Nam sa) và Đoàn sa thuộc lãnh thổ nước ta. Theo nguồn tin ở Manila, trong buổi họp báo ngày 17/5 TT Philippines Kirino đã công khai tuyên bố với lời lẽ khiêu khích, rằng “Nếu  quân đội của Quốc Dân Đảng đang chiếm giữ quần đảo trên biển đông thì về phía Philippines, chúng ta không cần phải chiếm đóng nhưng giả như những quần đảo nầy đang ở trong tay của kẻ địch (ý muốn ám chỉ Chính quyền Bắc Kinh—người dịch chú) thì đây là vấn đề đe dọa đến nền an ninh của nước ta”. Vì sẵn có ý đồ xâm lược, TT Kirino đã nặn ra một luận điệu thật hoang đường vô lối  “dựa theo Luật quốc tế, nước gần với những quần đảo nầy nhất phải là nước có quyền quản lý,  nước gần với các quần đảo “đoàn sa” nầy là Philippines”. Một quan chức quan trọng trong chính phủ ở Bắc Kinh nói rằng lối tuyên truyền hoang tưởng của Philippines về quần đảo thuộc lãnh thổ của TQ là rõ ràng do chính phủ Mỹ ủng hộ, những kẻ khiêu khích, và Mỹ là người ủng hộ họ phải vứt bỏ kế hoạch mạo hiểm nầy, nếu không thì sẽ phải gánh những hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Nước CHNDTH khẳng định rằng sẽ không tha thứ cho bất cứ nước nào xâm phạm đến những quần đảo thuộc TQ nằm trong biển Nam Trung Hoa kể cả  quần đảo “Đoàn Sa”.


Ngày 15/5/1950,  Nước CHNDTH cho quân chiếm đóng quần đảo Vĩnh Hưng (Woody, Phú Lâm)(50) . Ngày 19/5/1950 lần đầu tiên nước CHNDTH ra tuyên bố chủ quyền quần đảo ở biển Nam Trung Hoa khi phản đối phát biểu của Tổng thống Philippines E. Kirino trong ngày 17 trước đó. Nôi dung bản tin như sau:

Ở Đông dương, Pháp tiến hành việc dựng nên chính quyền Bảo Đại, nước Việt nam được thành lập vào ngày 1/7/1949.Ngày 1/10/1950 Thủ hiến Trung phần Tướng Phan Văn Nghĩa đã tổ chức lễ tiếp quản chủ quyền Tây Sa và Nam Sa về cho VN trên đảo San Hô (thuộc quần đảo Nam Sa)(52). Ngày hôm sau thủ tướng Pháp, Henry Cuillet đã công bố chính thức việc nầy(53). Như vậy VN là nước làm chủ thay Pháp kế thừa chủ trương chủ quyền các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa mà Pháp là nước đã can dự vào những quần đảo nầy từ trước thế chiến. Như vậy từ việc bỏ trống sự chi phối về chính trị của NB, các đảo trên biển Đông các nước TQ, Pháp và Philippines đã tuyên bố chủ quyền của mình và mỗi nước đều tiếp quản một số hòn đảo, trong đó chính quyền Bắc kinh của Đảng CS TQ  và chính quyền Quốc dân Đảng ở Đài Loan chia nhau thi hành chủ quyền đối với các quần đảo. Miền Nam kế thừa sự thống trị của Pháp, đươc trao trả chủ quyền của Tây Sa (HS) và Nam Sa (TS) tiến hành việc tái chiếm . Lập trường của các nước chung quanh bờ biển Nam Trung Hoa khác thì không có thay đổi gì lớn. Trong tình huông như thế việc xử lý vấn đè lãnh thổ của các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa đành phải chờ quyết định theo Hòa Ước San Francisco.

Tổng thống Philippines trong tháng 5/1951 sau đó cũng không có thái độ rõ ràng mặc dù vẫn chủ trương chủ quyền quần đảo Nam Sa (TS) thuộc về mình.(54)

2.Xử Lý vấn đề chủ quyền trên biển Đông theo Hòa Ước San Francisco

Xử Lý lãnh thổ theo điều ước hòa bình với Nhật bản

Hòa ước hòa bình đối với Nhật bản đã được kí kết vào ngày 8/9/1951 tại San Francisco. Theo điều (2)-(f) của Hòa Ước nầy thì ” NB phải từ bỏ mọi quyền lợi, quyền tranh chấp và quyền đòi hỏi đối với quần đảo Tây Sa (HS) cũng như quần đảo Tân Nam(Shinnan Guntoo–TS)(55) nhưng trao trả các đảo trên biển Đông cho ai thì không rõ rệt,   lại rơi vào một tình huống rắc rối.

Trước khi khởi thảo Hòa ước nầy, nguyên tắc giảng hòa của nước Anh đối với NB  theo bản tin của AFP từ Luân Đôn ngày 8/3/1950 có ghi rõ là NB phải từ bỏ quần đảo Tân Nam(Spatly—TS)(56) Trong 7 nguyên tắc liên quan đến Hòa Ước đối với NB của Mỹ đưa ra ngày 24/1/1951, thì nguyên tắc về chủ quyền và lĩnh vực địa lý “Nhật bản phải, một là thừa nhận nền độc lập của Triều Tiên, hai là, phải đồng ý việc nước Mỹ là nước cai trị các đảo Ryukyu cũng như các đảo ở Ogasawara theo ủy nhiệm của tổ chức LHQ và hơn nữa,  ba là giao cho LHQ, Liên bang Xô Viết, TQ(Đài Loan) và nước Mỹ quyết định trong tương lai về  “địa vị” của quần đảo Senkaku, Etorofu , các đảo Bành Hồ, Đài Loan. Trong vòng một năm kể từ khi hòa ước nầy có hiệu lực vẫn chưa đạt được quyết định thì sẽ phải giao lại cho Đại Hội đồng LHQ quyết định, những quyền lợi đặc biệt của TQ sẽ bị xóa bỏ”(57) nhưng dự thảo nầy cũng không ghi rõ sẽ trao trả ở biển Đông gồm cả các đảo Shinnan (TS) cho ai. Trong điều 3 bản dự thảo của Mỹ liên quan đến Hòa Ước đã được trao tay cho chính phủ Nhật bản, chỉ còn ghi “ Nhật bản từ bỏ mọi quyền lợi, quyền tranh chấp, và quyền khiếu nại đối với đảo Bành Hồ, Đài Loan và Triều Tiên, chấp nhận những biện pháp của Hội Đồng Bảo An LHQ ngày 2/4/1947 liên quan đến chế độ thống trị ủy thác các quần đảo ở Thái Bình Dương vốn đã bị NB cai quản”(58)

Những phát ngôn cụ thể liên quan đến những quần đảo trên biển Đông là bản thảo Hòa Ước đối với NB do Mỹ-Anh soạn, được công bố ngày 12/7/1951 với điều (2) mục (f) “Nhật Bản phải từ bỏ mọi quyền lợi, quyền tranh chấp, khiếu nại ở các đảo Tây Điểu cũng như Tây Sa”(59) được đưa thêm vào theo yêu cầu của Pháp(60). Đảo “Tây Điểu “ ở đây là quần đảo Nam sa (Tân Nam quần đảo—TS của VN). Từ Spratly Islands(số nhiều) thành  Spratly Island( số ít), nhưng thực chất không thay đổi khi hiểu Tân Nam Quần đảo là quần đảo Trường Sa.

Tuyên bố của nước CHNDTH về các đảo trên Biển Nam Trung Hoa

“Sau khi sát nhập các đảo ở Biển Nam Trung Hoa vào tỉnh Quảng Đông ngày 15/8/1951 trước bản thảo Mỹ-Anh, thủ tướng Chu Ân Lai của nước CHNDTH tuyên bố “Một là Bản thảo của hòa ước do Mỹ-Anh soạn thảo là sản phẩm của Mỹ và các nước chư hầu nhằm soạn ra một hòa ước đơn độc đối với NB” Hai là, đối với vấn đề lãnh thổ, Ông ta nói như sau:

Vào ngày 12/7/1951 Chính phủ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ và chính phủ Liên Hiệp Anh đã cùng công bố bản dự thảo hòa ước đối với Nhật Bản ở Hoa thịnh Đốn và Luân Đôn. Kế đến, để chuẩn bị việc kí kết Hoà ước đơn độc với Nhật bản vào ngày 10/7  Chính phủ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã gửi thư thông báo mở hội nghị tại San Francisco. Tôi được phép thay mặt chính phủ nước CHNDTH ra tuyên bố như sau…

…Hai là về điều khoản lãnh thổ trong bản dự thảo Hòa Ước đối với NB của hai nước Mỹ-Anh là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của chính phủ Mỹ trong việc mở rộng xâm lược và chiếm đóng. Một mặt, Bản dự thảo đặt việc thống trị NB dưới sự ủy nhiệm  của LHQ , đảm bảo cho nước Mỹ quyền thống trị những đảo mà trước đây NB chiếm đóng ở Thái Bình Dương và cả các đảo Ryukyu, quần đảo Ogasawara, quần đảo Kazan, Tây Điểu, Okinotori, Minamitori. Việc tách rời các đảo nầy khỏi NB mặc dù chưa có một qui định quốc tế nào nhưng vẫn để cho Mỹ chiếm đóng, tiếp tục chi phối các đảo nầy nhằm tăng thêm quyền lực và lợi ích cho chúng.

Mặt khác, bản dự thảo nầy còn phá bỏ các thỏa thuận đã đạt được trong Tuyên Bố Cairo, Hiệp định Yalta và Tuyên Bố Postdam, chỉ qui định là NB phải từ bỏ mọi quyền lợi của mình đối với Đài Loan, các đảo ở Bành Hồ, quần đảo Senkaku , Etorofu và  các đảo vùng phụ cận, không hề đề cập một lời nào về việc trao trả Đài Loan, các đảo Bành Hồ cho nước CHNDTH cũng như về thỏa thuận cho phép Liên Bang Xô Viết tiếp tục nắm giữ quần đảo Senkaku, Etorofu và các đảo chung quanh. Điểm sau là nhằm tạo ra một quan hệ căng thẳng hơn nữa với Liên Bang Xô Viết nhằm che dấu ý đồ tiếp tục chiếm đóng của Mỹ. Điểm trước  nhằm mục dích kéo dài việc chiếm đóng của Mỹ ở Đài loan thuộc lãnh thổ của TQ. Nhưng nhân dân TQ nhất dịnh không cho phép sự chiếm đóng nầy, dù trong bất cứ trường hợp nào  nhất định không từ bỏ trách nhiệm thần thánh là giải phóng đảo Bành Hồ và Đài Loan.

Đồng thời bản dự thảo còn cố ý buộc Nhật bản phải từ bỏ mọi quyền lợi đối với quần đảo Tây Sa(HS) và Tây Điểu, không có điều khoản nào đề cập đến việc trao trả chủ quyền của những quần đảo nầy cho TQ. Thực tế Quần đảo Tây sa và Tây Điểu hoàn toàn tương tự như quần đảo Nam Sa, Trung Sa và Đông Sa, từ xưa đến nay vốn là lãnh thổ của TQ. Khi Đế quốc Nhật bản gây chiến tranh xâm lược, có lúc các đảo nầy bị bỏ rơi, nhưng khi Nhật Bản đầu hàng thì chính phủ TQ đương thời cũng đã tiếp quản tất cả. Chính phủ nước CHNDTH nay xin tuyên bố như sau: chủ quyền không thể xâm phạm đối với quần đảo Tây Điều và Tây sa sẽ không chịu một ảnh hưởng nào của bất cứ điều qui định cho dù có hay không trong bản dự thảo Hòa Ước với Nhật Bản (61).

Thủ tướng Nhật bản Yoshida Shigeru kí hòa ước San Francisco ngày 8/9/1951

Phản ứng của các nước

Đại điện cho Liên Bang Xô Viết, Ông Andrei Gromyko đã đọc diễn văn vào ngày thứ hai Hội nghị toàn thể San Francisco mở ra vào chiều ngày 5/9/1951 trong đó Ông đề cập đến vấn đề lãnh thổ như sau:

Hòa ước đối với Nhật Bản tất nhiên là phải quyết định vấn đề lãnh thổ của nhiều nơi liên quan đến việc giảng hòa với Nhật bản. Các nước Mỹ, Anh, Trung Quốc(THDQ) và Liên bang Xô viết phải chịu trách nhiệm một cách rõ ràng về điểm nầy. Những trách nhiệm nầy đã được ghi trong Tuyên bố Cairo, Tuyên bố Postdam, Yalta. Những hiệp định nầy công nhận quyền lợi của TQ rằng “nước CHNDTH ngày nay không có gì để tranh luận  về quyền lợi  tuyệt đối” về chủ quyền lãnh thổ bị tách ra khỏi lãnh thổ TQ. Đài Loan, các đảo Bành Hồ, Tây Sa(HS) lẫn các nơi thuộc lãnh thổ TQ đã bị tách rời trước đây nay phải hoàn trả lại cho nước CHNDTH. Đây là điểm không cần phải tranh luận… Về phần nói đến vấn đề lãnh thổ của bản dự thảo Hòa Ước của Mỹ-Anh, người đại diện Liên bang Xô Viết  cho rằng phải nhấn mạnh bản dự thảo đã xâm phạm đến quyền lợi không thể tranh cãi của TQ đối với vùng đã bị quân phiệt Nhật cắt tách ra khỏi lãnh thổ TQ, cũng như các quần đảo Đài Loan, Bành Hồ, Tây sa và các đảo nhỏ khác. Bản dự thảo  chỉ đề cập đến việc buộc NB phải từ bỏ quyền lợi đối với các vùng lãnh thổ nầy , đã cố tình lược bỏ việc đề cập đến vận mệnh của những vũng lãnh thổ nêu trên. Tuy nhiên trên thực tế, Đài Loan và các đảo đang bị quân đội Mỹ chiếm đóng, nước Mỹ muốn hợp pháp hóa hành động xâm lược trong bản dự thảo Hòa Ước đang bàn cãi. Những vùng nầy phải trao trả lại cho nhân dân TQ là người chủ của nó.

Rút cuộc trước những phê phán gay gắt đối với bản dự thảo, liên quan đến phần nói về chủ quyền ” bản dự thảo đã xâm phạm một cách trắng trợn quyền lợi chính dáng của TQ về vấn đề chủ quyền trên những phần bị tách ra, hậu quả của việc NB xâm lược, đảo Đài Loan, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Tây Sa và các vùng thuộc lãnh thổ của TQ.  Yêu cầu phải thay đổi nội dung của  điều (2), khoản (b) và (f) “Nhật bản phải hoàn toàn công nhận chủ quyền nước CHNDTH ở Mãn Châu, Đài Loan, tất cả những đảo tiếp cận với vùng nầy, quần đảo Bành Hồ, Đông Sa, Tây Sa, Macclesfield bank, các quần đảo Tân Nam  bao gồm cả Tây Điểu, từ bỏ mọi quyền lợi, tranh chấp và  đối với những khu vực nêu trên”.

Về phía Philippines, ngày 7 trong phiên họp toàn thể của Hội nghị lần thứ sáu vào buổi sáng, ngoại trưởng Romulo đã lên đọc điễn văn nhưng đã không đụng chạm gì đến vấn đề chủ quyền các quần đảo trên biển Đông.

Đại biểu Trần Văn Hữu của Việt nam trong phát biểu tại phiên họp toàn thể klần thứ 7 vào ngày 7/9 đã tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo nầy như dưới đây:

Việt nam nhiệt liệt tán thành công việc đem lại hòa bình mà chúng ta đang làm. Tranh thủ mọi cơ hội để thẳng thắn gạt bỏ mọi mầm mống gây bất hòa vì vậy chúng tôi xác nhận quyền lợi của nước VN trên hai quần đảo Tân nam và Tây sa vốn thuộc về chúng tôi.


Thủ tướng Việt Nam Trần Văn Hữu ký hòa ước San Francisco(1951)

Hòa Ước đối với Nhật bản và vấn đề xử lý quần đảo ở biển Nam Trung Hoa

Như thế, trong Hòa ước San Francisco, mặc dù trong quá trình thương thảo có đề cập đên vấn đề lãnh thổ  nhưng rút cuộc chỉ ghi lại rõ ràng trong văn bản chính thức là “NB phải từ bỏ quần đảo Tân Nam và Tây Sa” mà thôi. Về mặt chiến lược, Mỹ cũng muốn tránh đề cập đến việc  trao trả quần đảo trên biển Đông cho ai. Hội nghị kết thúc đã không ghi thành văn bản rõ ràng hơn được nữa về việc trao trả hai quần đảo HS-TS cho ai(65).

Tại Hội nghị, liên quan đến quyền đại biểu của TQ , hai nước Mỹ-Anh đã không đồng thuận, rút cuộc cả hai, đại diện của chính quyền Cộng Sản ở Bắc Kinh lẫn chính quyền của  Quốc Dân Đảng ở Đài Loan cũng không được mời dự hội nghị San Francisco.

Hội nghị kết thúc nhưng việc hoàn trả các quần đảo trên biển Đông không đề cập, quyền kế thừa lãnh thổ của TQ cũng không được xác định một cách cụ thể.

Chú thích (tạm lược bỏ, độc giả biết tiếng Nhật có thể xem phần chú thích trang 405-408)

Nguồn:

南海諸島国際紛争史 (研究・史料・年表)

chương 14. (p.391-408)

浦野起央著—Urano Tatsuo

http://www.tousuishobou.com/kenkyusyo/4-88708-200-2.htm

Vài nét về tác giả: GS Urano Tatsuo sinh năm 1933 là tiến sĩ về chính trị học, tham gia giảng dạy ở Đại Học Nhật Bản (Nihon Daigaku), Hàn Quốc, Đài Loan và Bắc Kinh. Ông là một chuyên gia hàng đầu tại Nhật Bản về vấn đề Biển Đông. GS Urano bắt tay biên soạn tập khảo cứu “Lịch sử Tranh Chấp Quốc Tế Các Quần Đảo Trên Biển Đông” từ 25 năm trước, năm 1997 mới xuất bản lần đầu tiên. Sách dày 1200 trang, với nguồn tư liệu vô cùng phong phú, tuy nhiên quan điểm cơ bản nghiêng về phía TQ như chúng ta đã đọc. Mặt khác, qua  tập tư liệu nầy, ở bài viết trên chúng ta có thể gạn lọc ra những chi tiết vô cùng quí báu như việc Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch(Quốc Dân Đảng) đã vội vã xâm chiếm các quần đảo hối hả đến thế nào với cái cớ giải giáp quân đội Nhật sau khi Nhật bản đầu hàng trong thế chiến thứ hai. Đây là kinh nghiệm mà sau nầy TQ đã áp dụng, ra tay cướp lấy thời cơ chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa khi chế độ ở miền nam sụp đổ. (Hồng Lê Thọ chấp bút )

người dịch chú: Nhật bản  gọi SHINNAM GUNTOO(Tân Nam Quần đảo) trong thời kì thế chiến 2 để chỉ Quần đảo Trường Sa

  • Tiếng Hoa(giản thể) – 南沙群岛 (Nánshā Qúndǎo)
  • Tiếng Việt- Quần đảo Trường Sa (群島長沙)
  • Tiếng Indonixia – Kapuluan ng Kalayaan
  • Tiếng Mã Lai –  Kepulauan Spratly
  • tiếng Anh – Spratly Islands

また、第二次世界大戦中、日本は新南群島と呼んだ。

đảo Trường Sa

http://en.wikipedia.org/wiki/Cairo_Declaration

Generalissimo Chiang Kai-shek, President Franklin D. Roosevelt, and Prime Minister Winston Churchill met at the Cairo Conference in Cairo, 11/25/1943.

Hội Nghị Yalta

Winston Churchill, Franklin D. Roosevelt và Joseph Stalin tại Hội nghị Yalta.

http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%99i_ngh%E1%BB%8B_Yalta

Tuyên bố Postdam


http://vi.wikipedia.org/wiki/Tuy%C3%AAn_b%E1%BB%91_Potsdam

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 35. Mục Lân, An Lân, Phú Lân?

Posted by anhbahoa on November 28, 2009

Bài 35

Mục Lân, An Lân, Phú Lân?

Ðinh Kim Phúc

(Vanchuongviet.org, ngày 1.7.2009)

Trên trang web của Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phần Tổng quan về Trung Quốc, trong mục đối ngoại đã viết: “Trung Quốc khẳng định sẽ tiếp tục đi theo con đường phát triển hòa bình, kiên trì mở cửa đối ngoại, sẵn sàng hợp tác cùng có lợi với các nước trên thế giới, trong đó Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng theo phương châm ‘mục lân, an lân, phú lân’(thân thiện với láng giềng, ổn định với láng giềng và cùng làm giàu với láng giềng)”.

Chúng ta thử nhìn xem những gì Trung Quốc nói có tương xứng với những gì Trung Quốc đã làm đối với Việt Nam những ngày gần đây không?

1. Mục lân:

Trung Quốc chính thức cấm đánh bắt tại biển Đông từ 16/05/2009 đến 01/08/2009 và đã điều tám tàu tuần tra để theo dõi giám sát khu vực rộng 128.000 km2 tại đây.

Tần Cương, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói đây là “biện pháp hành chính thông thường và đúng đắn”sau khi Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hồ Xuân Sơn “giao tiếp” với Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường để “lưu ý” ông này về lệnh cấm đánh bắt của Trung Quốc.

Tần Cương nói tiếp: “Trung Quốc áp dụng biện pháp này để bảo vệ tài nguyên biển trong vùng lãnh thổ của mình” và tái khẳng định Trung Quốc có chủ quyền “không thể chối cãi” đối với các đảo thuộc Nam Hải (Biển Đông), bao gồm cả Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa), cùng các vùng biển phụ cận.

Để thể hiện thái độ “mục lân”, ngày 16/6/2009, 37 ngư dân Việt Nam bị lực lượng tuần tra Trung Quốc bắt khi đánh cá gần quần đảo Hoàng Sa và cho đến nay 12 ngư dân đảo Lý Sơn vẫn đang bị Trung Quốc bắt giữ làm con tin tại đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa chủ quyền của Việt Nam) với “hạn trong 10 ngày phải giao nộp 210.000 nhân dân tệ (khoảng 540 triệu VND) mới được thả về” đang gây bức xúc không chỉ cho ngư dân Lý Sơn, ngư dân Quảng Ngãi mà còn cho tất cả mọi người dân Việt Nam lương thiện và ý thức được chủ quyền quốc gia.

Nhưng căn cứ vào các tin thông tấn quốc tế, Trung Quốc không tỏ thái độ như vậy đối với Indonesia, nước đông dân nhất Asean và Philippines, nước vốn là đồng minh của Hoa Kỳ trong khu vực.

Đông phương Nhật báo, một tờ báo thân Bắc Kinh xuất bản tại Hong Kong, hôm 10/06 bình luận rằng “Lệnh cấm đánh bắt ở Nam Hải của Trung Quốc dò đáy ý chí của Việt Nam”.

Nhà báo Huy Đức đã xác đáng khi nhận xét rằng: “Những hành vi nhắm vào thường dân trên Biển Đông không còn là chuyện riêng của một hay hai quốc gia; không chỉ là pháp lý mà còn là đạo lý. Cộng đồng quốc tế cần phải được thông tin về cách hành xử này; chính người dân Trung Quốc đánh cá trên Biển Đông cũng cần được biết: Việt Nam đã không cư xử với họ như cách mà Chính quyền họ vẫn làm với ngư dân người Việt”.

2. An lân:

Theo báo Giải Phóng Quân ngày 29/6/2009 cho biết đầu tháng 6/2009 không quân Trung Quốc đã tổ chức phân đội chiến đấu, lần đầu tiên diễn tập triển khai tiếp nhiên liệu ngay trên không để bay đến vùng biển xa, tiếp sau đó lại diễn tập thành công tổ chức biên đội chiến đấu cơ có máy bay tiếp nhiên liệu bảo trợ tuần tra viễn hải thành nhiều đợt, nhiều vòng. Đúc rút ra nhiều kinh nghiệm cho các chiến đấu cơ tuần tra viễn hải tại những nơi xa nhất.

Rất nhiều các diễn đàn quân sự của Trung Quốc cũng đã dẫn thuật tuyên bố của bộ tư lệnh hải quân Thái Bình Dương Hoa Kỳ về việc hạm đội hải quân Trung Quốc tiến hành tập trận quy mô lớn, bắn đạn thật trong tháng 5 tại khu vực Biển Đông. Cuộc diễn tập đã huy động 30 chiến thuyền bao gồm 12 tầu ngầm tiên tiến, cùng với sự tham gia của 3500 lính hải quân lục chiến hoàn thành bài tập tác chiến đổ bộ lên các đảo.Tại cuộc diễn tập này hạm đội Nam Hải điều thêm tổng hợp các tàu hộ tống loại mới, khu trục hạm lọai mới nhất, các tàu đổ bộ và bổ sung thêm nhiều biên đội chiến hạm tới khu vực vùng Biển Đông để tham gia tiến hành cuộc tập trận tác chiến cơ động xa bờ kéo dài 17 ngày.

Tờ tạp chí Hoàn Cầu trong tháng này có bài viết nói: Năm nay trong khu vực xung quanh vùng biển Trung Quốc phát sinh hàng loạt sự kiện đột phát hoặc sự kiện giống như phát sinh một cách tình cờ khiến cho năm 2009 biên giới trên biển của Trung Quốc từ đầu năm bắt đầu nổi sóng.

Theo tin tức từ báo Giải Phóng Quân, đầu tháng 6 không quân Trung Quốc đã tổ chức phân đội chiến đấu, lần đầu tiên diễn tập triển khai tiếp nhiên liệu ngay trên không để bay đến vùng biển xa, tiếp sau đó lại diễn tập thành công tổ chức biên đội chiến đấu cơ có máy bay tiếp nhiên liệu bảo trợ tuần tra viễn hải thành nhiều đợt, nhiều vòng, rút ra nhiều kinh nghiệm cho các chiến đấu cơ tuần tra viễn hải ở những vùng biển xa nhất.

Ngày 27 tháng 5 lực lượng cảnh sát biển Trung Quốc tiến hành tuần tra giám sát trên đường trung tuyến giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Vịnh Bắc Bộ.

Ngày 12 tháng 6 năm 2009 trong cuộc tập trận mang tên CARAT2009 tại Biển Đông, khu trục hạm Chung Vân trang bị tên lửa Mỹ Bá Khắc tiến hành diễn tập bắn pháo chống hạm 127 mm.

Corterz Cooper, nghiên cứu viên cao cấp về chính sách quốc tế của công ty Research and Development (RAND) trong cuộc họp báo cáo về thẩm tra an ninh và kinh tế Trung Mỹ đã báo cáo về việc xây dựng hiện đại hóa hải quân quân đội Trung Quốc, ông nói rằng, ngoài căn cứ mới Tam Á ở Hải Nam,Trung Quốc đang xây dựng hoặc mở rộng thêm  4 căn cứ hải quân nữa, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng hải quân.

Cortrz Cooper nói, vấn đề Đài Loan luôn là động lực cơ bản để nhiều năm qua hải quân Trung Quốc phát triển năng lực tác chiến. Trước mắt, hải quân Trung Quốc đã có đủ khả năng thực thi và bao vây kéo dài khu vực Đài Loan, trừ khi Hoa Kỳ và các nước đồng minh có sự can dự bằng vũ lực. Có điều, dù  cho Đài Loan có được sự giúp đỡ của thế lực thứ ba, hải quân Trung Quốc vẫn có thể gây thiệt hại nặng nề cho lực lượng hải không quân và huyết mạch kinh tế của khu vực Đài Loan.

Hải quân Trung Quốc với sự chi viện thông thường của pháo binh, sẽ làm tăng rủi ro cho biên đội hải quân Hoa Kỳ ở khu vực Thái Bình Dương, có thể ngăn chặn hoặc trì hoãn xung đột ở khu vực. Ngoài ra, nếu đúng như nhà phân tích quân sự phương Tây đã nói, lực lượng tác chiến đã đi vào bố trí  thực chiến và được xác định là hình thành sức chiến đấu, như vậy khả năng tác chiến khống chế biển ở khu vực bờ biển của hải quân Trung Quốc sẽ trở thành hiện thực, tàu ngầm của hải quân Trung Quốc sẽ có thể thực hiện bố trí tầm xa trong thời gian dài. Điều này cũng đồng nghĩa với Trung Quốc có thể thực hiện nhiệm vụ tác chiến ngoài 400 dặm Anh ( 640km) ở Đông Hải và biển Đông. Phát triển theo xu thế này, khả năng bố trí của hải quân Trung Quốc rất nhanh sẽ có thể đạt tới 1000 dặm (1.600km) khu vực lân cận.

Năng lực tác chiến của hải quân Trung Quốc phát triển vì để ứng phó với vấn đề Đài Loan có thể dùng để thực hiện các nhiệm vụ quân sự bao gồm việc bảo vệ lợi ích quốc gia liên quan đến Đông Hải và biển Đông. Hải quân Trung Quốc đã tăng cường khả năng thực hiện nhiệm vụ ở khu vực biển này, đồng thời bố trí  lực lược đặc biệt tiên tiến ở căn cứ  hải quân  mới Tam Á, Hải Nam. Ngoài ra, ở quần đảo Hoàng Sa cũng cắm một đơn vị quân đội đặc thù bao gồm cả phân đội hải quân bộ binh, riêng ở đảo Ngũ Địch (tức đảo Vĩnh Hưng) xây dựng một sân bay loại nhỏ, có thể giúp tất cả máy bay chiến đấu của Quân giải phóng cất cánh. Các nhà chiến lược Trung Quốc đang nghiên cứu trọng điểm làm thế nào để bảo vệ an ninh eo biển xuyên Malacca và tuyến đường thương mại và năng lượng ở khu vực biển Đông.

Hải quân Trung Quốc thực hiện tác chiến “chống can dự” và “khống chế biển” ở vùng biển gần bờ và thủy vực xung quanh, chủ yếu dựa vào một lượng lớn thủy lôi tiên tiến và biên đội thủy quân lục chiến. Hải quân Trung Quốc có năng lực rải mìn ở nước sâu, có thể dùng nhiều phương pháp ném thủy lôi và dẫn pháo khác nhau. Quân giải phóng luôn ưu tiên phát triển quân đội tàu ngầm, theo quy hoạch, trong khoảng  thời gian từ 2010 – 2012 hải quân Trung Quốc sẽ có khoảng 50 chiếc tàu ngầm hiện đại hóa hoặc cải tiến. Trước mắt, hải quân Trung Quốc có hạm khu trục  “cấp hiện đại” của Nga  và đang tự chế tạo 8 chiếc hạm khu trục và hạm hộ vệ đẳng cấp khác nhau.  Tàu khu trục “Lữ hải” kiểu 051B và tàu khu trục đạn đạo “Lữ dương” do xưởng đóng tàu Giang Nam Thượng Hải chế tạo hiện đang sử dụng có  tính năng phòng không rất cao, có thể  bổ khuyết cho năng lực phòng không ở khu vực hạm đội trong phương diện bố trí binh lực của hải quân Trung Quốc. Hạm đội hộ vệ kiểu mới của hải quân Trung Quốc dùng rất nhiều kỹ thuật thiết kế tàng hình và phòng không tiên tiến, ngoài ra Trung Quốc đang chế tạo tàu tàng hình đạn đạo kiểu 022 cấp “HOUBEI” có thể là số 1 thế giới với số lượng hơn 50 chiếc. Tàu kiểu 022 là bình đài tác chiến vùng biển ven bờ vô cùng “khôn ngoan”, có thể đảm đương hàng loạt nhiệm vụ tác chiến trên biển,ví dụ lợi dụng đạn đạo để thực hiện nhiệm vụ chống can dự và bao vây khu vực khi có xung đột eo biển Đài Loan hoặc biển Đông, từ đó ngăn chặn hoặc trì hoãn sự can dự của Hoa Kỳ và quân đội đồng minh.

Nhiều nguồn tin tức cho thấy, Trung Quốc đã xây dựng được căn cứ hải quân quan trọng ở Tam Á, Hải Nam. Theo nguồn tin,ở căn cứ này các thiết bị tiên tiến hoàn hảo, có thể bố trí một đơn vị quân đội tác chiến qui mô lớn nhằm cung cấp vũ khí đạn dược và hậu cần cho nó; phía dưới  là chỗ vô cùng thuận lợi để tàu ngầm hạt nhân cỡ lớn ẩn náu. Sau khi bố trí tàu ngầm tên lửa đạn đạo hạt nhân 094, nâng cao thêm một bước năng lực tuần tra dưới nước sâu của hải quân Trung Quốc, hơn nữa giúp cho việc thực hiện nhiệm vụ càng trở nên an toàn. Ngoài ra, Trung Quốc đang xây dựng hoặc mở rộng khoảng 4 căn cứ hải quân, những công trình này kinh phí đều vô cùng lớn, điều đó chứng tỏ lãnh đạo Trung Quốc hết sức coi trọng việc đặt nền móng hậu cần vững chắc để ngày càng tăng cường nhiệm vụ quân sự.

Như vậy, chúng ta thấy rằng, gần đây hải quân và không quân Trung Quốc liên tiếp tiến hành tập trận tác chiến viễn hải trong khi đại hội nhân dân toàn quốc Trung Quốc bàn thảo dự luật bảo hộ hải đảo, các trang mạng Trung Quốc liên tiếp có bài về chủ quyền của Trung Quốc tại biển Đông đang bị khiêu khích cho thấy Trung Quốc đang chuẩn bị để cho những khả năng xẩy ra thay đổi tại biển Đông trong tương lai gần.

Trung Quốc đã xây dựng một loạt căn cứ quân sự tại biển Đông và Trung Quốc cũng là quốc gia duy nhất tìm cách phát triển cơ sở hải quân nước sâu để đối trọng Hoa Kỳ. Mục tiêu chính là để bảo vệ eo biển Malacca trong trường hợp xung đột và Hoa Kỳ cấm vận dầu lửa (Eo biển Malacca mang giá trị chiến lược cao vì đa phần dầu thô mà Trung Quốc nhập khẩu cho mình phải qua con đường này. Bắc Kinh lâu nay đã sợ rằng Hoa Kỳ sẽ chặn đường lưu thông qua Malacca nếu quan hệ hai bên xấu đi thí dụ về vấn đề Đài Loan hay một vấn đề nào khác). Các căn cứ ở Nam Hải và tiềm lực hải quân ngày càng mạnh của Trung Quốc cũng mang một nghị trình chiến lược khác chứ không chỉ để bảo vệ con đường hàng hải quan trọng nói trên. Chúng tạo ra một sự “khoanh vùng” của Trung Quốc bao quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giàu năng lượng.

3. Phú lân:

Trung Quốc sẽ khoan dầu ở biển Đông  vào năm 2010, chấm dứt việc tạm ngưng thăm dò nơi đang tranh chấp với Việt Nam – Đó là lời tuyên bố của 2 viên chức Tập đoàn China Petroleum & Chemical Corp, được đăng trên website RIGZONE – mạng thông tin về kỹ nghệ dầu hỏa và khí đốt hôm thứ Ba, 16/6/2009 và được báo Wall Street Journal dẫn lại ngày 17/06/2009.

Theo các tin đã dẫn, hãng Sinopec đã bắt đầu thăm dò 3 chiều điạ chấn ở vùng rộng 1.250km2 ở vùng họ đặt tên là Quỳnh Đông Nam (Qiongdongan), và công tác khoan dầu  sẽ thực hiện sau đó.

Hãng Sinopec có giấy phép từ Bắc Kinh để thăm dò hơn 8.000 km2 ở vùng này, Sinopec nói: “kể cả một số lô trong vùng biển mà VN đang tranh chấp chủ quyền. Tuy nhiên, thăm dò sẽ thực hiện ở vùng không tranh chấp”.

Theo chương trình thì hoạt động khảo sát này đã được thực hiện từ năm 2008. Nhưng chính phủ đã có lệnh trì hoãn do hoạt động thăm dò của Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc (PetroChina) có tranh chấp với Việt Nam ở khu vực bể trầm tích Tư Chính-Vũng Mây trên biển Đông. Trung Quốc đã tránh đối đầu với Việt Nam để tổ chức Đại hội Olympic.

Theo các quan chức đó cho biết, trước đó tập đoàn đã tiến hành khảo sát địa chấn hai chiều (2D) trên diện tích 8000 km23 khí gas. Theo đánh giá khảo sát và ước tính, đối với Trung Quốc đây có thể là khu vực khai thác dầu khí ngoài khơi lớn nhất. Tuy vậy nhưng lượng khai thác chỉ đạt được khoảng 30% tức khoảng 240 tỷ mét khối. và ước tích khoảng 800 tỷ m

Cho đến nay Trung Quốc chỉ có khu mỏ khai thác dầu khí Liwan, là mỏ khí gas ngoài khơi lớn nhất ước tính đạt khoảng 112 đến 168 tỷ mét khối.

Tiến sĩ Trần Vinh Dự, chuyên gia tư vấn của Tập đoàn tư vấn kinh tế ERSGroup (Mỹ) và là cố vấn của Quỹ nghiên cứu biển Đông cho biết dựa theo bản đồ đi kèm bài báo kể trên thì vùng mà Sinopec định khai thác nằm rất sát với Việt Nam và chắc chắn là chồng lấn lên vùng thềm lục địa và thềm lục địa mở rộng của Việt Nam.

Theo Tiến sĩ Trần Vinh Dự, những diễn tiến này cho thấy rằng Việt Nam đang phải đối mặt với một thực trạng nguy hiểm – không phải là nguy cơ mất các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, mà là nguy cơ đánh mất quyền kiểm soát và khai thác các nguồn tài nguyên trong các vùng biển thuộc chủ quyền của mình. Ông nói thêm rằng có một điều đáng sợ hơn nữa là dường như cho đến nay Việt Nam vẫn chưa tìm ra được một đối sách hợp lý để đáp lại những hành vi của Trung Quốc.

Đáp lại các thông tin trên, ngày 18/6/2009, ông Trương Trị Quốc, quản lý truyền thông cấp cao của Sinopec đã phát biểu trên tờ Thời báo Toàn cầu đã bác bỏ các thông tin nói trên. Tờ báo này cho biết đã gọi đến đại sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh để hỏi thông tin này nhưng chưa nhận được phúc đáp (nhưng đến chiều 18.6, website của Sinopec vẫn không đưa tin về sự kiện này, kể cả lời bác bỏ của ông Trương Trị Quốc).

Vậy Trung Quốc có kế hoạch khai thác dầu ở biển Đông hay không?

Trả lời phỏng vấn của Tân Hoa Xã bên lề phiên họp Đại Hội toàn quốc lần thứ 11 của Trung Quốc, ông Giả Thừa Tạo, nguyên phó giám đốc công ty khí Trung Quốc Sinopec đã nói rằng: “Hiện tại Trung Quốc đã có đủ khả năng về kỹ thuật để tiến hành khai thác các giếng dầu tại biển Đông, điều cần thiết hiện nay đó là sự quan tâm của Chính phủ cũng như sự ủng hộ của cơ chính sách chính phủ”, “Trung Quốc nên tăng cường các chính sách đầu tư khai thác vào các tài nguyên trên biển Đông, nhằm ‘bảo vệ’ cho lợi ích trên biển của Trung Quốc”.

Ông Trần Miễn – một giáo sư thuộc Đại học Dầu khí Trung Quốc cho biết, giá trị của lượng dầu thô trên biển Đông có thể tương đương với hơn 20.000 tỷ Nhân dân tệ. Tương lai trong vòng hai thập kỷ nữa khi khai thác được nguồn vàng đen này trên biển Đông, đó có thể sẽ là một “cống hiến” to lớn đối với GDP của Trung Quốc. Nhưng việc thăm dò các giếng dầu này tại biển Đông cần có yêu cầu kỹ thuật cao, vì rủi ro tiềm ẩn cũng không nhỏ.

Nhận định của các chuyên gia Trung Quốc, hiện tại nguồn tài nguyên của Trung Quốc đại lục là rất khan hiếm, không ít các mỏ dầu của Trung Quốc đại lục đã được khai thác từ ba thập niên qua, cũng sắp rơi vào thời kỳ thoái trào. Vì vậy mà, “ngành năng lượng của Trung Quốc cần dựa vào biển”.

Trong mọi vấn đề Trung Quốc thường có những suy tính sâu xa. Việc có hay không có dầu ở biển Đông và kỹ thuật của Trung Quốc có cho phép họ khai thác dầu ở biển Đông hay không, chắc chưa phải là điều quan trọng bậc nhất. Trong tất cả những động thái kiểu như thế này của người Trung Quốc, thì cái đích mà họ muốn nhắm tới là việc “từng bước gieo vào lòng người dân cũng như dư luận thế giới một cảm giác coi biển Đông là sở hữu của riêng họ”, bất chấp những sự thực hiển nhiên là Trung Quốc hiện vẫn đang xâm phạm chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam!

Trên tạp chí Journal of Energy Security, tức Tạp chí An ninh năng lượng, bài viết nhan đề “China’s Oil Supply Dependence” (Tình hình lệ thuộc nguồn dầu của TQ) đăng ngày 18/06/2009 của tác giả David L.O. Hayward cho biết rằng sẽ dễ dàng xảy ra tình hình Trung Quốc sử dụng sức mạnh quân sự để chiếm các nguồn dầu.

David L. O. Hayward là phân tích gia quốc phòng của Royal United Services Institute (RUSI) of Australia Inc., tại Canberra, Australia. Nơi các đoạn cuối bài viết, là tóm lược các nhận xét như sau:

Các công ty dầu Trung Quốc đã đầu tư vào các liên doanh ở hơn 20 quốc gia tại Bắc Phi, Trung Á, Đông Nam Á, Mỹ Latin và Bắc Mỹ. Tổng lượng đầu tư này, gồm các khoản mua ào ạt các mỏ dầu và khí và các công ty dầu khí toàn cầu, ước tính dè dặt là 40 tỉ USD, “nhưng con số thực nhiều phần sẽ cao hơn”.

Tại sao Trung Quốc phải đi mua tài nguyên dầu khí ào ạt như thế? Hayward đưa ra các lý do sau, không nhất thiết ghi theo thứ tự ưu tiên.

Thứ nhất, Trung Quốc muốn tiếp tục làm vai trò cơ xưởng khổng lồ sản xuất hàng tiêu dùng, vừa nâng tiêu chuẩn sống của dân và vừa đáp ứng nhu cầu nội địa. Trung Quốc có thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới, tới hơn 1.3 tỉ khách hàng.

Thứ nhì, Trung Quốc muốn tiếp tục xuất cảng ào ạt sản phẩm ra toàn cầu, để tiếp tục đóng vai nước xuất cảng hàng đầu thế giới và chiếm thị trường.

Thứ ba, Trung Quốc muốn tự quân bình kinh tế và ước mơ tăng sức phát triển.

Thứ tư, Trung Quốc tự xem Trung Quốc như lãnh đạo của trật tự kinh tế thế giới mới, để sẽ trở thành nền kinh tế hàng đầu vào năm 2020-2030, và sẽ chiếm vị trí khống chế về tình hình thế giới và địa-chính trị, tương lai phải khống chế phương Tây.

Thứ năm, với trữ lượng ngoại hối 1,95 ngàn tỷ USD, Trung Quốc sẽ không bao giờ còn có cơ hội vàng khác nữa để mua các nguồn dầu khí và tài nguyên mỏ khác của thế giới với giá rẻ như hiện nay.Và bây giờ, thực tế là Ngân hàng nhân dân Trung Quốc gần như trở thành thực tiễn là ngân hàng thế giới và là “thách thức nghiêm trọng đối với Quỹ Tiền tệ quốc tế- IMF, đối với đồng Mỹ kim của khối Ả Rập có nhờ bán dầu, và đối với các định chế tài chánh ngoài Trung Quốc”. Trị giá thấp giả tạo của đồng Yuan đã giúp Trung Quốc mau chóng gom đô la vào kho ngoại hối. Thế này, các nước Âu-Mỹ đã bị Trung Quốc phục kích về tài chính rồi.

Thứ sáu, Trung Quốc đi mua ào ạt tài nguyên dầu khí và các mỏ khác bởi vì tài nguyên thế giới có lúc phải cạn.

Thứ bảy, Trung Quốc muốn tăng lượng dầu dự trữ chiến lược. Giai đoạn đầu tiên của kho trữ dầu chiến lược Trung Quốc sẽ hoàn tất năm 2009, sẽ trữ 100 triệu thùng (barrels) dầu (m/bo). Giai đoạn thường niên thứ nhì dự kiến là giữ 200 m/bo, và tăng dần để trữ lượng vượt quá 500 m/bo khoảng sau năm 2013. Trữ được dầu như thế, Trung Quốc có khả năng mở các cuộc chiến tranh quy ước truyền thống mà không cần sử dụng tới vũ khí nguyên tử hay các vũ khí hủy diệt tập thể. Như thế, các nước phương Tây kể như bất lợi về chiến thuật và có thể sẽ buộc phải dùng vù khí nguyên tử trước nhằm ngăn cản bước tiến Trung Quốc.

Thứ tám, Trung Quốc có chương trình tăng tốc quân sự, hiện đại hóa quân đội và thiết lập hải quân vùng biển nước xanh (biển xa bờ) nhằm bảo vệ các tuyến đường biển chở dầu khí về Trung Quốc. Hoa Kỳ nói chương trình này của Trung Quốc trong bản chất có tính tự vệ, nhưng nhiều học giả không đồng ý về bản chất “hiếu hòa” này.

Đoạn cuối của bản nghiên cứu của tác giả Hayward viết: “Lịch sử đôi khi cho thấy rằng các nước thường dự trữ dầu khí (và các tài nguyên năng lượng khác) nhằm sửa soạn các cuộc chiến khu vực và các xung đột có thể có với các nước đối thủ và các nước kình nhau cũng đang đói năng lượng. Trong bầu không khí ngày càng tệ hại, với khủng hoảng tài chánh tiếp diễn, với ngày càng cạn dần nguồn dầu, khả năng xảy ra cuộc chạm trán quân sự trong thế kỷ 21-22 trong đó dầu có thể đóng một vai đã tăng cao hơn nhiều.”

Có một chi tiết cần quan tâm, ngày 23/6/2009, Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc loan báo hiện nay, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đang xem xét dự án Luật Bảo vệ hải đảo. Trong dự án luật lần đầu tiên đưa ra xem xét này, có các nội dung như giải quyết vấn đề chủ quyền không rõ của hải đảo không có người ở, nghiêm khắc bảo vệ các tài nguyên bãi cát, giống sinh vật, thảm thực vật, nước ngọt hải đảo, nêu rõ nhà nước sẽ sắp xếp ngân sách chuyên môn bảo vệ hải đảo, xây dựng chế độ tuần tra bảo vệ sinh thái hải đảo. Bộ luật này bước vào trình tự lập pháp, đánh dấu là nước biển lớn, Trung Quốc sẽ lập pháp tăng cường bảo vệ nguồn hải đảo.

Một trong những nội dung quan tâm nhất của dự án luật, là đã giải quyết vấn đề chủ quyền không rõ của hải đảo không có người ở. Dự án luật quy định rõ ràng, quyền sở hữu hải đảo không có người ở là thuộc về nhà nước, Quốc vụ viện thay mặt nhà nước thi hành quyền sở hữu hải đảo không có người ở. Điều này sẽ giải quyết vấn đề trước đây một số đơn vị và cá nhân coi hải đảo không có người ở là “đất không có chủ”, tuỳ ý chiếm dụng, sử dụng, mua bán và chuyển nhượng…

Kết luận:

Nước thì xa mà lửa thì gần, xem ra làm chư hầu của Trung Quốc thì dễ, chứ còn làm láng giềng tốt thì rất khó. Chúng ta hãy nhớ câu nói nổi tiếng của Julius Fucík, tác giả của tác phẩm bất hủ “Viết dưới giá treo cổ”: “Hỡi nhân loại, tôi yêu tất cả mọi người… hãy cảnh giác!”.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 34. TAM GIÁC TRUNG QUỐC-ĐÀI LOAN-PHILIPPINES TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Posted by anhbahoa on November 28, 2009

Bài 34

TAM GIÁC TRUNG QUỐC-ĐÀI LOAN-PHILIPPINES

TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Đinh Kim Phúc

20/9/2009

TRUNG QUỐC-PHILIPPINES

Sự phản ứng của sinh viên Việt Nam về cái gọi là “Tam Sa” của Trung Quốc vào trung tuần tháng 12 năm 2007 đã đưa Bắc Kinh phản ứng bằng hành động cụ thể; thay vì hạ giọng về vụ việc, Tần Cương, phát ngôn viên bộ ngoại giao đã trách cứ: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi trên các đảo ở biển Nam Trung Hoa”. Tiếng phản đối nổi lên từ hai phía vì Biển Đông lưu giữ một trong những điểm gây chú ý của khu vực. Điều mà hầu hết nhà quan sát không nhận ra là trong vài năm gần đây, những nỗ lực hợp tác trong khu vực nhằm ve vãn để Trung Quốc có lập trường rõ ràng hơn đã bị thất bại bởi một trong những phía kình địch trong tranh chấp các đảo ở quần đảo Trường Sa: đó là Philippines.

Chuyến đi vội vã của Tổng thống Philippine Gloria Macapagal Arroyo tới Trung Quốc cuối năm 2004 đã cho thấy một ngạc nhiên lớn. Trong hàng loạt những thỏa thuận được ký mang tính hình thức giữa hai nước Trung Quốc và Philippines là một bản cho phép các công ty dầu khí nhà nước của họ được quản lý một hoạt động hợp tác cùng nghiên cứu địa chấn trong vùng biển Đông đang có những tranh chấp, một tương lai đáng quan ngại cho các vùng lãnh thổ Đông Nam Á.

Khi hiệp định được ký kết ngày 1/9/2004, chính phủ Philippines nói rằng việc nghiên cứu khảo sát chung sẽ “thu thập và xử lý tiến trình địa tầng học, kiến tạo học, kết cấu địa chất…và sẽ không sản xuất và khai thác nguồn dầu tại đây nhưng 2 nước không công khai về nội dung trong “Hiệp định về khảo sát các khu vực chắc chắn trong khu vực biển Nam Trung Hoa giữa China National Offshore Oil Corporation (CNOOC) và Philippines National Oil Company (PNOC)”. Và không ai ngờ rằng cho đến khi các báo đài loan tin rằng CNOOC và PNOC đã ký một thư thỏa thuận về việc tìm kiếm dầu và khí gas.

Việt Nam là nước phản đối gay gắt nhất hiệp định này. Tuy nhiên, trong vòng 6 tháng, Việt Nam đã từ bỏ những phản đối của mình và lao vào cuộc mạo hiểm, dẫn tới một mối liên minh tay ba và được thảo luận trong vòng bí mật.

Trong sự thiếu vắng những bước tiến bộ hướng tới giải quyết những tranh chấp phức tạp về lãnh thổ và chủ quyền trên vùng biển Đông, cái khái niệm cùng phát triển có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Ý tưởng hoàn toàn đơn giản: tạm thời xếp lại những yêu sách về chủ quyền và thiết lập những khu vực cùng phát triển nhằm chia sẻ hoạt động đánh bắt hải sản trên biển, khai thác dầu khí và những nguồn lợi khác. Thỏa thuận giữa Trung Quốc, Philippines và Việt Nam, ba trong sáu chính phủ của những nước có những xung đột yêu sách, được nhìn nhận như là một bước đi đúng đắn và một khuôn mẫu hợp lý cho tương lai.

Nhưng theo như những chi tiết trong cam kết đang nảy sinh, nó bắt đầu tỏ ra chẳng giống với những gì đáng lẽ sẽ diễn ra. Khởi đầu, chính quyền Philippines đã phá vỡ trật tự thứ bậc với các nước ASEAN, theo đó việc cư xử với Trung Quốc là như với một khối trong vấn đề Biển Đông. Philippines còn có một nhượng bộ ngoạn mục bằng việc chấp nhận việc nghiên cứu ở vùng biển này, bao gồm cả những vùng thềm lục địa của họ mà không cần đòi hỏi gì ở Trung Quốc và Việt Nam. Qua những hành động này, Manila đã trao một xác nhận hợp pháp nhất định cho cái “yêu sách mang tính lịch sử” không xác thực về pháp lý của Trung Quốc đối với hầu hết vùng Biển Đông.

Mặc dù Biển Đông tương đối yên bình trong thập kỷ qua, song nó vẫn là một trong những ngòi nổ tiềm tàng ở Đông Nam Á. Quần đảo Hoàng Sa trong vùng Tây Bắc được cả Việt Nam và Trung Quốc lên tiếng nhận chủ quyền, trong khi các đảo thuộc Trường Sa ở phía Nam được nhận chủ quyền hoặc bị kiểm soát hoàn toàn bởi Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Maylaysia và Brunei. Tất cả, ngoại trừ Brunei, có những đòi hỏi nhất định đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là những nơi có sự chồng lấn lên phần của nước láng giềng, các đơn vị quân đội đồn trú trên các đảo đá thấp nhỏ nằm rải rác thuộc Trường Sa.

Sau khi những công trình của Trung Quốc được mở rộng bị phát hiện năm 1995 trên đảo Bãi Đá Vàng Khăn, trên vùng thềm lục địa của Philippines và cả bên trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippines, ASEAN đã thuyết phục Trung Quốc từ bỏ quan điểm dứt khoát của họ để “quốc tế hóa” vấn đề Biển Đông. Thay vì khăng khăng chỉ thảo luận song phương với những nước có yêu sách của mình, Trung Quốc đã đồng ý ứng xử với Asean như là một nhóm nước trong giải quyết vụ việc. Rodolfo Severino, cựu tổng thứ ký ASEAN, đã ca ngợi “sự đoàn kết và hợp tác của ASEAN trong việc giải quyết mối quan tâm sống còn tới an ninh khu vực.”

Tuy nhiên, ASEAN và Trung Quốc đã thất bại trong những nỗ lực thiết lập một quy tắc ứng xử. Trong “Bản Tuyên bố về Ứng xử giữa các bên trên Biển Nam Trung Hoa,” được ký năm 2002, họ hứa giải quyết những bất đồng về lãnh thổ một cách hòa bình và đảm bảo kiềm chế trong mọi hành động có thể bùng nổ xung đột. Song bản tuyên bố quá lỏng lẻo. Một tuyên bố diễn giải mang tính chính trị, chẳng có quy chuẩn pháp lý ràng buộc, nó không xác định rõ giới hạn địa lý và, tối đa, cần có một bước quá độ.

Kể từ khi bản tuyên bố được công bố, vấn đề Biển Đông ít được tôn trọng. Với các nước ASEAN được hưởng lợi từ nền kinh tế đang bùng nổ và phát triến nhanh nhờ thỏa thuận tự do mậu dịch của Trung quốc, các nhà lãnh đạo chính trị ở Đông Nam Á hồ hởi mà quên đi vấn đề đặc biệt của những quan ngại đã từng làm hỏng mối quan hệ của họ với Bắc Kinh. Tuy nhiên, chẳng có cuộc tranh cãi nhiều bên nào được giải quyết, không giải pháp kỹ thuật nào có được để tránh hoặc xử lý những xung đột. Với tình trạng không có kế hoạch thảo luận ngay cả vấn đề chủ quyền trên các hòn đảo đang gây tranh cãi, các bên yêu sách giờ đây chấp nhận rằng cần có vài chục năm nữa, thậm chí vài thế hệ, trước khi các mâu thuẫn yêu sách được hóa giải.

Va chạm được cho là có khả năng tăng lên trong khi nhu cầu về năng lượng của Trung Quốc và sự lớn mạnh về kinh tế của Đông Nam Á và họ gia tăng tìm kiếm dầu, khí gas. Trong khi trữ lượng dầu khí trong vùng Biển Đông là chưa được xác định, mối hy vọng rằng có trữ lượng lớn làm cho mối quan tâm thêm mạnh mẽ. Trong khi giá dầu thế giới đạt tới mức kỷ lục, việc phát hiện ra trữ lượng đảm bảo tính thương mại sẽ càng kích động những căng thẳng và “làm biến chuyển tình hình an ninh” trong vùng quần đảo Trường Sa, theo như nhận xét của Ralf Emmers, một giáo sư trợ giảng của Trường S.Rajaratman thuộc Viện nghiên cứu Quốc tế Singapore.

Thỏa thuận của Tổng thống Arryo với Trung Quốc trong việc cùng nghiên cứu địa chấn đã gây tranh cãi trước một số nguyên tắc đối xử bình đẳng. Với nguyên tắc tham khảo trước các thành viên khác trong ASEAN, Philippines đã bỏ qua lập trường chung là chiếc chìa khóa cho thắng lợi của nhóm trước Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông. Mỉa mai thay, đây lại là nỗ lực đầu tiên của Manila trong việc tìm kiếm sự đoàn kết và một liên minh ASEAN để kiềm chế Trung Quốc trong việc xâm phạm vùng đảo Vành Khăn một thập niên trước. Bán một kế hoạch hành động bởi những chính khách có những mối liên hệ làm ăn, người đã có những thỏa thuận khác đang thực hiện với Bắc Kinh, bà Arroyo không thể tìm ra được đường lối cho bộ ngoại giao của bà, và khi các giới chức ngoại giao Philippines phản đối, mọi thứ trở nên quá muộn.

Các nhà ngoại giao Philippines cảnh báo Arroyo rằng việc phát triển chung có thành công ở mức độ nào đi chăng nữa thì việc hy vọng Trung Quốc nhân nhượng là điều khó có thể. Trung Quốc sẽ thống trị trong việc khai thác chung và điều này sẽ gây ảnh hưởng đến các mối quan hệ trong ASEAN.

Mark Valencia, một chuyên gia về biển Đông nhận xét về thái độ của Philippines trong vấn đề biển Đông: “Bây giờ các chi tiết bị lộ ra do các hoạt động nghiên cứu và có tin nói rằng đây là sự bán rẻ một phần lãnh hải của Philippines” bởi vì một khu vực rộng lớn nằm ngoài khơi Palawan ở miền Nam Philippines, ép vào Trường Sa và tiếp giáp Malampaya có một mỏ sản xuất khí gas của Philippines đó là một trong sáu khu vực, khu vực gần nhất với bờ biển Philippines là nắm ngoài tuyên bố của Trung Quốc và Việt Nam. Mark Valencia nhấn mạnh: “Có lẽ vì mục đích chính trị cao hơn, cho nên Philippines đã đồng ý để cho các cuộc nghiên cứu khảo sát thậm chí kể cả những khu vực mà Việt Nam và Trung Quốc không tuyên bố chủ quyền”.

Đây là một điều nguy hiểm, trong trường hợp Trung Quốc, họ tuyên bố vùng lãnh hải của họ như hình lưỡi bò và bao trùm lấy toàn bộ vùng biển Đông và tuyên bố khu vực này là hợp pháp đối với họ và luật pháp quốc tế không có nghĩa gì ở đây. Có thể nói rằng tổng thống Philippines Arroyo gọi đây là một đột phá ngoại giao mang tính lịch sử vì hòa bình và an ninh khu vực là một ảo tưởng.

Hiện nay Trung Quốc đã tiếp cận Malaysia và Bruney một cách riêng rẽ, đề nghị về những thỏa thuận tương tự. Nếu điều này được xác nhận thì Trung Quốc sẽ xuyên thủng toàn bộ khu vực Đông Nam Á và những tuyên bố của các quốc gia Đông Nam Á. Trung Quốc sẽ giành quyền khai thác toàn bộ khu vực biển Đông. Và với thắng lợi mang tính lịch sử này, Trung Quốc sẽ ghi đậm dấu ấn lịch sử trong biển Đông vào đầu thế kỷ 21.

Theo bản tin AFP ngày 29/2/2008 Philippines đang nâng cấp những cơ sở quân sự trên đảo Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa. Đại tướng Pedrito Cadungog Tư lệnh Không quân Philippines nói rằng bãi đáp phi cơ ở đảo Kalayaan, là hòn đảo lớn nhất trong những hòn đảo hiện được quân đội Philippines chiếm đóng, sẽ được làm dài ra và sửa sang lại để bảo đảm cho máy bay vận tải loại C-130 có thể tiếp tục hạ cánh ở đó.

Ông cũng nói thêm là những khu gia binh dành cho binh lính cũng sẽ được tân trang, nâng cấp.

Theo Đại tướng Cadungog, hiện tại, quân đội Philippines vốn được trang bị nghèo nàn không thể bảo vệ được những gì mà Philippines cho là của mình. Tuy nhiên, những sự nâng cấp trên đảo Trường Sa này không nên xem như là một sự tăng cường dần lực lượng quân sự.

Trước đó, theo đài GMANews.TV ngày 30/1/2008, Đổng lý Văn phòng Tổng thống phủ Eduardo Ermita của Philippines ngày 23/1/ 2008 cho hay là ông đã chỉ thị cho Bộ Ngoại giao điều tra để xác minh tính xác thực của một báo cáo cho rằng chính phủ Đài Loan đã xây dựng một cơ sở gồm cả một phi đạo trên một đảo trong quần đảo Trường Sa (đảo Ba Bình) đang còn tranh chấp .Ông Ermita nói rằng ông chưa nhận được tin tức gì hay báo cáo gì về chuyện cơ sở Đài Loan này nhưng ông sẽ yêu cầu Bộ Ngoại giao kiểm chứng điều này và xác định chuyện này sẽ ảnh hưởng đến những đòi hỏi chủ quyền trên những quần đảo hiện nay sẽ xảy ra như thế nào.

“Chúng tôi sẽ yêu cầu DFA cho chúng tôi biết họ nghĩ gì về chuyện này và đề nghị chúng tôi sẽ đáp ứng như thế nào,” Ermita nói.

Ermita nói thêm rằng, theo ông biết, hiện đang có một thoả thuận giữa Philippines, Việt Nam và Trung Quốc về việc khai thác và phát triển (dầu khí) ở vùng đảo Trường Sa. Thỏa thuận chung này cấm những hoạt động trong quần đảo này mà không thông báo cho các nước khác biết trước.

Ông Ermita nói rằng điều quan trọng là “có một sự thỏa thuận cấp quốc gia giữa ba nước.”

Được hỏi sự thỏa thuận này sẽ ảnh hưởng Đài Loan như thế nào, vì Trung Quốc vốn cho Đài Loan là một tỉnh ly khai của mình, và Đài Loan không là một quốc gia đứng ra ký sự thỏa thuận này, ông Ermita cho hay: “Chúng tôi có chính sách một Trung Quốc, cho nên chúng tôi chỉ biết làm việc với một chính phủ đó là chính phủ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên phương diện này.”

Được biết, Đài Loan đã bắt đầu xây dựng một phi đạo dài 1.150 mét vào khoảng giữa năm 2006 ở đảo Ba Bình, là hòn đảo lớn nhất trong quần đảo Hoàng Sa. Cả Bộ Quốc phòng và Ngoại giao của Đài Loan đều thông báo rằng việc xây dựng phi đạo này gần như hoàn tất. Máy bay quân sự của Đài Loan C-130 đã đáp xuống phi đạo này vào đầu tháng 1 năm 2008 để chuẩn bị cho chuyến viếng thăm hòn đảo này của Tổng thống Đài Loan Trần Thủy Biển ngày 22/1/2008.

Còn theo bản tin của hãng thông tấn AP đánh đi từ Manila ngày 24/3/2008, Tham mưu trưởng quân đội Philippines, Đại tướng Hermogenes Esperon cho biết ông đã bị bà Arroyo khiển trách khi ông báo cáo là chuẩn bị đến thăm dãy đảo Kalayaan (Trường Sa). Theo lời tướng Hermogenes Esperon, bà Arroyo, Tổng thống Philippines nói rằng bà rất muốn đến thăm các đảo này trong tương lai gần đây.

Nhưng theo tờ The Philippine Star ngày 26/3/2008, trích lời Chưởng lý Eduardo Ermita nói bà Arroyo “không tới”quần đảo mà Philippines gọi là Kalayaan Island Group (KIG) tuy tái khẳng định chủ quyền của Philippines với quần đảo này.

Theo ông Ermita cho biết, vào tháng 12 năm 2007, tổng thống Philippines đã cấp 50 triệu peso cho Ủy ban về Hàng hải và Hải dương học (CMOA) để nghiên cứu tổng hợp dữ liệu chuyển cho LHQ khẳng định chủ quyền của Philippines trước ngày 13/5/2009.

Từ giữa tháng 2/2008 đến nay, một làn sóng của phe đối lập đòi bà Arroyo từ chức bởi theo các lời cáo buộc, chồng bà Arroyo đã gây áp lực để Tập đoàn viễn thông ZTE Trung Quốc( China’s ZTE Corp.) trúng thầu dự án xây dựng mạng lưới internet cho các cơ quan trong chính phủ Philippines trị giá 329 triệu USD và phe đảng của Arroyo đã nhận hơn 100 triệu USD ( luật sư Jose Miguel Arroyo, đồng minh thân cận của tổng thống Arroyo cũng bị nghi dính líu tới scandal này). Phe đối lập còn cáo buộc, khi Trung Quốc lập huyện Tam Sa trên vùng đảo tranh chấp giữa các nước trong khu vực, tổng thống Arroyo và chính phủ Philippines gần như hoàn toàn im tiếng vì đã nhận món tiền hối lộ này.

Những động thái gần đây ở Philippines về vấn đề biển Đông là do sự lo ngại ngày càng tăng của các nhà lập pháp Philippines cho rằng chính phủ Philippines đã không bảo vệ được các lợi ích của nước này trước sự lấn chiếm của một vài nước láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc.

Theo các nhà lập pháp Philippines, ba nước Trung Quốc, Philippines và Việt Nam đã ký một thỏa thuận cùng nhau nghiên cứu địa chấn trong thời gian 3 năm (sẽ kết thúc vào tháng 6 năm 2008) và tìm hiểu trữ lượng dầu lửa – khí đốt ở Biển Đông. Tuy nhiên, thỏa thuận này có vẻ như bao trùm cả các khu vực nằm trong lãnh hải Philippines. Báo chí Philippines quy kết rằng kết cục đó là do tác động từ các khoản tín dụng mà Trung Quốc đầu tư vào các dự án ở Philippines, với giá thành cao bất thường và theo điều trần của các nhân chứng trước Thượng viện thì các quan chức đã nhận được các khoản tiền lại quả khổng lồ từ các dự án đó.

Chính phủ Philippines đã từ chối công bố thỏa thuận ba bên và bác bỏ mọi sai lầm. Thỏa thuận này được ký năm 2004 giữa hai tập đoàn dầu lửa quốc gia của Philippines và Trung Quốc là Philippines National Oil Corp và China National Offshore Oil Corp. Năm 2005, tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam tham gia thỏa thuận, trong khi đó các bên tranh chấp chủ quyền khác như Đài Loan, Malaysia và Brunei không tham gia.

Thỏa thuận cùng nghiên cứu địa chấn ra đời sau khi 10 nước thành viên ASEAN và Trung Quốc đạt được thỏa thuận năm 2002 về việc ngăn ngừa bùng nổ xung đột do tranh chấp chủ quyền Trường Sa. Thỏa thuận này nêu rõ “các bên có thể cùng nhau tiến hành các hoạt động chung cho tới khi tìm được một giải pháp giải quyết tranh chấp”.

Tuy nhiên, đầu tháng 3 năm 2008, Trung Quốc đã bày tỏ lo ngại tranh cãi chủ quyền có thể làm tổn hại các quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc với Philippines.

Có thông tin cho rằng Philippines sẽ sớm thông qua luật đưa Trường Sa vào bản đồ quốc gia. Tờ Nhân Dân Nhật Báo và Bản tin tham khảo đặc biệt của Tân Hoa Xã (Trung Quốc) ngày 17.3.2008 dẫn nguồn tin từ Manila cho biết một quan chức cấp cao Philippines vào ngày 15.3.2008 đã xác nhận rằng Hạ viện Philippines dự định thông qua một dự luật nhằm “kéo dài bản đồ nước này ra tới quần đảo Nam Sa ở biển Nam Trung Hoa”. Tổng thống Gloria Arroyo đã coi việc này là một ưu tiên và phía Philippines dự định thông qua dự luật này vào trước tháng 5 năm 2009, thời hạn mà Công ước Luật biển Liên Hợp Quốc yêu cầu phải đưa ra tuyên bố về đường cơ sở lãnh hải.

Dự luật mang số hiệu House Bill 3216 này sẽ sửa đổi “Pháp lệnh nước Cộng hòa số 3046 của Philippines, để mở rộng đường cơ sở quần đảo Philippin ra đến quần đảo Nam Sa”(Trường Sa). Dự luật này đã trải qua vòng xem xét thứ hai tại Hạ viện vào tháng 12 năm 2007, và dự định vượt qua vòng xem xét thứ ba và là vòng cuối cùng vào giữa tháng 3 năm 2008. Song, phía Trung Quốc đã có hành động ngăn cản việc này, bằng cách gửi một “Thư lập trường” tới Bộ Ngoại giao Philippines “nêu lại lập trường về chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Nam Sa”. Một quan chức Bộ Ngoại giao Philippines nói: “Đây có thể coi như một sự kháng nghị nhẹ nhàng”, nhưng ông ta nói thêm rằng Bắc Kinh chưa từng gây sức ép đối với Manila để đòi Hạ viện Philippines rút bỏ dự luật trên”.

Người đưa ra dự luật này là Hạ nghị sĩ Kunkeshao trước đó đã cho báo chí biết rằng do sức ép từ phía Trung Quốc nên dự luật này đã gặp phải trở ngại tại Quốc hội Philippines.

Theo giới chức Philippines, nước này cần phải thông qua dự luật trên, nếu không có thể bị mất vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí theo Công ước Luật biển Liên Hợp Quốc.

TRUNG QUỐC-ĐÀI LOAN

Tổng thống Đài Loan Trần Thủy Biển đã khuấy động dư luận tại quần đảo Trường Sa trên Biển Đông bằng chuyến thăm của ông nhằm khẳng định chủ quyền về vùng đảo vào đầu tháng 2 năm 2008. Cả Đài Loan và Trung Quốc đều khẳng định chủ quyền hợp pháp đối với quần đảo Trường Sa.

Vậy mà chuyến thăm của ông đã được phụ hoạ bằng kế hoạch cùng nghiên cứu và thực hiện các công việc khác trong tương lai bởi các bên đang yêu sách về vùng đảo, tuy nhiên chuyện đó còn những khó khăn cho việc thực hiện do những lý do ngoại giao, nhấn mạnh tới một lợi ích quan trọng trong sự dính líu của Đài Loan tại khu vực – nó thực sự khẳng định sự hiện diện của Đài Loan giữa các láng giềng quanh vùng biển Đông Nam Á và Trung Quốc.

Các nước láng giềng, bao gồm Việt Nam, Đài Loan và Trung Quốc có những tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa ở phía Bắc Biển Đông; Việt Nam, Đài Loan, Brunei, Philippines, Malaysia và Trung Quốc có những tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa tại phía Nam.

Đảo Ba Bình (Taiping-Itu Aba) – đảo lớn nhất thuộc các đảo của Trường Sa (0,18 dặm vuông) và cách Đài Loan khoảng 1000 dặm về phía tây nam – cùng với quần đảo Trung Sa (Tungsha-Pratas) – cách Đài Loan khoảng 260 dặm về phía tây nam – nằm dưới sự kiểm soát của Đài Loan từ năm 1956 với sự hiện diện về quân sự, điều kiện thuận lợi và các đơn vị hành chính nhằm bảo vệ cho những tuyên bố về lãnh thổ của mình.

Vào ngày 2/2/2008, Tổng thống Trần Thủy Biển đã đáp chuyến phi cơ vận tải Quân sự C-130 và – là lần đầu tiên một tổng thống Đài Loan – đáp xuống Đảo Ba Bình, được nối tiếp bởi một chuyến thị sát tới đảo Trung Sa vào ngày 10/2/2008, là chuyến đi thứ ba thuộc loại đó của Trần Thủy Biển kể từ khi nhậm chức năm 2000. Các bên khác có yêu sách chủ quyền với Trường Sa đã tuyên bố quan ngại của mình trước việc Đài Loan chủ động cho xây dựng một đường băng với đường dẫn bằng bê tông dài 3.800 bộ, rộng 100 bộ trên đảo Ba Bình, bắt đầu vào năm 2005.

Đài Loan quả quyết rằng đường băng là để bổ sung thêm cho các điều kiện canh gác bờ biển trên đảo trong tình huống khẩn cấp và các hoạt động cấp cứu nhân đạo. Các nhà sinh thái và một số nhà lập pháp của đảng đối lập Trung Hoa Dân quốc [Kuomingtang-KMT] đã chỉ trích kế hoạch của chính phủ trong việc xây dựng đường băng trên Đảo Ba Bình, trong khi những người đề xướng cho việc này lập luận rằng nó sẽ tăng cường cho sự khẳng định chủ quyền từ lâu của Đài Loan đối với những hải phận bị tranh chấp và yêu sách hợp pháp đối với chủ quyền lãnh hải.

Đài Loan là một trong những quốc gia đòi chủ quyền đã thiết lập lần đầu tiên một sự hiện diện quân sự và sử dụng quyền pháp lý hữu hiệu trên quần đảo Trường Sa kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2.Trung Quốc, kẻ chậm chân trong cuộc đua tranh đảo này, đã khởi động cuộc chiếm đóng của mình trên đảo Đá Chữ Thập [Yongshu Jiao-Fiery Cross] năm 1988.

Trong mấy thập niên, các học giả và nhà nghiên cứu Trung Quốc đã phát biểu ý kiến không chính thức đánh giá cao Đài Loan trong việc bảo vệ Đảo Ba Bình bằng cách duy trì hoạt động tuần tra liên tục trên Biển Đông trước khi Bắc Kinh đặt bước chân đầu tiền của mình lên Trường Sa. Tuy nhiên, việc quản lý của Đài Loan qua chính sách của họ đối với vùng Biển Đông không hề gây ấn tượng mạnh.

Chính sách của Đài Loan đối với vùng Biển Đông từ những năm 1970 đến 1990 có thể được diễn tả như là một sự tự kiềm chế và ôn hòa. Khi những đảo đã được chính quyền Đài Loan tuyên bố chủ quyền bị xâm chiếm bởi các nước đòi chủ quyền khác, thì Đài Loan đã không có những động thái quân sự cụ thể mà chỉ đơn giản đưa ra những công hàm ngoại giao để kháng nghị về hành động xâm phạm vào lãnh thổ của mình.

So sánh với đường băng được Việt Nam xây dựng trên Đảo Nam Yết, của Malaysia trên Đảo Đá Hoa Lau và Philippines trên Đảo Chungye Dao, Đài Loan và Trung Quốc là hai nước duy nhất đòi chủ quyền nhưng không duy trì đường băng tại Trường Sa cho tới năm 2007. Đài Loan đã không tăng cường khả năng quân sự của mình trên Đảo Ba Bình cho tới khi Trung Quốc và Việt Nam đã làm việc này từ năm 1988, năm mà Trung Quốc xâm lược Trường Sa bằng một trận đánh với hải quân Việt Nam.

Trong hai năm 1999-2000, Đài Loan đã gây ngạc nhiên cho nhiều nước khi tuyên bố rằng họ đã giảm bớt sự hiện diện về quân sự trên đảo Ba Bình và Paratas Island. Vào lúc cao điểm, số quân sĩ trú đóng đạt tới 500. Tháng 2 năm 2000, quyền quản lý các đảo này được chuyển từ Bộ Quốc Phòng sang Cơ quan Tuần Duyên. Sau đó, Đài Loan cũng đã giảm bớt số lượng tàu thuyền trú đóng trong vùng quần đảo này, nhưng lại tăng thêm một số nhân sự bảo vệ bờ biển để giải quyết những xung đột đánh bắt hải sản trong vùng biển quanh đó và đánh giá tình hình bố phòng an toàn ở đây.

Đài Loan vẫn duy trì và hoạt động lực lượng không quân và vũ khí hạng nặng của mình tại vùng đảo này, mặc dù chỉ có 10 binh sĩ trú đóng trên đảo – cộng với 190 nhân sự canh phòng duyên hải – so với 90 của Malaysia, 100 của Philippines, 600 của Trung Quốc và 2000 của Việt Nam. Động thái của Đài Loan giảm bớt số quân trên các đảo không phải để đáp lại các bên đòi chủ quyền ở đây, những nước đã không biểu lộ chút thiện ý nào để bước tới cùng với Đài Loan tìm kiếm một cách giải quyết hòa bình cho khu vực.

Trái với cái ý niệm sai lầm được Trung Quốc theo đuổi rằng Đài Loan đang gặp khó khăn và đã trả giá cho việc đòi hỏi chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này với Trung Quốc hay với ASEAN cốt để khẳng định vị trí của Đài Loan chỉ như một tỉnh của mình, những động thái có tính chiến thuật của Đài Loan chủ yếu vì sự thiếu vắng một chiến lược tổng quát đối với vùng Biển Đông và một cấu trúc phòng thủ hợp lý. Các nhà phân tích an ninh quốc phòng ở tất cả các cấp đã phê phán quyết định của chính phủ và tha thiết hối thúc chính phủ Đài Loan hãy tái kiểm chính sách rõ ràng đã sai lầm của họ.

Việc xây dựng một đường băng nhằm làm bệ đỡ cho tuyên bố chủ quyền của Đài Loan và sự chiếm đóng có hiệu quả tại Đảo Ba Bình về lâu về dài là một dự án ưu tiên theo nhìn nhận của các nhà phân tích an ninh tại Đài Loan. Tổng thống Trần Thủy Biển lần đầu tiên nên lên ý tưởng ghi dấu Đài Loan như là một quốc gia trên biển vào năm 2000, mặc dù tiêu điểm chính của ông không phải là Biển Đông mà là mối quan hệ với Trung Quốc qua Eo Biển Đài Loan.

Chỉ sau khi Trần Thủy Biển tái cử vào năm 2004 và việc đưa ra bản Báo cáo về An ninh Quốc gia năm 2006, chính quyền của Đảng Dân Tiến (DPP) mới bắt đầu nhấn mạnh tới sự quan trọng của những lợi ích trên biển, vấn đề được coi như là một trong những mối quan ngại to lớn về an ninh mà quốc gia này phải đối mặt.

Bản báo cáo thúc giục chính phủ nâng cao vị thế đối với những quyết nghị về các vấn đề trên biển – chế biến và “tận dụng các nguồn tài nguyên biển cho sự phát triển lâu dài, phối hợp hành động cùng các quốc gia dân chủ trên vùng biển, và cùng nhau đáp trả những thách thức trên biển”. Thế rồi, cái quyết định – tạo nên phần chính yếu cho vấn đề Biển Đông cũng được chuyển từ Bộ Nội vụ sang cho Hội đồng An ninh Quốc gia vào năm 2006.

Ngoài việc xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc và tiện nghi cho bến cảng trên hai đảo này, chính phủ Đài Loan còn mở ra tại Đảo Trung Sa tuyến du lịch thuê bao và xây dựng tại đảo một công viên quốc gia thứ sáu của Đài Loan vào năm 2007. Tổng thống Trần Thủy Biển đã thăm Trung Sa trong ba chuyến đi, lần thứ nhất vào tháng 12 năm 2000 rồi tháng 7 năm 2005 và cuối cùng là vào tháng 2 năm 2008. Sự điều chỉnh lại trong khâu quản lý từ Bộ Quốc phòng sang Cơ quan Tuần Duyên có thể giúp cho việc phát triển cơ sơ hạ tầng tại hai đảo Paratas và Ba Bình từ năm 2000 được mềm dẻo hơn.

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lưu Kiến Siêu [Liu Jianchao] đã tránh bình luận trực tiếp về chuyến đi trước đó của Tổng thống Trần Thủy Biển tới Đảo Ba Bình, và chỉ tuyên bố rằng “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi trên vùng quần đảo Nam Sa và vùng biển liền kề. Đài Loan là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc. Trung Quốc mong muốn giải quyết các tranh chấp tại vùng Biển Nam Trung Hoa thông qua sự trao đổi thân thiện với các nước liên quan và cùng với họ bảo vệ hòa bình và ổn định cho khu vực”.

Trung Quốc đã giữ quan điểm khiêm tốn không mang tính đặc trưng trong sự giải thích thông thường của nó rằng mọi đường băng hay phương tiện trên vùng Biển Đông được Đài Loan xây dựng cũng thuộc về Trung Quốc. Tính toán của Bắc Kinh là đường băng sẽ gián tiếp trợ giúp cho sự hiện diện của Trung Quốc trong khu vực mặt đối mặt với các nước ASEAN khác đang có yêu sách chủ quyền.

Trung Quốc đã thiết lập Học viện Nhà nước Nghiên cứu về Biển Đông tại tỉnh đảo Hải Nam như là một tiêu điểm cho mọi liên hệ – và như một đối tác cho những thảo luận về vấn đề Biển Đông – với Viện Quan hệ Quốc tế thuộc Trường Đại học Quốc gia Chengchi ở Đài Loan. Các đại biểu từ Học viện Nhà nước đã thăm viếng Đài Loan tháng 11 năm 2007 và trong các cuộc thảo luận đã biểu lộ không có mối quan ngại lớn trong vấn đề xây dựng đường băng trên Đảo Ba Bình.

Họ còn tránh tiết lộ bất cứ những bước phát triển đã qua nào giữa Trung Quốc và ASEAN trong việc hoàn thành bản Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông, mặc dù nó đã được bày tỏ rằng nếu như một nước có yêu sách chủ quyền nào lờ đi chính quyền Đài Loan ở Đài Bắc trong những cuộc đàm phám, thì Trung Quốc sẽ sẵn sàng trao đổi và đáp lại những câu hỏi từ Việt Nam và Philppines trên những vấn đề liên quan tới đường băng này bởi một Thỏa thuận ba bên cùng Nghiên cứu Địa chấn Biển năm 2005.

Việt Nam cho đến lúc này đã đưa ra phản ứng cứng rắn nhất đối với vấn đề đường băng trên Đảo Ba Bình, chủ quyền của Việt Nam. Sau thành công của chuyến C-130 vận tải quân sự của Đài Loan bay thử tới đảo vào ngày 24/1/2008, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Dũng đã công khai nhấn mạnh là Đài Loan “phải ngừng ngay hành động này không được có những hành động vi phạm tương tự”. Ngày 2/2/2008, Lê Dũng nói Việt Nam hơn nữa “lên án chuyến viếng thăm của người lãnh đạo Đài Loan Trần Thủy Biển đến Đảo Ba Bình, quần đảo Trường Sa”.

Việt Nam tin rằng đó là “một hành động leo thang cực kỳ nghiêm trọng, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ tại quần đảo Trường Sa, gây nên tình trạng căng thẳng và rắc rối thêm trong khu vực. Đài Loan phải chịu trách nhiêm hoàn toàn đối với mọi hậu quả do hành động của họ gây ra”.

Philppines coi vụ đường băng của Đài Loan trên Đảo Ba Bình như là một vấn đề có tính ngoại giao và chính trị hơn là sự kiện có tính quân sự. Bộ trưởng Ngoại giao Alberto Romulo chính thức đưa ra lời phát biểu bày tỏ “mối quan ngại đối với sự tiến triển được loan báo này, nó đã chống lại những nỗ lực của các nước có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông trong việc cùng nhau đạt được hòa bình và ổn định trong khu vực phù hợp với bản Tuyên bố chung về nguyên tắc ứng xử trong vùng Biển Nam Trung Hoa”.

Bộ trưởng Romulo cũng tuyên bố “tiếc rằng Đài Loan đang thường xuyên nhắm tới điều có thể được coi như một sự thiếu trách nhiệm về chính trị gây bất lợi cho những người dân Đài Loan yêu chuộng hòa bình”.

Đài Loan và Philippines đã đưa ra đề nghị trợ giúp nhau trong những nhu cầu khẩn cấp trong vùng đảo đang tranh chấp. Ví dụ, thông qua sự sắp xếp của Tổ chức Chữ thập Đỏ và hợp tác cấp cứu, máy bay của Philippines đã một lần bay qua Đảo Ba Bình để thả thuốc men cứu trợ xuống cho các nhân viên Tuần Duyên Đài Loan. Tháng 11 năm 2007, chính phủ Philppines đã nhờ Đài Loan giúp đỡ tìm kiếm toán quân tập trận S211 bị mất tích trong những cuộc thao diễn trong vòng 50 hải lý về phía bắc Đảo Ba Bình.

Mặc dù trong sự thiếu vắng những thỏa thuận theo đúng nghi thức cho việc hợp tác chính thức với các nước yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, Đài Loan từ lâu đã tiến hành tập trận có hạn chế tại khu vực tranh chấp, và Đài Loan có thể muốn trở thành bên tham dự và ký kết vào bản Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông. Đài Loan ủng hộ cho ý tưởng tạm thời xếp lại những tranh chấp chủ quyền để tìm cách cùng phát triển, quản lý và giữ ổn định trên vùng Biển Đông.

Năm 1995, khi đó – Tổng thống Lý Đăng Huy của Đài Loan đã đề nghị cho một Công ty Phát triển Biển Đông có số vốn 10 tỉ USD được thành lập, với những lợi ích của nó từ các hoạt động được sử dụng cho việc phát triển cơ sở hạ tầng tại các nước ASEAN. Trong lúc các nước có yêu sách chủ quyền đang tập trung chú ý của mình vào vấn đề đường băng, họ đã không bình luận gì về cái gọi là Sáng kiến Trường Sa chỉ được công bố bởi Tổng thống Trần Thủy Biển tại quần đảo Trường Sa, qua đó Đài Loan có thể đóng góp cho hòa bình trên vùng đảo này.

Trong bốn điểm được nhấn mạnh tại Sáng kiến Trường Sa của Trần Thủy Biển, trước hết ông cam kết rằng Đài Loan sẵn sàng chấp nhận trên nguyên tắc bản Tuyên bố về việc Hướng dẫn những Ứng xử trong vùng Biển Đông, và ông ủng hộ cho những biện pháp hòa bình trong việc giải quyết những tranh chấp lãnh thổ và pháp lý.

Thứ hai, Trần Thủy Biển đề nghị rằng các nước đã quan tâm đến một thỏa thuận hãy công nhận khu vực này như một vùng bảo vệ sinh thái nơi mà việc khai thác tài nguyên cạn kiệt sẽ bị ngăn cấm.

Thứ ba, Trần Thủy Biển đưa ra một kế hoạch cho các nhà sinh thái và môi trường quốc tế quản lý việc nghiên cứu trong một cơ sở chính quy quanh khu vực Đảo Trung Sa, Đảo Ba Bình, và Đá Chữ Thập nằm ở giữa Đảo Ba Bình và Đảo Đá Sơn Ca do Việt Nam trấn giữ.

Thứ tư, Trần Thủy Biển cổ vũ cho một sự thiết lập một trung tâm phi chính phủ nghiên cứu Biển Đông dùng làm kênh ngoại giao thứ hai nhằm giảm bớt sự căng thẳng trên vùng Biển Đông.

Vào ngày 10/2/2008, Trần Thủy Biển đã sửa soạn công phu trong ý kiến của mình về việc thiết lập một khu vực bảo tồn sinh thái biển ở vùng Biển Đông, được đóng tại Micronesia Challenge, nơi khởi đầu cho hiệp ước ngoại giao Paula của Đài Loan tại Nam Thái Bình Dương để “duy trì trên thực tế ít nhất 30% hải quân gần bờ và 20% tài nguyên trên mặt đất trên toàn khu vực Micronesia vào năm 2020”.

Sáng kiến Trường Sa của Trần Thủy Biển có thể chứng tỏ là rất khó được thực hiện đầy đủ một khi Đài Loan không có được những mối ràng buộc ngoại giao với các nước có yêu sách chủ quyền khác. Tuy nhiên, Trung Quốc có thể tìm thấy lợi ích của họ trong việc phối hợp với Đài Loan trong những dự án hợp tác chung trên Biển Đông, mặc dù nó sẽ là một cơ sở ưu tiên thứ hai hơn là những nỗ lực đưa Đài Loan vào một nhóm thuộc chương trình hợp tác đa biên.

Đài Loan không mấy lo lắng về khả năng Trung Quốc hoặc các nước ASEAN có yêu sách chủ quyền khác sẽ sử dụng vũ lực tấn công Đảo Ba Bình. Trung Quốc khó có thể bào chữa cho việc sử dụng hành động quân sự tiến chiếm Đảo Ba Bình trong khi những nước có yêu sách chủ quyền khác đang chiếm đóng trên những đảo mà Trung Quốc có yêu sách chủ quyền. Họ cho rằng Việt Nam đề phòng chuyện chọc giận các đơn vị đồn trú của Đài Loan vì e rằng họ có thể mời lực lượng quân sự của Trung Quốc đáp trả. Đài Loan hiểu rằng rất khó khăn trong việc bảo vệ hiệu quả Đảo Ba Bình và một đường băng có thể giải thích cho những cố gắng của họ nhằm đóng lại cái lỗ hổng an toàn. Với công trình đường băng tại Ba Bình, Đài Bắc có thể xem xét lại sự thiếu chú ý của họ dành cho vùng Biển Đông.

Một cơn khủng hoảng trên eo biển Đài Loan có thể rất dễ dàng gây bùng nổ một hiệu ứng dây chuyền và những căng thẳng leo thang trên vùng Biển Đông. Ví dụ, trong những kịch bản rất hiện thực của những cuộc đối đầu quân sự được phác họa tại các vòng cung phòng thủ của Đài Loan, có một mối lo ngại rằng Trung Quốc có thể khởi sự một cuộc phong tỏa lâu dài các tuyến trên biển của hệ thống thông tin liên lạc Tây Nam Đài Loan.

Nếu như có sự lo sợ nào đó, Đài Loan bị Trung Quốc thâu tóm, Trung Quốc từ đó sẽ chiếm giữ hai hòn đảo lớn nhất trên Biển Đông. Nếu điều đó xảy ra, có lẽ sẽ là quá muộn cho các nước trong khu vực Đông Nam Á để nhận ra rằng Đài Loan hay sự hiện diện quân sự của nó trên vùng Biển Đông có thể, trên thực tế, chỉ là cái miếng đệm giữa họ và lực lượng quân sự của Trung Quốc mà thôi.

——–

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Lawyers group slams Palace on NBN, Spratlys issues, Inquirer (Phillippines) 8-3-2008.

2. No sell-out in Spratly deal–energy execs — Activists call for Arroyo to resign, march to Palace, Inquirer (Phillippines) 8-3-2008.

3. Spratlys deal constitutional, say administration senators, Inquirer (Philippines 10-3-2008.

4. Truth, Half-truth and Lie,Inquirer (Phillippines) 9-3-2008.

5. Spratlys treason?, Manila Standard Today, 11-3-2008

6. JdV clears Arroyo on Spratlys deal, Manila Standard 11-3-2008.

7. Public has right to know Spratlys accord, ABS (Phillipin) 11-3-2008.

8. Spratlys deal jeopardized Philippine territory, security, Inquirere (Philippines) 11-3-2008.

9. Accord with RP, Vietnam conducive to peace – China, Manila Bulletin 13-3-2008.

10. Proposed baselines: War or surrender, Inquirer (Philippines) 14-3-2008.

11. A Spratly Islands 101, Philippine Daily Inquirer (Philippines), 14-3-2008

12. A Treaty of Peace Between the United States and Spain, U.S. Congress, 55th Cong., 3d sess., Senate Doc. No. 62, Part 1 (Washington: Government Printing Office, 1899), 5-11.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 33. TRUNG QUỐC VI PHẠM CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ!

Posted by anhbahoa on November 28, 2009

Bài 33

TRUNG QUỐC VI PHẠM CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ!

Đinh Kim Phúc

Năm 1949, Trung Quốc cho công bố một bản đồ, trong đó lãnh hải của Trung Quốc bao gồm tất cả các đảo Đài Loan, quần đảo Senkaku (Điếu Ngư), Pescadores (Bành Hồ), Pratas (Đông Sa), Macclesfield Bank (Trung Sa), Paracel (Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam) và Spratley (Nam Sa, tức Trường Sa của Việt Nam). Đường xác-định lãnh hải chỉ cách bờ biển của Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei khoảng 50 đến 100 km.

Năm 1974, Trung Quốc sử dụng vũ lực tấn công Hoàng Sa và chiếm quần đảo này từ tay chính quyền Sài Gòn.

Tháng 3 năm 1988, Trung Quốc cho tàu đổ bộ vào chiếm 6 rạng đá nhỏ vùng rạng đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef).

Tháng 2 năm 1992, Trung Quốc ra Luật Lãnh hải Trung Quốc (Chinese Territorial Waters Law) qui định rõ các đảo và quần đảo nói trên thuộc Trung Quốc. Ngày 21 tháng 5 cùng năm, Đài Loan ra luật lãnh hải có nội dung tương tự. Nói thêm là trong vụ đánh chiếm các vị trí của Việt Nam tại bãi Chữ Thập, Trung Quốc đã được quân đội Đài Loan đóng tại đảo Ba Bình giúp đỡ về vật chất như nước uống. Trung Quốc đã cho xây tại đây một căn cứ quân sự có dạng tương tự như một chiến hạm. Năm 1992, Trung Quốc đánh chiếm thêm một vị trí của Việt Nam trên Trường Sa là đảo D’Eldad Reef (đá En Đát), nâng tổng số đảo chiếm đóng là 9. Tháng 2 năm 1995, Trung Quốc cho xây công sự trên vùng bãi đá Vành Khăn (Mischief), giống như công sự xây trên đá Chữ Thập.

Vào giữa năm 2007, tàu hải quân Trung Quốc đã bắn vào các tàu đánh cá của Việt Nam gần quần đảo Trường Sa, giết chết một ngư dân và làm bị thương 6 người khác, trong khi đó hãng dầu khí BP của Anh đã tạm ngưng hợp đồng xây dựng một đường ống dẫn khí gas ngoài khơi Việt Nam trị giá 2 tỉ USD sau lời cảnh báo của Bộ Ngoại giao Trung quốc. Kế đến cuối năm 2007, Trung Quốc cũng đã phản đối công ty ONGC Videsh của Ấn Độ đang thăm dò 2 lô 127 và 128 ngoài khơi vùng biển Khánh Hòa dẫn đến công ty này phải tạm ngưng tìm kiếm dầu mặc dù đã bỏ ra 100 triệu USD. Đặc biệt, Trung Quốc lại tổ chức diễn tập quân sự để củng cố cho yêu sách lãnh thổ của mình xung quanh quần đảo Trường Sa vào tháng 11 năm 2007.

Đỉnh điểm của những động thái mới của Trung Quốc là quyết định của Quốc Vụ viện Trung Quốc vào ngày 2 tháng 12 năm 2007 cho thành lập một trung tâm hành chính với tên gọi là Tam Sa ở Hải Nam để quản lý quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và các đảo khác, dù chỉ có tính tượng trưng nhưng đây là một hành động khiêu khích đặc biệt. Khi các sinh viên Việt Nam tụ tập bên ngoài Sứ quán Trung Quốc tại Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vào trung tuần tháng 12 năm 2007 để biểu tình phản đối hành động lấn chiếm của Trung Quốc trên vùng lãnh thổ đang tranh chấp tại Biển Đông, nó đã đưa ra một tín hiệu mới về sự phản kháng của VN đối với phương Bắc.

Và Bắc Kinh đã phản ứng bằng hành động cụ thể; thay vì hạ giọng về vụ việc, Tần Cương, phát ngôn viên bộ ngoại giao đã trách cứ: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi trên các đảo ở Biển Nam Trung Hoa”. Tiếng phản đối nổi lên từ hai phía vì Biển Đông lưu giữ một trong những điểm gây chú ý của khu vực. Điều mà hầu hết nhà quan sát không nhận ra là trong vài năm gần đây, những nỗ lực hợp tác trong khu vực nhằm ve vãn để Bắc Kinh có lập trường rõ ràng hơn đã bị thất bại bởi âm mưu bá quyền của Trung Quốc.

Việc Trung Quốc gia tăng sức ép đối với Việt Nam gần đây trong vấn đề biển Đông đã cho thấy mối quan hệ Việt-Trung sắp bước vào một giai đoạn khó khăn khác do sự hoài nghi từ lâu của người Việt Nam về “sự phát triển hòa bình” của Trung Quốc.

Vậy Trung Quốc vi phạm điều gì của các điều luật quốc tế?

Như chúng ta đã biết trước khi bị các nước ngoài xâm phạm chủ quyền Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tức đầu thế kỷ XX trở về thế kỷ XVII, theo pháp lý quốc tế (theo kiểu Phương Tây) lúc bây giờ, sự xác lập chủ quyền Việt Nam trên vùng đất này một cách thật sự, liên tục, hòa bình là cơ sở pháp lý quốc tế đương thời. Đến khi chủ quyền của Việt Nam bị xâm phạm, vào thời điểm 1909, pháp lý quốc tế có giá trị phổ biến là Tuyên bố của Viện Pháp Luật Quốc Tế Lausanne năm 1888.

Sau đó Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Luật Biển 1982 cũng là cơ sở pháp lý quốc tế mà các thành viên ký kết bao gồm các nước đang vi phạm chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei đều phải tôn trọng.

Việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền 80% diện tích ở biển Đông trong nhiều thập niên trước đây cũng như Trung Quốc đã có một loạt hành vi gây hấn có tính toán đối với Việt Nam, thực hiện bằng vũ lực kết hợp với mưu mẹo và theo một quá trình kéo dài nhiều thập niên. Cuối năm 2007, khi đơn phương quyết định đặt hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa trực thuộc hệ thống hành chính của mình, Trung Quốc đã đi xa hơn cuộc tranh chấp trên biển vì đã có hành động xâm lăng Việt Nam. Vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa không còn là một vụ lấn chiếm hải đảo riêng lẻ nữa mà là một hành động xâm chiếm vùng biển, xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bất chấp hiến chương Liên Hiệp Quốc.

Dưới góc độ luật quốc tế, hành vi sáp nhập trong vụ Tam Sa chính là loại trọng tội đã được gọi tên là xâm lược (aggression), theo định nghĩa từ giữa thập niên 1970 của Liên Hiệp Quốc.

Cho đến đầu thế kỷ XX, pháp luật quốc tế vẫn còn thừa nhận việc dùng vũ lực để xâm chiếm một bộ phận hay toàn bộ lãnh thổ của một nước là hợp pháp. Nhưng ngay sau Chiến tranh thế giới thứ 2, Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Quốc tế Công pháp đã cấm mỗi quốc gia thành viên không được xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của quốc gia khác. Khi có những sự vi phạm luật quốc tế, hòa bình và an ninh thế giới, chỉ Hội đồng Bảo An mới có thẩm quyền thẩm định và đưa ra các biện pháp chế tài. Các quốc gia không được tự ý hành động ngoài những điều luật quốc tế cho phép.

Điều 2(4) của Hiến Chương LHQ quy định:

“Tất cả các thành viên Liên Hiệp Quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc hay dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất cứ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên Hiệp Quốc.”

Nghị quyết 1514 ngày 14/12/1960 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về việc trao trả nền độc lập cho các nước và các đân tộc thuộc địa đã viết: “Mọi hành động vũ trang và mọi biện pháp đàn áp, bất kể thuộc loại nào, chống lại các dân tộc phụ thuộc sẽ phải được chấm dứt để các dân tộc đó có thể thực hiện quyền của họ về độc lập hoàn toàn một cách hòa bình và tự do, và toàn vẹn lãnh thổ của họ sẽ được tôn trọng”.

Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Liên Hợp Quốc lại viết: “Các quốc gia có nghĩa vụ không được dùng đe dọa hoặc dùng vũ lực để xâm phạm các đường biên giới quốc tế hiện có của một quốc gia khác hoặc như biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến các biên giới của các quốc gia”.

“Mọi hành động thụ đắc lãnh thổ bằng đe dọa hoặc bằng sử dụng vũ lực không được thừa nhận là hợp pháp”.

Điều này được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc tái xác định trong Nghị quyết số 2625 (XXV) ngày 24.10.1970 khi đưa ra “Tuyên ngôn các Nguyên tắc quốc tế về sự liên đới và hợp tác anh em giữa các quốc gia theo tinh thần của Hiến chương Liên Hiệp Quốc”. Nguyên tắc đó như sau:

“Không một quốc gia hay một nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất cứ lý do gì, vào các việc quốc nội hay quốc ngoại của bất cứ quốc gia nào khác. Do đó, sự can thiệp bằng võ khí hay tất cả những hình thức can thiệp khác, hay những âm mưu đe dọa chống lại nhân vật của quốc gia hay chống lại các yếu tố về chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia đó, là vi phạm luật quốc tế.”

Nghị quyết số 3314-XXXIX (Resolution 3314 – XXIX) ngày 14.12.1974 đã định nghĩa tội xăm lăng (aggression) như sau:

“Xâm lăng là việc một quốc gia dùng quân lực chống lại chủ quyến, sự toàn vẹn lãnh thổ, hay sự độc lập chính trị của một quốc gia khác, hay bằng bất cứ cách nào khác không phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc, như được nêu ra trong định nghĩa này.

Chương VII của Hiến Chương LHQ dành cho Hội Đồng Bảo An quyền áp dụng các biện pháp chề tài đối với các quốc gia vi phạm luật pháp quốc tế, phương hại đến hòa bình và an ninh của thế giới.

Điều 39: “Hội đồng Bảo an xác định thực tại mọi sự đe dọa hòa bình, phá hoại hòa bình hoặc hành vi xâm lược và đưa ra những kiến nghị hoặc quyết định các biện pháp nào nên áp dụng phù hợp với các điều 41 và 42 để duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế”.

Điều 41: “Hội đồng Bảo an có thẩm quyền quyết định những biện pháp nào phải được áp dụng mà không liên quan tới việc sử dụng vũ lực để thực hiện các nghị quyết của Hội đồng, và có thể yêu cầu các thành viên Liên Hợp Quốc áp dụng những biện pháp ấy. Các biện pháp này có thể là cắt đứt toàn bộ hay từng phần quan hệ kinh tế, đường sắt, đường biển, hàng không, bưu chính, điện tín, vô tuyến điện và các phương tiện thông tin khác, kể cả việc cắt đứt quan hệ ngoại giao”.

Điều 42: “Nếu Hội đồng Bảo an nhận thấy những biện pháp nói ở Điều 41 là không thích hợp, hoặc tỏ ra không thích hợp, hoặc đã mất hiệu lực, thì Hội đồng Bảo an có thẩm quyền áp dụng mọi hành động của hải, lục, không quân mà Hội đồng xét thấy cần thiết cho việc duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế. Những hành động này có thể là những cuộc biểu dương lực lượng, phong tỏa, và những cuộc hành quân khác, do các lực lượng của hải, lục, không quân của thành viên Liên Hiệp Quốc thực hiện”.

Kết luận:

Những quan hệ mà Bắc Kinh duy trì với một loạt nhà nước như Myanmar, Sudan, Angola và Zimbabue hiện nay và Việt Nam trước đây là những bài học chúng ta không bao giờ được quên..

Phản ứng của Trung Quốc vào ngày 7 và 9 tháng 5 năm 2009 về việc Việt Nam nộp hồ sơ lãnh hải cho Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hợp Quốc (Commission on the Limits of the Continental Shelf-CLCS) là một cái tát nảy lửa vào mặt những ai còn mê ngủ bởi lời ru của cái gọi là tình đồng chí xã hội chủ nghĩa.

14-9-2009

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 32. QUAN HỆ TRUNG-NHẬT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Posted by anhbahoa on November 28, 2009

Bài 32

QUAN HỆ TRUNG-NHẬT VÀ BÀI HỌC

KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Đinh Kim Phúc

Thủ tướng Hatoyama và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào(9/2009)

“Ngoại giao bóng bàn” đã từng giúp cải thiện mối quan hệ giữa Trung-Mỹ trong những năm 1970. Năm 1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã có chuyến công du mang tính biểu tượng tới Bắc Kinh.

36 năm sau, Chủ tịch Trung Quốc đã “đối mặt” với Thủ tướng Nhật trong trận đấu bóng bàn lịch sử tại Trường đại học Waseda, Tokyo ngày 8/5/2008 nhân kỷ niệm 30 năm ngày ký kết hiệp ước hòa bình và hữu nghị giữa hai nước (1978-2008).

Sau những cú giao bóng giữa những vận động viên nghiệp dư nhưng lại là những nhà chính trị lão luyện, Nhật và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận cùng khai thác mỏ khí đốt đang tranh chấp Xuân Hiểu (Nhật gọi là Shirakaba) và hợp tác khai thác vùng biển Hoa Đông, chấm dứt 4 năm tranh cãi về chủ quyền khu vực này. Theo các nhà phân tích, việc hợp tác phát triển khu vực có diện tích khoảng 2.600m2 trên biển là không lớn, nhưng thỏa thuận này có ý nghĩa biểu trưng rất lớn để Trung Quốc và Nhật có thể cùng nhau thúc đẩy mối bang giao vốn có nhiều gập ghềnh từ khi bình thường hóa quan hệ năm 1972 đến nay.

Theo thỏa thuận, tập đoàn dầu khí Inpex Holding lớn nhất của Nhật sẽ đầu tư vào dự án khai thác mỏ khí đốt Xuân Hiểu, có sản lượng ước tính 1 tỉ m3/năm. Bên phía Trung Quốc là CNOOC, tập đoàn dầu khí ngoài khơi lớn nhất nước này. Trung Quốc và Nhật cũng cùng nhau khai thác dầu tại khu vực phía Bắc biển Hoa Đông, có trữ lượng được cho vào khoảng 3,26 tỉ thùng.Trung Quốc cũng muốn mang công thức này áp dụng cho Việt Nam.

Có thể thấy rằng sự kiện trên đã “làm nóng” quan hệ vốn lạnh nhạt dưới thời cựu Thủ tướng Junichiro Koizumi, và nó chứng tỏ cả hai bên đều đang muốn “làm hoà” với nhau và sự thực là họ đang hòa với nhau thật. Tuy nhiên có một vấn đề mà cả hai phía Trung Quốc và Nhật Bản chắc chắn sẽ không thể dễ dàng giảng hoà được với nhau, đó là cuộc cạnh tranh vị trí đệ nhất cường quốc tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Chính vì vậy, diễn biến nóng-lạnh trong quan hệ Trung-Nhật một lần nữa lại bộc phát. Ngày 15/9/2009, tại Bắc Kinh, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du cho biết, Trung Quốc mong Ủy ban về thềm lục địa của Liên Hợp Quốc xử lý ổn thoả đề án phân giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa lấy bãi ngầm Ô-ki-nô-tô-ri-xi-ma [Okinotori] làm điểm cơ sở do Nhật Bản đề xuất.

Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao cùng ngày, bà Khương Du nói, việc Nhật Bản lấy bãi ngầm Ô-ki-nô-tô-ri-xi-ma mà con người không thể sinh sống và duy trì đời sống kinh tế làm điểm cơ sở để chủ trương vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đã vi phạm quy định trong “Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển”, gây lên sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng quốc tế. Lập trường của Chính phủ Trung Quốc trong vấn đề này là nhất quán. Trung Quốc mong Ủy ban về thềm lục địa là cơ quan của “Công ước” này, xử lý ổn thoả vấn đề này.

Cần nhắc lại rằng ngày 12/11/2008, khi Nhật Bản đệ trình lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa Liên Hợp Quốc (CLCS) về việc mở rộng thềm lục địa Nam Thái Bình Dương, Trung Quốc đã lên tiếng chính thức phản đối với lý do bãi đá ngầm san hô Okinotori chỉ là một tảng đá, không có quyền phân chia thềm lục địa”.Phía Trung Quốc cho rằng, bãi đá ngầm san hô Okinotori không thể là nơi mà cư dân có thể sinh sống, cũng không thể duy trì các sinh hoạt kinh tế, việc phân chia thềm lục địa là không hề có căn cứ gì; Rất nhiều quốc gia cũng có sự hoài nghi như vậy.

Theo phía Nhật Bản, mặc dù Trung Quốc thừa nhận Okinotori thuộc lãnh thổ Nhật Bản, nhưng vẫn phản đối nó là khu kinh tế độc quyền trong vòng 200 hải lý của Nhật Bản. Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa Liên Hợp Quốc dự định trong tháng 9 này sẽ thành lập một ủy ban nhỏ xem xét đơn thư của Nhật Bản.

Quan hệ Nhật-Trung

Như vậy, tại biển Hoa Đông, Trung Quốc đã thể hiện một loạt các vị trí để thực hiện theo nguyên tắc thêm các yếu tố tự nhiên để phân định các vùng lãnh thổ với Nhật Bản trong khi Nhật Bản vẫn tập trung vào một dòng để phân định các yêu cầu lãnh thổ và dựa vào EEZ để khẳng định với Trung Quốc. Cho đến nay không có dấu hiệu nào của sự nhường nhịn lẫn nhau của các vị trí tương ứng.

Nhật Bản sử dụng các biện pháp cứng rắn thay vì các biện pháp yếu mềm để đòi hỏi chủ quyền, cùng nhiều phần của vùng ven biển, để tính toán các khu vực biển. Việc áp dụng thẳng tay đối với việc mở rộng bên ngoài các giới hạn của Nhật Bản đã tạo ra tranh chấp lãnh thổ trên biển.

Luật áp dụng trong điều khoản vùng đặc quyền kinh tế biển (EEZ) của Nhật Bản và các quy định pháp luật có liên quan đến hoạt động cho kinh tế thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong EEZ cùng với các vấn đề khác như khoan trên đất liền, việc bảo vệ và bảo tồn của môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, xây dựng, hoạt động và sử dụng các hòn đảo nhân tạo. Các mức độ của EEZ là 200 hải lý, nhưng trong khu vực, nơi 200 hải lý có thể không được tính, Nhật Bản thích việc sử dụng các biện pháp phân định giữa trung gian để phân định các ranh giới EEZ giữa Nhật Bản và một quốc gia lân cận.

Trước đó (4/2007), Nhật Bản ban hành các Luật cơ bản về Đại Dương với một mục đích về hướng tích hợp quản lý biển. Các nỗ lực mới nhất của Nhật Bản, mở rộng khu vực hàng hải của nó là gửi cho Ủy ban về các giới hạn của quốc gia và vùng lãnh thổ, theo quy định tại Điều 76, đoạn 8, trong công ước UNCLOS , thông tin về các giới hạn của nó về vùng và lãnh thổ 200 hải lý từ lãnh thổ ra biển và hơn thể nữa 350 hải lý … Tuy nhiên, Nhật Bản chỉ mới nỗ lực để mở rộng và củng cố các khiếu nại hàng hải có hướng mời sự quan tâm từ các quốc gia lân cận, đặc biệt là những nước có lãnh thổ và biển tranh chấp với Nhật Bản.

Vậy là, tranh chấp lãnh hải ở khu vực Đông Bắc Á chưa bao giờ được gửi đến tòa án quốc tế bởi các nước liên quan, đặc biệt là Trung Quốc, rõ ràng họ chỉ muốn các cuộc đàm phán song phương mà thôi.

Như vậy, Trung Quốc đã gửi công văn phản đối cả hai bản đăng ký thềm lục địa mà Việt Nam và Nhật Bản đệ trình lên CLCS.

Tác giả Nguyễn Lương Hải Khôi (Quỹ Nghiên cứu biển Đông) trong bài “Lập trường hai mặt của Trung Quốc về Luật biển quốc tế” đã tinh ý chỉ ra rằng: “Nhân đây, những hành động của họ đối với Okinotori có thể gợi ý cho Việt Nam những bài học tốt. Người dân Nhật gần như không quan tâm gì đến Okinotori cho đến năm 2004, khi tàu Trung Quốc tăng cường xuất hiện ở đây, và họ bất ngờ tuyên bố với Nhật rằng Okinotori không đủ điều kiện để yêu sách thềm lục địa hay vùng đặc quyền kinh tế. Đá Okinotori nằm bên sườn phía đông Nhật Bản, án ngữ đường biển nối liền căn cứ hải quân Guam của Hoa Kỳ và Đài Loan.

Nếu khống chế được điểm yết hầu này, Trung Quốc có thể cắt đứt mối liên hệ trên biển giữa Guam và Đài Loan. Ngay khi cảm nhận được mối nguy, cả chính phủ lẫn người dân Nhật đều hành động một cách quyết liệt và đồng thuận. Về phía nhân dân, hoạt động của các tổ chức dân sự là hết sức ấn tượng, đặc biệt có thể kể đến tổ chức Nippon Zaidan. Được tài trợ bởi các doanh nhân, Nippon Zaidan chi hàng triệu USD tổ chức nghiên cứu một cách quy mô và bài bản về Okinotori trên tất cả các lĩnh vực, và dĩ nhiên, không thể thiếu lĩnh vực công pháp quốc tế”.

Kết luận:

Tin cho biết, Mỹ mới đây công bố báo cáo “Chiến lược Tình báo quốc gia” năm 2009, đã coi Trung Quốc, Nga, Iran và Triều Tiên là 4 nước chủ yếu thách thức lợi ích của Mỹ.

Ngày 16/9/2009, tại Bắc Kinh, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du cho biết: “Trung Quốc trước sau như một là lực lượng trung kiên bảo vệ và thúc đẩy hòa bình và ổn định của thế giới, sự phát triển của Trung Quốc không đe doạ đến bất cứ nước nào…”.

Hy vọng rằng lần này là lần cuối cùng người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc  Khương Du nói thật.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 31. CÁC NƯỚC ASEAN NGÀY CÀNG NGHI NGỜ TRUNG QUỐC

Posted by anhbahoa on November 28, 2009

Bài 31

CÁC NƯỚC ASEAN NGÀY CÀNG

NGHI NGỜ TRUNG QUỐC

VNTTX

Thứ Tư, ngày 30-9-2009

(Tổng hợp từ nguyệt san “Bình luận phòng vệ Hán Hoà”, “Bình luận Trung Quốc” số tháng 9/2009, tờ “Đại công báo” và “Đông phương Nhật báo” của Hồng Kông số ra gần đây)

Thời gian gần đây, sau khi quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan có xu thế hoà hoãn cũng như thái độ ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông (biển Nam Trung Hoa) đã dẫn đến sự nghi ngờ phổ biến và ngày càng gia tăng của các nước ASEAN đối với Trung Quốc. Hơn thế, mối nghi ngờ này có xu thế công khai hoá, thậm chí dẫn đến sự chuẩn bị cao độ trên phương diện quân sự của một số nước ASEAN hữu quan.

1 – Biểu hiện cụ thể

Hồi tháng 4/2009, tại Lễ duyệt binh trên biển của lực lượng Hải quân Trung Quốc, trong số các nước ASEAN, ngoài Xinhgapo, đã không có nước nào điều động tàu hải quân đến tham dự. Các nhà phân tích quốc tế cho rằng đây là một bằng chứng chứng minh cho sự nghi ngờ và cảnh giác của các nước ASEAN đối với Trung Quốc. Còn Hải quân Xinhgapo sở dĩ điều động tàu hải quân tham gia Lễ duyệt binh này của Trung quốc, chủ yếu là do trước đây, trong thời gian diễn ra “Triển lãm và Hội thảo Hải quân quốc tế lần thứ 2” (IMDEX) tại Xinhgapo, Trung Quốc đã điều động tàu hải quân đến thăm Xinhgapo.

Bên cạnh đó, tình trạng các nước ASEAN không mua sắm trang bị vũ khí quân sự của Trung Quốc đã bộc lộ rõ. Trong những năm gần đây, Trung Quốc ngoài “viện trợ” vũ khí cho Chính quyền quân sự Mianma, không bán được cho các nước ASEAN bất kỳ một loại trang bị vũ khí nào. Ngoài ra, gần đây còn xuất hiện động thái các nước ASEAN tiến hành liên kết cùng đối phó với Trung Quốc, hoặc dựa vào phương Tây để cân bằng với Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp chủ quyền tại khu vực Biển Đông. Việt Nam và Malaixia là điển hình của phương thức này.

2 – Lý do khiến ASEAN nghi ngờ Trung Quốc

Trung Quốc tiến hành các hoạt động quân sự quy mô lớn tại khu vực Biển Đông, như xây dựng mở rộng căn cứ hải quân quy mô lớn cho tàu ngầm hạt nhân và tàu mặt nước (thậm chí cả tàu sân bay trong tương lai) tại đảo Hải Nam; bố trí tàu đổ bộ cỡ lớn “071” tại Biển Đông; tiến hành các cuộc diễn tập quân sự liên hợp trên biển quy mô lớn v.v. Vấn đề khiến các nước ASEAN lo ngại là ý đồ của Trung Quốc trong việc xây dựng căn cứ lớn cho tàu ngầm hạt nhân và tàu mặt nước tại đảo Hải Nam cũng như ý đồ của Trung Quốc bố trí tàu đổ bộ cỡ lớn “071” tại Biển Đông. Rõ ràng, nhìn từ góc độ các nước ASEAN, hành động này của Trung Quốc đã chứng minh: Trung Quốc bắt đầu đi theo phương hướng chuẩn bị quân sự cụ thể cho biện pháp giải quyết tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông.

Thái độ Trung Quốc trong giải quyết tranh chấp chủ quyền Biển Đông tỏ ra cứng rắn hơn cũng như Trung Quốc có động thái bố trí nhiều hơn tàu ngầm thông thường và tàu ngầm hạt nhân tại căn cứ ở đảo Hải Nam. Quan chức Hải quân Trung Quốc từng tuyên bố có đủ năng lực bảo vệ Biển Đông, thậm chí hô hào Trung Quốc cần “tiên lễ hậu binh” (ngoại giao trước, quân sự sau) trước các hành động “khiêu khích” Trung Quốc của các nước xung quanh Biển Đông. Điều này khiến giới quân sự ASEAN lo ngại không hiểu quan chức hải quân Trung Quốc tuyên bố có đủ năng lực bảo vệ biển Nam Trung Hoa là có ý gì.

Hải quân Trung Quốc đưa ra khái niệm “biên giới lợi ích” và tuyên bố “biên giới lợi ích” của Trung Quốc tới đâu, sứ mệnh của hải quân cần bảo vệ tới đó. Hầu hết các nước ASEAN cho rằng nếu nói “biên giới lợi ích”, các nước đều có, không chỉ mình  Trung Quốc có “biên giới lợi ích”. Tuy nhiên, điều khiến các nước ASEAN càng nghi ngờ Trung Quốc hơn là không hiểu rốt cuộc Trung Quốc sẽ bảo vệ cái gọi là “biên giới lợi ích” như thế nào. Giới quân sự các nước ASEAN bày tỏ cách nói “biên giới lợi ích” của Trung Quốc là không thuận, không phù hợp cũng như không có luật quốc tế làm căn cứ. Trong khi đó, phía Trung Quốc đưa ra giải thích chung chung: “biên giới lợi ích” mà Trung Quốc đề cập là xuất phát từ nguyên tắc công bằng, bảo đảm chắc chắn phân chia khu vực trách nhiệm chống cướp biển.

Trung Quốc thừa nhận đang nghiên cứu đóng tàu sân bay, tuy nhiên Trung Quốc chưa từng công khai tiến trình và kết quả cụ thể, khiến mối nghi ngờ của các nước ASEAN đối với Trung Quốc ngày càng tăng. Phía Trung Quốc cho biết hiện nay, nước này đang trong quá trình nghiên cứu đóng tàu sân bay, đợi đến khi có kết quả cụ thể sẽ công bố công khai. Ngoài ra, Trung Quốc luôn nhấn mạnh hải dương hài hoà, nhưng gần đây lại có những hành động ngăn chặn tàu của Mỹ thực hiện nhiệm vụ khảo sát, thăm dò ở vùng biển quốc tế thuộc khu vực Biển Đông. Điều này cho thấy “hình tượng quốc tế” của Trung Quốc đang có vấn đề. “Sách Trắng quốc phòng” mà Ôxtrâylia công bố gần đây đã nêu rõ cần cảnh giác cao độ với thái độ của Trung Quốc.

Quan hệ hai bờ Eo biển Đài Loan có xu thế hoà hoãn, Trung Quốc có điều kiện tập trung sức mạnh quân sự tại Biển Đông, điều này đã dẫn đến sự nghi ngờ phổ biến của các nước ASEAN đối với Trung Quốc và mối nghi ngờ này dường như đã công khai hoá.

3 – Hệ quả

Các nước ASEAN liên kết với nhau, thậm chí dựa vào cường quốc phương Tây đối phó với Trung Quốc. Ví như hồi cuối tháng Tư đầu tháng Năm, trong vấn đề vạch đường ranh giới phân chia khu vực ngoài thềm lục địa 200 hải lý, Việt Nam đã cùng với Malaixia đưa ra phương án phân chia chung tại Biển Đông. Đa số các nước ASEAN không chỉ bắt đầu nghi ngờ Trung Quốc trong vấn đề “biên giới lợi ích”, mà còn đưa ra vấn đề trước hiện tượng gần đây hải quân Trung Quốc liên tiếp bày tỏ thái độ cứng rắn trong vấn đề biển Nam Trung Hoa. Tư lệnh hải quân Malaixia từng công khai nhấn mạnh nếu như những tàu ngư chính của Trung Quốc xâm nhập vùng biển Malaysia, Hải quân Malaysia có quyền xua đuổi.

Những hành động của Trung Quốc đã gây ra phản ứng chính trị ở tầng nấc tối cao. Hồi đầu tháng 3/2009, đích thân Thủ tướng Malaixia Abdullah Badawi tới thăm đảo Layang (đảo Hoa Lau) thuộc quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa), hòn đảo mà Trung Quốc cho rằng còn tồn tại tranh cãi chủ quyền. Tiếp sau đó, Tổng thống Philippin Gloria Arroyo đã ký “Dự luật đường lãnh hải cơ sở”. Việt Nam bổ nhiệm quan chức hành chính quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa v.v. Rõ ràng cấp phản ứng chính trị của các nước ASEAN đối với Trung Quốc ngày càng nâng cao, thậm chí lên đến cấp cao nhất.

Nỗ lực xuất khẩu kỹ thuật, trang bị vũ khí sang thị trường các nước ASEAN là bằng không. Tại IMDEX – 2007, công ty tàu thuyền Trung Quốc đã tham gia triển lãm, giới thiệu với Thái Lan và Malaixia tàu đổ bộ cỡ lớn “071”. Còn IMDEX – 2009 (từ ngày 12 – 14/5/2009, tại Xinhgapo), không có công ty tàu thuyền nào của Trung Quốc tham dự triển lãm vì cho rằng không có hiệu quả. Hải quân Malaixia đã tuyên bố rõ ràng với Trung Quốc: Hải quân Malaixia đang xem xét mua tàu đổ bộ của nước khác ngoài Trung Quốc. Hãng DAMEN của Hà Lan thừa nhận đã hai năm liền giới thiệu bán cho Malaixia tàu đổ bộ ENFORCER 13.000 tấn. Ngoài ra, quan chức phụ trách thị trường của Công ty ThyssenKrupp (Đức) xác nhận Malaixia đang nhờ ThyssenKrupp tư vấn mua tàu đổ bộ cỡ lớn MHD – 200 trọng tải từ 17.000 – 20.000 tấn. Tính đến nay, trang bị quân sự mà Trung Quốc giới thiệu bán cho Malaixia, chưa có thương vụ nào thành công. Điều này chứng tỏ Malaixia đã đưa ra phương châm mua sắm vũ khí cơ bản: không trực tiếp nhập khẩu vũ khí từ Trung Quốc.

Bên cạnh đó, nỗ lực của Trung Quốc tham gia đầu thầu đóng tàu đổ bộ cho Hải quân Thái Lan cũng không có kết quả. Tháng 11/2008, Hải quân Thái Lan đã cùng với hãng ST Marine của Xinhgapo chính thức ký kết hợp đồng trị giá 200 triệu USD. Theo đó, Thái Lan sẽ nhập khẩu 1 tàu LPD lớp 8.000 tấn, 2 tàu LCM Mic-23, 2 tàu LCVP Mic 13 của Xinhgapo. Quan chức phụ trách chương trình thị trường của ST Marine cho biết tháng 7/2009, ST Marine đã bắt đầu đóng thân tàu LDP, năm 2012 sẽ giao hàng cho Hải quân Thái Lan. Nguồn tin từ Hải quân Thái Lan cho biết hiện Thái Lan không lựa chọn mua tàu đổ bộ cỡ lớn “071” của Trung Quốc là do kết quả đấu thầu. Nhưng trên thực tế, vấn đề mua sắm tàu thuyền do Trung Quốc sản xuất là vấn đề gây tranh cãi nhất ở Thái Lan. Bởi vì hai tàu hộ vệ tên lửa 3.000 tấn Thái Lan mua của Trung Quốc trước đây, hiện nay hệ thống rađa và hệ thống điện liên tiếp bị trục trặc, hơn thế sửa chữa mất rất nhiều thời gian. Hải quân Thái Lan dự tính trong điều kiện có kinh phí, sẽ mua hệ thống Atlas Elektronik của Đức để thay thế cho hệ thống điện trên tàu mua của Trung Quốc. Ngoài ra, hệ thống trợ đáp của hai máy bay trực thăng OPV mà Thái Lan mua của Trung Quốc gần đây nhất, trên phương diện chỉnh thăng bằng cũng nhiều lần xuất hiện vấn đề.

Các nước ASEAN nhấn mạnh năng lực tác chiến chống ngầm trong xây dựng lực lượng hải quân và không quân. Cụ thể, tại khu vực Biển Đông, các nước ASEAN phổ biến lấy nâng cao năng lực tác chiến chống ngầm làm đối sách cụ thể ưu tiên phát triển hải quân. Trong năm nay, Malaixia sẽ tiếp nhận chiếc tàu ngầm chạy đầu Scorpenne đầu tiên do Pháp sản xuất và Hải quân Malaixia sẽ phân chia thành hai khu vực tác chiến chống ngầm. Việt Nam chuẩn bị nhập khẩu tàu ngầm KILO – 636M của Nga. Báo chí Nga đưa tin Việt Nam đặt mua của Nga 6 tàu ngầm lớp KILO-636, tổng trị giá lên đến 1,8 tỷ USD, đồng thời còn theo đuổi dự án mua 8 máy bay chiến đấu đa năng Su30MK2 của Nga, tổng giá trị là 500 triệu USD. Báo chí Nga còn cho biết hồi tháng 1/2009, hai bên đã ký kết hợp đồng, nhưng thông tin này hiện nay vẫn chưa được Chính phủ Việt Nam và Nga thừa nhận. Việt Nam nêu rõ cần có tàu ngầm để bảo vệ lãnh hải của Việt Nam. Giới công nghiệp quân sự của Nga tại Xinhgapo xác nhận thị trường tàu ngầm của Việt nam là mở cửa đối với Nga.

Cùng với xu thế  quyết liệt hoá trong vấn đề tranh chấp các đảo bãi trên Biển Đông, các nước ASEAN đang phổ biến trang bị tàu đổ bộ cỡ lớn. Hải quân Inđônêxia bắt đầu tự thiết kế tàu đổ bộ mang theo máy bay trực thăng cỡ lớn 35.000 tấn. Ngoài ra, Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào tranh chấp tại Biển Đông. Cuộc diễn tập liên hợp trên biển hàng năm mang tên “Carat” giữa Mỹ với một số nước xung quanh Biển Đông, quy mô ngày càng lớn, màu sắc nhằm vào “một nước lớn nào đó” của “Carats” cũng rõ ràng hơn. Chưa hết, gần đây “Sách trắng quốc phòng” của Ôxtrâylia bày tỏ rõ Biển Đông là tuyến đường an ninh trên biển mà Ôxtrâylia quan tâm.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 30. Đối đầu quân sự ở châu Á, Trung Quốc khẳng định tham vọng hải quân của mình

Posted by anhbahoa on November 27, 2009

Bài 30

Đối đầu quân sự ở châu Á,Trung Quốc

khẳng định tham vọng hải quân của mình

Rivalités militaires en Asie

La Chine affirme ses ambitions navales

Olivier Zajec

Nguyễn Hải chuyển ngữ

Le Monde Diplomatique(09/2008)

Trong cơn phẫn nộ từ những cuộc dội bom ở vùng Caucase, các báo cáo quốc tế hình như lại xác tín: sự khẳng định của nước Nga rằng họ không còn do dự trong việc phô trương cơ bắp , diễn văn sắt đá của chính quyền ông George W. Bush nhưng lại không đủ khả năng trợ giúp một tay cho các nhà lãnh đạo nước Georgia (đọc “Khi các ‘ông lớn’ vui đùa ở Ossetia”), ý định thoáng qua của Liên minh châu Âu muón giữ một vai trò trong cuộc khủng hoảng này… Tuy nhiên, các thế cân bằng địa- chính trị lớn chỉ có thể thay đổi từ từ. Dù gặp khó khăn ở Irắc và Afghanistan, Hoa Kỳ vẫn duy trì được năng lực quân sự cao hơn nhiều các khả năng quân sự của các nước còn lại trên thế giới. Điều này đặc biệt đúng trong lĩnh vực hải quân (đọc “Các tổng thống thì đổi, nhưng đế quốc Mỹ vẫn còn đó”). Nhưng, Hoa Kỳ vẫn phải tính đến các diễn viên khác, trong đó có Trung Quốc (TQ), đã gia nhập câu lạc bộ khép kín gồm 8 nước có hạm đội lớn nhất thế giới. Sao mà ngược lại với những năm 1950, chỉ một viện trợ của Liên bang Xô-viết đủ cho phép Bắc Kinh làm hồi sinh lại một hải quân bờ biển nhỏ bé! TQ, cường quốc lục địa tự hướng tâm từ hàng ngàn năm nay, có phải nó biến hóa thành cường quốc hải dương toàn cầu, như các báo cáo của Mỹ tiên đoán?

Tại TQ trong năm 2006, một bộ phim tài liệu, do Đài Truyền hình Trung ương TQ sản xuất, đã thành công vang dội: Daguo Juequi—Đại Quốc Quật Khởi– (“Sự thăng hoa của các cường quốc”) (1). Dựa vào những cuộc phỏng vấn các sử gia và các nhà lãnh đạo quốc tế (như cựu tổng thống Pháp Valéry Giscard d’Estaing), và phiên bản tiếng Anh khá chuẩn đã được đài Mỹ History Channel (Kênh Lịch sử) phát hình, bộ phim giải thích làm sao mà các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Đức, Nhật, Nga và Hoa Kỳ đã được xây dựng, phát triển hoặc bị sụp đổ.

Theo Tiền Thứa Đán( Qian Chengdan), giáo sư Đại học Bắc Kinh, người gợi ý cho bộ phim, lý do mà người dân hâm mộ bộ phim này – 12 tập 50 phút – là dễ hiểu: “TQ của chúng tôi, dân tộc Trung Hoa, ‘chủng tộc’ Hán cùng nhau trỗi dậy và một lần nữa xuất hiện trên vũ đài thế giới (2).”

“Daguo Juequi” đã đề cập đến nỗ lực vươn ra biển của các cường quốc để được xếp vào các quốc gia đứng đầu thế giới. Mở cửa ra bên ngoài, kiểm soát các hành lang hàng hải chủ yếu và những điểm tựa ở vùng nước sâu, làm chủ công nghệ, hoàn thiện qui mô hành động và hiệu quả thực tế của hải quân  trong chiến lược của các “mô hình” đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, bất kể đến tầm quan trọng về dân số và diện tích đất đai.

Nói một cách chính xác thì đặc tính này là tâm của các trục ưu tiên mới của chính quyền TQ, được hình tượng hoa qua kế hoạch “Công nghệ cao hàng hải” năm 2000 và bằng việc tăng sức mạnh theo cấp số nhân cho Hải quân Quân đội Nhân dân Giải phóng.

Từ quan điểm là đoạn tuyệt với hàng thập niên với các bài diễn văn lịch sử “ý thức hệ hóa” của Đảng Cộng sản TQ, “Daguo Juequi”(Đại Quốc Quật Khởi) chứng thực cho chủ nghĩa thực dụng hướng ngoại của một cường quốc đang phát triển, được áp dụng để tránh căn bệnh mù quáng và kiêu căng đã đẩy đế quốc Trung Hoa, ở thế kỷ 19, vào một thời gian dài yếu đuối. Tác động một cách “hài hòa” và “hòa bình” (hai từ khóa chính thức của quan chức chính trị mới), mở TQ ra thế giới và nhất là thế giới vào TQ, đó có lẽ là quan điểm của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào.

Vào năm 2007, bằng nỗ lực ngoại giao hải quân chưa từng có, các tàu chiến TQ không những đã chính thức thăm viếng các cảng Pháp, Úc, Nhật, Nga, Singapore, Tây Ban Nha và Mỹ, mà còn tham gia vào diễn tập quốc tế chống nạn cướp biển đang gia tăng.

Tham vọng quyền lực mềm này cần phải được đặt vào tương lai, có tính đến môi trường khu vực và hai điểm cược chính. Điểm cược đầu tiên liên quan đến yêu sách lãnh thổ với Đài Loan và lớn nhất là về chu vi lãnh hải, được TQ xác định là vùng đặc quyền kinh tế(EEZ) ; việc thỏa mãn các yêu sách này tùy thuộc vào sự tự do  thông thương trong không gian biển cả rộng lớn của Thái Bình Dương và vào hành lang hàng hải của Đông Nam Á, ở bên kia bán đảo Đông Dương. Điểm cược thứ hai nói về việc bảo vệ các đường vận chuyển xăng dầu trên biẻn của  TQ, một nước nay trở thành nhà nhập khẩu dầu lửa thứ hai trên thế giới.

Tranh chấp hàng hải ở châu Á


Bản đồ của  Philippe Rekacewicz

Hiện tại thì điểm cược đầu có tính quyết định. Với cả 13 nước láng giềng (3), Bắc Kinh đạt được một thỏa thuận thân thiện  về biên giới gây tranh chấp trên bộ .

Chỉ hai nước Bhutan và Ấn Độ vẫn có phần nào đó ít nhiều còn chống đối TQ. Ngược lại, theo ông Loïc Frouart, thuộc vụ chiến lược Bộ Quốc phòng Pháp, “cả 14 500 km đường biên giới trên biển cũng là  hàm chứa chừng ấy  tiềm tàng khủng hoảng và va chạm. Các vụ tranh chấp ở đấy rất sâu xa và chưa thể giải quyết được (4)”. Tóm lại, Bắc Kinh đòi chủ quyền đầy đủ và  toàn thể 4 triệu km vuông mặt biển.

.

Dĩ nhiên là lãnh đạo TQ muốn thu lại chủ quyền đảo Đài Loan, “bằng sức mạnh nếu cần”. Đó luôn là quan điểm chính thức của Bắc Kinh, ngay cả với việc trở lại nắm quyền ở Đài Bắc của ông Mã Anh Cửu, Chủ tịch Quốc Dân Đảng, đã hâm nóng lại mối quan hệ giữa hai bờ. Qua sức mạnh tăng vọt nhanh chóng của hải quân mình và sự suy giảm, cho dù là tương đối, về hiệu số tải trọng của hải quân Mỹ, TQ muốn đánh vào tâm lý về tiến trình diễn biến “tất yếu” trong việc đưa Đài Loan trở lại đất mẹ một cách hòa bình. Lý lẽ ở đây chính là lôgích răn đe- lôi kéo, các quả tên lửa chĩa sang đảo – và thái độ của Mỹ – khiến Đài Bắc không thể tuyên bố độc lập, trong khi sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa lục địa và hòn đảo đang gia tăng, Đài Loan  đang sửa soạn cho tinh thần “tái hội nhập” kiểu Hồng Kông.

Mục tiêu: tiến ra vùng biển sâu

Tuy nhiên, Đài Loan chỉ là một quân cờ trong ván “cờ vây”(GO) hàng hải mênh mông. TQ chống lại Nhật Bản về quần đảo Diaoyu (Nhật gọi là Senkaku), gần đảo Okinawa, nơi có căn cứ Mỹ. Tokyo dằn từng tiếng là vùng đặc quyền  kinh tế của mình kéo dài đến 450 km phía tây quần đảo, đây là điều mà Bắc Kinh tranh cãi bằng cách cho là toàn bộ lãnh thổ  thềm lục địa kéo dài đến biển Đông TQ. Điểm cược phụ của cuộc xung đột: một mỏ khí có khả năng chứa đến 200 tỷ mét khối khí đốt. TQ cũng tranh chấp với Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Inđônêxia về quần đảo Trường Sa (TQ gọi là Nam Sa) và quần đảo Prata (Đông Sa). TQ tranh giành  với Việt Nam và Đài Loan quầnđảo Hoàng Sa (Tây Sa).

.

Mặt khác, ngoài những yêu sách về đảo, TQ còn tranh chấp với Nhật Bản và Việt Nam về biên giới đường biển. Phần phân chia sản lượng(quota) đánh bắt  cũng làm cho ông khổng lồ Á châu mới đối đầu với Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Philippines.

Ngày nay người ta quên là Bắc Kinh  luôn có phản ứng cực đoan trong vùng. Vào những năm 1950, hải quân TQ đã dùng sức mạnh để lấy lại các hòn đảo nhỏ ven biển do lính quốc gia của Tưởng Giới Thạch kiểm soát. Năm 1974, nhân sự thất trận của miền Nam Việt Nam, TQ chiếm quần đảo Hoàng Sa. Năm 1988, TQ dùng sức mạnh để đoạt đảo đá ngầm chữThập(Fiery Cross) trong quần đảo Trường Sa do Việt Nam chiếm giữ. Dựa vào những tiền lệ này, tất cả các nước trong khu vực, các chư hầu và triều cống cũ của đế quốc Trung Hoa, rất sợ, dù đúng hay sai, tham vọng hải quân– đã được tái khẳng định– của Bắc Kinh.

Tám hạm đội tàu chiến hàng đầu trên thế giới

Hoa Kỳ:          2 900 000  tấn

Nga:               1 100 000  tấn

TQ:                    850 000  tấn

Anh:                   470 000  tấn

Nhật Bản:          432 000  tấn

Pháp:                 307 000  tấn

Ấn Độ:               240 000  tấn

Ý:                      143 000  tấn

(Nguồn: Bernard Prézelin, Các hạm đội tàu chiến 2008, Nxb hàng hải và hải ngoại, Rennes, 2008)

Điều còn lại trước khi chiếm hữu các nguồn tài nguyên dầu mỏ hoặc các đàn cá ở biển Nam Trung Hoa chính là đưa hạm đội TQ ra biển khơi theo các phương án do Đô Đốc Liu Huaqing (Lưu Hoa Thanh) vạch ra vào những năm 1980 (5). Vào thời gian đầu, đó là tự đặt ra một “đường xanh lục” đi từ Nhật đến Malaysia, qua Đài Loan và Philippines, mà không tạo ra tranh chấp hàng hải. Đối thủ chính: hải quân Nhật, mà Bắc Kinh đã bắt đầu “thử nghiệm” qua các cuộc xâm nhập dồn dập bằng tàu ngầm (đã xảy ra một vụ rắc rối liên quan đến một chiếc tàu ngầm hạt nhân của TQ trong năm 2004).

Đến thời gian tiếp theo, Bắc Kinh sẽ thử làm cho đường Maginot(*)không còn liên tục, để đi từ vùng nước ít sâu của biển Đông và Nam TQ sang “vùng nước xanh lam” của vũng thứ hai chạy từ Nhật đến Inđônêxia, qua Guam, điểm tựa của không- hải quân Mỹ ở phía tây Thái Bình Dương. Cái chốt và vật cản chính cho việc phát huy sức mạnh của TQ giữa “đường xanh lục” nước không sâu và “đường xanh lam” đại dương mà hạm đội 7 của Mỹ tuần tra là: Đài Loan. Vào tháng giêng năm 2008, ông KhaThừa Hưởng (Ko Chen-heng), thứ trưởng quốc phòng của Đài Loan, đã tố giác hoạt động dữ dội của hải quân TQ quanh hành lang Bashi, một lạch thắt eo nằm giữa Đài Loan và Philippines.

Một khi mà các chốt này đã được mở ra thì hải quân TQ có thể tự do hơn để chuyên tâm vào điểm cược thứ hai: sự an toàn cho các hành lang vận chuyển dầu lửa trên biển ở Nam Á. Hành lang đầu tiên giành cho các tàu chở dầu dưới 100 000 tấn, từ châu Phi và Cận Đông đến biển Nam TQ qua eo Malacca. Cũng là vùng sản xuất, hành lang thứ hai đưa các tàu chở dầu khổng lồ qua các eo Sonde và Gaspar (6). Hành lang thứ ba, từ châu Mỹ Latin qua vùng biển Philippines. Hành lang thứ tư, con đường thay thế đi từ Cận Đông và châu Phi, uốn éo giữa các vịnh Lombok và Macassar của Inđônêxia, Philippines và tây Thái Bình Dương trước khi về đến các cảng TQ.

Lạch thắt eo chính, Malacca, có đến 80% dầu lửa nhập khẩu của TQ phải đi qua, là sự phụ thuộc đáng lo ngại khi xảy ra xung đột. Đáp lại, Bắc Kinh thử thay đổi các con đường, ví dụ như triển khai một hệ thống đường sắt nối các nước ASEAN (7); cụ thể hóa dự án hệ thống ống dẫn dầu trực tiếp TQ- Miến Điện giữa Sittwe và Côn Minh (8); giúp phát triển năng lực sản xuất khí hóa lỏng ngoài khơi Đông Nam Á (đặc biệt là ở Miến Điện và Thái Lan); thậm chí đào một con kênh qua eo đất Kra, tại phía nam Thái Lan (một vùng được đánh dấu bằng sự nổi dậy của những người địa phương ly khai).

Các hành lang an toàn cho nhập khẩu năng lượng

Nhưng các dự án này, khó thực hiện, chỉ làm giảm một phần sự phụ thuộc vào bốn hành lang nói trên. Việc bó buộc phải tạo an toàn cho các hành lang, để đối phó với nạn cướp biển đang bùng nổ cũng như là với tham vọng (thực tế hay giả thuyết) của Hoa Kỳ, Nhật Bản hoặc Ấn Độ, đã củng cố thêm đường lối chính trị “hải quân biển khơi” của trung ương Đảng CSTQ. Bắc Kinh đã xây dựng cái mà người ta gọi là “chuỗi ngọc trai”, một chuỗi các căn cứ thường trực của TQ lốm đốm trên bờ biển Ấn Độ Dương và các con đường hàng hải đưa đến Malacca: các đảo Cocos ở Miến Điện, Chittagong ở Bangladesh, Marao ở quần đảo Maldives và Gwadar ở Pakistan, trong khi vẫn chờ các căn cứ trên bờ biển châu Phi ngày càng mở ra cho các nhà đầu tư TQ. Nhân công và ngân quỹ được chi thoải mái cho việc quy hoạch và bảo trì các điểm tựa tại những nước đồng minh. Đến cả việc Bắc Kinh rất hào phóng tặng các tàu chiến cho những quốc gia này để bảo vệ các vùng khai thác dầu mỏ (9).

.Ngoài một châu Mỹ – trong trường hợp nầy là Hoa Kỳ – xem Thái Bình Dương như là sân khấu chiến lược chủ yếu trong 50 năm tới, TQ có hai đối thủ tầm cỡ trong vùng: Ấn Độ và Nhật Bản. Một sự ngờ vực dai dẳng đã và đang chia rẽ hai ông khổng lồ về nhân khẩu: chẳng phải chính TQ lâu nay vẫn trợ giúp Pakistan về vấn đề Cashmire, và chẳng phải TQ vẫn liên tục cung cấp cho Islamabad các khí tài chiến tranh hay sao? Với khát vọng có được địa vị như Bắc Kinh (một cường quốc khu vực tiến lên toàn cầu), New Delhi cũng có tham vọng hải quân tương tự và một hạm đội đang mở rộng, với mục tiêu chiến lược đã được biểu lộ là biến Ấn Độ Dương thành “Đại dương của người Ấn”. Chiến lược “chuỗi ngọc trai” của Bắc Kinh như vậy được xem như là một sự tiếm vị.

Để khẳng định cái mà mình xem là ao nhà, Ấn Độ đang đóng hai chiếc hàng không mẫu hạm, mà chiếc đầu tiên sẽ phải đi vào hoạt động năm 2010, trong khi chiếc thứ ba, mua rẻ của Nga, đang được hiện đại hóa. Hạm đội tàu ngầm của Ấn thuộc công nghệ Pháp (loại Scorpène), chất lượng trội hơn hẳn các tàu ngầm TQ. Vì thế, trong giai đoạn quan sát lẫn nhau, cả Ấn Độ lẫn TQ đều cẩn thận tránh tất cả mọi căng thẳng trên biển. Người ta cũng nhận thấy được sự cải tiến trong quan hệ giữa hải quân hai nước, các cuộc diễn tập hải quân chung của hai bên kể từ khi có bản ký kết đối tác chiến lược giữa Bắc Kinh và New Delhi vào tháng Tư năm 2005.

Trong khi đó, quan hệ TQ- Nhật Bản vừa trải qua giai đoạn cực kỳ căng thẳng. Mạnh, hiện đại hơn hẳn hạm đội TQ, hải quân Nhật Bản đã từ lâu thao diễn chung với người đồng cấp Mỹ. Nhưng vụ xung đột quanh quần đảo Senkaku đã cho thấy một nước Nhật đang co dúm lại, bị  Hiến pháp hòa bình gò bó cũng như bị trào lưu dân tộc chủ nghĩa chỉ trích, và không quyết đoán trước sự táo tợn của Bắc Kinh.

Tóm lại, trên cả New Delhi và Tokyo, sự quá trớn của TQ làm các nước khác khiêm tốn hơn lo lắng, từ Malaysia đến Inđônêxia, qua Singapore – các nước này nhanh chóng tăng cường và hiện đại hóa hạm đội của mình. Nhóm nước này sợ là Washington, vì bị dính chân ở Irắc và Afghanistan, để cho bá quyền TQ tự do thao túng trong vùng, và rằng chủ nghĩa khoan hòa tạm thời này không thể trở thành ổn định.

.

Ý thức được cơ hội và khó khăn này của Mỹ, các nhà máy đóng tàu TQ làm việc hết công suất, từ Hoàng Hải đến Nam Hải. Những căn cứ hải quân, các cảng sông, đê điều và căn cứ tàu ngầm được bảo vệ (căn cứ mới Sanya trên đảo Hải Nam) cứ tăng lên và hiện đại hóa, đồng hành với sự bùng nổ kinh tế của một quốc gia có 90% ngoại thương tùy thuộc vào đường biển. Năm 2006, công nghiệp biển chiếm 10% sản lượng quốc nội,

Chiếc Lưỡi Bò  của Trung Quốc

và 7 trong 20 cảng đứng đầu thế giới thuộc TQ. Nỗ lực dân sự ngang bằng quân sự. Kế hoạch “Công nghệ cao hàng hải” đã cùng đồng hành với việc tăng tốc đóng tàu hải quân bằng cách song song tài trợ các dự án củng cố tính tự chủ của hạm đội: hệ vệ tinh định vị tên Beidou, phương tiện giám sát hàng hải, và triển khai các nhà máy đóng tàu hải quân.

Trong lĩnh vực dân sự, TQ năm 1995 đã trở thành nhà đóng tàu thứ ba trên thế giới sau Nhật và Hàn Quốc, mà từ đó nó đe dọa sự thống trị. Dựa vào hai tập đoàn khổng lồ, Tập đoàn Đóng tàu Nhà nước TQ (CSSC) và Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu TQ (CSIC), TQ có tất cả các cơ hội để trở thành công trường đóng tàu hải quân số một của thế giới vào cuối năm 2020, điều mà còn lâu là vô thưởng vô phạt: việc đóng tàu dân sự và quân sự phần lớn được trộn lẫn  chung với nhau trong kế hoạch quốc gia, và do cùng xưởng đóng tàu quản lý.

Khi Hoa Kỳ phát sợ

.

Về mặt quân sự, Sách Trắng Thứ năm, được biên soạn vào năm 2006 (10), cụ thể hóa nhận thức về hàng hải của Bắc Kinh, được khởi sự vào đầu những năm 1990. Thứ tự ưu tiên đã được thay đổi, từ bộ binh, theo truyền thống là chủ lực, sang hải quân và không quân từ nay được nuông chiều hơn. Trung ương ĐCS TQ, cũng như là quân ủy trung ương đầy quyền năng, do được tâng bốc, ngày càng có nhiều tướng tá hải quân và không quân (11); những người này đại diện cho gần 25% thành phần quân sự ưu tú vào năm 2007, so với 14% vào năm 1992.

Không có hệ thống chủ đạo nào được chừa ra. Ba hạm đội (bộ tư lệnh hải quân phía Đông, ở Thượng Hải, phía Nam, ở Trạm Giang(Hà Nam-Quảng Đông), và phía Bắc, ở Thanh Đảo), mỗi hạm đội được bố trí một sư đoàn không quân của hải quân với trang bị là máy bay ném bom và máy bay tiêm kích. Các hệ thống hiện đại hơn cũng được chuyển giao, chẳng hạn như 4 tàu khu trục phòng không Luyang, hoặc các tàu hộ tống chống tàu ngầm Ma’an-shan đóng tại địa phương, phần tiếp nối của các tàu Jiangwei những năm 1990. Vào cuối những năm 1970, khi mà hạm đội TQ đã bố trí trên 500 tàu tuần tra bờ biển, số tàu này đã giảm xuống một nửa; trái lại, hạm đội biển khơi lại tăng mạnh, đạt đến 60 đơn vị (12).

Trong lĩnh vực thủy lục phối hợp, một nỗ lực lớn cũng được chấp thuận, với 100 tàu chiến có nhiệm vụ cụ thể hóa tham vọng của TQ đối với quần đảo Trường Sa hoặc Đài Loan. Các tàu vớt mìn, những tàu tuần tra phóng tên lửa và những tàu tiếp dầu mới cũng được đặt hàng. Thường là với sự tham gia của các nước ngoài: từ thuyền buồm hai thân tốc độ lớn WPC của Úc đến tàu khu trục Sovremenny và tàu ngầm Kilo của Nga, từ những hệ thống chiến đấu của Ý và Pháp đến pháo nòng lớn của hải quân Hà Lan (13).TQ thường nhập khẩu, sao chép, thu nhận và cải tiến – dưới sự ngạc nhiên của các nhà cung cấp – những khí tài mà nó quan tâm nhất. Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực, như chiến tranh điện tử hoặc động cơ [phản lực] và hệ thống chiến đấu hiệu năng cao, TQ vẫn còn lệ thuộc vàocác nhà cung cấp nước ngoài, và đặc biệt là nước Nga. Các tàu ngầm bản thân nó giữ một vị trí trung tâm trong chương trình hàng hải toàn cầu của Bắc Kinh. TQ chưa trang bị hàng không mẫu hạm nào mặc cho tin đồn liên tục về hiện trạng chiếc Varyag mua của Moskva (và luôn nằm ụ ở bến tàu), trên thực tế chỉ có tàu ngầm hiện đại mới có thể ngăn cản dù chỉ là chút ít hạm đội thứ 7 của Mỹ, từ các căn cứ của nó ở Guam, Nhật Bản và Hàn Quốc, luôn bảo đảm cho quyền tự chủ của Đài Loan. Hạm đội TQ có thể trông cậy vào 5 tàu ngầm tấn công (SNA) và 1 tàu ngầm hạt nhân phóng tên lửa (SNLE) mang được từ 12 đến 16 tên lửa hạt nhân tầm xa 3, 500 km. Hơn nữa, hạm đội TQ cũng trang bị khoảng 30 tàu ngầm điezen-điện. Ngoài ra cũng nên kể đến 20 tàu ngầm mới đang được đóng.

.

Kho vũ khí này làm hạm đội 7 lo lắng đến độ các đô đốc [hải quân] bao vây Quốc hội và Nhà Trắng bằng cách tuyên bố là hạm đội tàu ngầm của TQ sẽ vượt qua số “tàu đen” hiện có của Mỹ tại Thái Bình Dương vào năm 2020. Một số dân biểu nhiều thế lực, như ông Duncan Hunter (14), gần đây rất xúc động về chuyện đó. Chỉ 12 tháng trong năm 2007 mà các tàu SNA của TQ đã thực hiện số lần tuần tra nhiều hơn 5 năm trước cộng lại. Người ta cũng thấy được nỗi lo này trong báo cáo hàng năm của Lầu Năm góc về sức mạnh quân sự TQ (15). Một nỗi lo cực kỳ tương đối: chẳng có ai thực sự biết được tính năng – có lẽ là yếu – của các tàu ngầm tốt nhất của TQ. Hơn thế nữa, hải quân Mỹ có đến 53 tàu SNA tối tân (gấp đôi tổng số các hải quân khác của thế giới) cũng như sở hữu 12 trong số 15 hàng không mẫu hạm trên thế giới, và một phi đội máy bay chống tàu ngầm mà chẳng ai có được giống như thế. Số mới nhất của tạp chí Quadrennial Defense Review (Tạp chí Quốc phòng Tứ niên) (16), có tính trung lập hơn, cho rằng hợp tác tốt hơn đối đầu.

Còn về biển Nam Á, tình hình ở đấy chẳng giống một cuộc chạy đua vũ trang công khai. Đó là sự đối lập về dạng hình học bất thường giữa một bên là bộ tứ gồm các hạm đội Ấn Độ, Mỹ, Úc và Nhật Bản, với bên còn lại là bộ đội TQ-Pakistan.

Tham vọng của hải quân TQ hình như đến từ một sự thất vọng, sự thất vọng của một cường quốc kiêu hãnh đã bỏ lỡ không nắm lấy bước ngoặc cho phép mình thống trị thế giới, cách đây 400 năm, lúc toàn cầu hóa lần đầu do bọn “hung nô” Tây phương thu tóm. Vào thời kỳ đó, người Hoa đã làm chủ việc đi biển và dùng địa bàn, đã “phát minh” mỏ neo, in bản đồ hàng hải, tời đứng, cánh lái, và lập xưởng đóng tàu to có nhiều cột buồm chão xoay được (17). Thuyền của họ có ngăn không thấm nước và bánh lái sống đuôi. Những đổi mới lại do phương Tây hoàn thiện, và dùng để… hạ nhục đế quốc Trung Hoa. Theo dấu nhà hàng hải vĩ đại đầu tiên, Trịnh Hòa.

Tàu sân bay, giấc mơ của Trung Quốc trong thế kỉ 21

Lúc cuối triều Minh (1358-1644) đã chứng kiến Trung Hoa bỏ biển khơi và quên hẳn các cuộc viễn chinh vào thế kỷ thứ XV do hoạn quan đề đốc Trịnh Hòa chỉ huy hạm đội của hoàng đế, gồm trên 300 tàu, thám hiểm không gian đại dương trên thế giới (18). Việc đóng tàu biển khơi có thể bị xử tội chết. Một sai lầm mà ngày nay được chỉ rõ, và một di sản từ nay trở nên có giá trị.

Để tăng cường sự hiện diện của TQ trên lục địa đen, trang web chính thức Chinafrique kể lại lịch sử cảm hóa của một cô bé Kenya, Mwamaka Shariff, “hậu duệ lính hải quân Trung Hoa bị mắc cạn trên một bãi đá ngầm, cách đây trên 500 năm”. Được mời, vì tin vào dòng họ, vào một trường đại học TQ không mất tiền, cô bé cũng đã được tham gia vào buổi lễ Ngày đi biển của Trịnh Hòa, tại Thái Sương(Taicang, tỉnh Jiangsu), nơi xuất phát huyền thoại của hạm đội hoạn quan triều đình. Trang web kể, đầy hứng khởi, lời của cô bé: “Em cảm thấy mình trở về nhà (19)”…

Tương lai nào cho vùng biển rối ren ở Đông Nam Á? Các sáng kiến của Mỹ  được nhân lên không những để củng cố sự trao đổi và hợp tác với hải quân châu Á (Ấn Độ và Nhật Bản) mà còn với hải quân TQ, chủ ý nhằm để thử kiểm soát được phần nào hay phần đó sự bành trướng được đoán là bùng nổ như sét đánh.

Diễn tập cuối cùng cho đến hôm nay, Sáng kiến về Đối tác Hàng Hải Toàn cầu (Global Maritime Partnership Initiative), do hải quân Mỹ đề nghị vào năm 2007 và được thành lập trên liên minh hàng hải toàn cầu, mà mỗi “thành viên” – kể cả TQ – được đề nghị đóng góp một “hạm đội nghìn tàu” dùng vào việc đấu tranh chống cướp biển. Như ông Dương Nghị (Phó đô đốc Yang Yi), giám đốc Viện nghiên cứu chiến lược thuộc Đại học quốc phòng quân đội TQ, đã nói rõ là không chắc TQ chấp thuận đề nghị như thế khi nào mà TQ vẫn chưa xác định được các ẩn ý, bản chất kép và đa hệ lụy dài hạn (20).

Hình như TQ đã quyết không cho bất cứ diễn tập kéo dài nào lấy đi cơ hội lịch sử thứ hai để trỗi dậy như cường quốc hàng hải toàn cầu và giành lại chủ quyền biển đảo. Cơn “hiểm họa vàng” hiện ra như là ảo ảnh; TQ, không quên cuộc chiến tranh thuốc phiện lẫn sự cướp phá Lâu Đài Mùa hè “Hạ Đình lâu” (21), vì thế không cho phép bất cứ ai đe dọa hoặc ép buộc mình. Do đó bản thân nó phải tự “đề phòng”. Ngay cả khi khả năng của TQ còn lâu mới vượt qua được khả năng thống lĩnh của hạm đội Mỹ, lịch sử được dùng làm địa bàn và lời cảnh báo cho lực lượng hải quân mới của TQ, và mỗi thành tựu của hải quân nước nầy chỉ có giá trị tượng trưng. Vào năm 1989, 20 năm trước sự lớn mạnh như chớp của hạm đội, chiếc tàu đầu tiên của Hải quân Quân đội Nhân dân Giải phóng viếng thăm chính thức Hoa Kỳ là một tàu huấn luyện. Vào thời đó, chẳng ai vội gì mà bình luận về tên của chiếc tàu: Trịnh Hòa.

Olivier Zajec

(1) Trang giới thiệu bộ phim tại http://finance.cctv.com/special/C1&#8230;

(2) Joseph Kahn, “Trung Quốc, gã khổng lồ e lệ, có dấu hiệu vứt bỏ tính khiêm tốn giả tạo,” Thời báo New York, 9/12/2006.

(3) Afghanistan, Miến Điện, Bhutan, Bắc Triều Tiên, Kazakhstan, Kirghizstan, Lào, Mông Cổ, Nepal, Pakistan, Nga, Tadjikistan, Việt Nam.

(4) Tạp chí quốc phòng quốc gia và an ninh tập thể, Paris, 5/2007, tr. 31.

(5) Xem Alexandre Sheldon-Duplaix, “Hải quân Quân đội Nhân dân Giải phóng từ 1949 đến nhày nay”, trong Tạp chí lịch sử quân đội, số 230, Paris, 2003. Ông Liu cũng là lãnh đạo hải quân TQ đầu tiên viếng thăm chính thức Hoa Kỳ vào năm 1985.

(6) Eo biển Sonde ngăn các đảo Java và Sumatra. Eo Gaspar ngăn các đảo Bangka và Belitung ở Inđônêxia.

(7) Đọc Xavier Monthéard, “Và xe lửa sẽ sớm thổi còi ở Lào”, Thế giới ngoại giao, 8/2008.

(8) Sittwe nằm bên bờ tây Miến Điện; Côn Minh là cảng sông của Yunnan, nam TQ.

(9) Vào tháng 10 năm 2007, TQ đã tặng 9 tàu tuần tra cho Campuchia để bảo vệ các giàn khoan dầu trong vịnh Thái Lan. Xem Tin Quốc phòng, Nxb quốc tế Springfield (Virginia), 18/2/2008, tr. 1.

(10) Sách trắng đầu tiên cùa TQ được xuất bản vào năm 1998.

(11) Xem Li Cheng và Scott W. Harold, “Tinh hoa quân sự mới của TQ”, An ninh TQ, tập 3, số 4, Washington, mùa Thu 2007, tr. 72.

.

(12) Một chiếc tàu được xem là thuộc “biển khơi” từ 2 000 tấn.

(13) Đọc Bernard Dreyer, “Sự tiến lên cường quốc hàng hải của TQ”, Quốc phòng, (và trên trang web http://www.questionchine.net) Paris, 12/2005.

.(14) Dân biểu Cộng hòa bang California, người thường bảo vệ ngân sách công nghiệp quốc phòng Mỹ.

(15) Xem http://www.defenselink.mil/pubs/pdf… Một báo cáo mà một số nhà phân tích Mỹ và châu Âu tố cáo tính gây lo sợ và xấp xỉ, nhưng không bác bỏ sự tiến bộ của TQ.

(16) Tạp chí Quốc phòng Tứ niên, được Bộ Quốc phòng Mỹ xuất bản mỗi 4 năm, trình bày chiến lược quốc phòng của Hoa Kỳ theo chu kỳ 20 năm.

(17) Đọc UCLA Center for Chinese Studies.

(18) Là đề đốc, Trịnh Hòa đã thực hiện 7 chuyến đi trên đại dương, từ 1405 đến 1433.

(19) Trang web Chinafrique, bằng Anh ngữ, Pháp ngữ và Hoa ngữ, cung cấp các bài cảm hóa khác: “Thủ tướng TQ bắt tay bệnh nhân HIV châu Phi”; “Cuộc đời hạnh phúc của một người Congo ở Bắc Kinh”; “TQ giúp tôi làm giàu”; “Trước là hữu hảo, tiếp theo là buôn bán”; “Người ta không bao giờ có thể dán nhãn thực dân mới cho TQ”, v.v.

(20) China Security, op. cit.

(21) Cuộc chiến tranh giới thiệu kinh doanh thuốc phiện ở Trung Hoa, do người Anh đơn độc gây ra (1839-1842) rồi bởi liên minh Anh-Pháp (1858-1860), chịu trách nhiệm cho vụ cướp phá Hạ Đình lâu của hoàng đế (10/1860). Đọc “Thư gửi chỉ huy Butler” của Victor Hugo, tái bản trong Thế giới ngoại giao, 10/2004.

http://www.monde-diplomatique.fr/2008/09/ZAJEC/16244

phụ chú:

Chiến tuyến Maginot lấy tên của Bộ trưởng Lục quân Pháp, người đưa ra ý tưởng xây dựng đường biên giới bằng chiến hào giữa Pháp và  Đức trong thế chiến thứ 1.(HLT chú)

Chiến tuyến Matignot để ngăn quân phát xít Đức

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 29. Nghịch lý Trung Quốc – Thủ đoạn đe dọa của Bắc Kinh là lời cảnh báo cho mọi quốc gia trên thế giới

Posted by anhbahoa on November 27, 2009

Bài 29

Nghịch lý Trung Quốc – Thủ đoạn đe dọa của

Bắc Kinh là lời cảnh báo cho mọi quốc gia trên thế giới

The China Paradox – Beijing’s intimidation tactics are a warning to countries everywhere *

18/8/2009

Andreew Shearer

The Wall Street Journal

.

Ngày hôm qua ở Australia có hai động thái cho thấy cái nghịch lý trong mối quan hệ với Trung Quốc: Ngoại trưởng Australia Stephen Smith xác nhận rằng chuyến viếng thăm đã được dự trù của Thứ trưởng He Yafei đã bị Chính phủ Trung Quốc hủy bỏ vì Canberra quyết định cấp visa cho nhà lãnh đạo Úy Ngô Nhĩ đang lưu vong Rebiya Kadeer. Cũng trong ngày hôm qua, thông báo về thương vụ khí hóa lỏng trị giá 50 tỷ đô la Australia (41 tỉ đô la Mỹ) đã tái khẳng định tầm quan trọng của Trung Quốc về mặt kinh tế đối với Australia và nhu cầu vô độ của Trung Quốc đối với tài nguyên và năng lượng của Australia.

Cái thế lưỡng nan là: các quốc gia tự do càng xích gần tới Trung Quốc bao nhiêu thì khả năng bị va chạm với lợi ích của Đảng Cộng sản càng lớn bấy nhiêu. Các đối tác của Australia ờ châu Á và những nơi khác cần lưu ý đến bài học mà Canberra đang phải chịu này.

Bề ngoài Bắc Kinh chẳng vui gì với cái mà họ cho là những cú đấm có tính toán của Australia vào lợi ích Trung Quốc. Trước tiên Canberra mạnh dạn tiết lộ kế hoạch phòng thủ, nghi ngờ ý định nằm đằng sau việc Trung Quốc nhanh chóng xây dựng hải quân và thừa nhận Australia sẽ tăng cường sức mạnh hàng hải của riêng mình. Sau đó, vào tháng Sáu, kế hoạch của Công ty quốc doanh Chinalco nhằm đạt được số vốn chủ yếu trong Công ty Rio Tinto bị sụp đổ – cho dù kế hoạch này cuối cùng bị ngăn lại không phải do Chính phủ Australia, mà là do các cổ đông hợp pháp của Rio Tinto không an tâm. Và cuối cùng là quyết định vào tháng Bảy của Canberra cấp visa cho bà Kadeer. Các nhà ngoại giao Trung Quốc vụng về đã làm cho bà trở nên có chính nghĩa ngời ngời ở Australia bằng cách cố gắng một cách vô vọng dựa vào các nhà tổ chức để ngăn không cho bà xuất hiện tại một cuộc liên hoan phim quốc tế Melbourne và tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia.

Nhưng lý do căn bản hơn khiến Bắc Kinh giận dữ có lẽ ở chỗ khác. Trung Quốc dựa vào Australia về nhập khẩu quặng sắt, việc thương thuyết giá quặng lại ngày càng gay gắt. Các nhà lãnh đạo chính trị Trung Quốc thấy việc đảm bảo có nguyên liệu giá rẻ là sinh khí đối với việc duy trì tăng trưởng và do đó đối với cả tính chính đáng chính trị và sự sống còn của chính họ. Điều này khiến cho khoáng sản và năng lượng có tầm quan trọng chiến lược sinh tử. Họ nhất quyết khai thác sức mạnh của người mua để tránh phải trả theo giá thị trường hiện hành. Và rõ ràng họ không đi xa hơn chuyện chỉ đe dọa một tí. Các quốc gia châu Á nhỏ hơn như Singapore và các cường quốc châu Âu lớn hơn như Pháp đã phải trả giá vì sự phẫn nộ của Trung Quốc rồi.

Việc Trung Quốc bắt nạt cũng đang có tác động hiển nhiên ở Australia. Giá cổ phiếu của Rio Tinto giảm 3% khi Công ty bị cáo buộc trên các phương tiện truyền thông Trung Quốc là đã phạm tội gián điệp thương mại. Nhiều người trong giới kinh doanh Australia lo lắng, một số trường hợp hủy bỏ kế hoạch đi Trung Quốc sau khi Stern Hu, một viên chức quản trị của Rio Tinto, bị bắt. Phe ủng hộ Trung Quốc trên phương tiện truyền thông và trong cộng đồng kinh doanh đang thúc giục một thỏa ước về quyền được ưu tiên mua trước. Hôm thứ hai, Fortescue Metals Group, một Công ty khai khoáng chính khác của Australia, đồng ý bán quặng sắt với giá thấp hơn của Rio Tinto để đánh đổi việc Trung Quốc cung cấp cơ sở hạ tầng giá rẻ trị giá 6 tỉ đô la Mỹ. Hội Sắt Thép Trung Quốc vốn hùng hổ, tuyên bố ngay rằng nó sẽ sử dụng giá thỏa thuận với Fortescue làm đòn bẩy để thương thảo với ba nhà sản xuất quặng sắt lớn nhất thế giới. Hôm qua, Petro China, một công ty quốc doanh khác, đồng ý mua khoảng 50 tỉ đô la Australia (41 tỷ đô la Mỹ) khí hóa lỏng của một đề án Australia.

Thật cám dỗ đối với Australia và các quốc gia châu Á khác để hạ thấp tính nghiêm trọng của các hành động ngoại giao Trung Quốc, để cho rằng các hành động đó không có liên hệ gì và phải xử lý như những vụ rắc rối song phương đơn thuần. Nếu những quan ngại của Bắc Kinh có thể giải quyết lặng lẽ đằng sau những cánh cửa đóng kín, thì không nghi ngờ gì nữa, điều này được trình bày như một bằng chứng cho thấy Thủ tướng Rudd vốn nổi tiếng thông hiểu Trung Quốc ra sao. Điều này cũng trao cho Trung Quốc một chiến thắng chính trị ở trong nước.

Xét về dài hạn, một sự rút lui như thế khó lòng phục vụ cho lợi ích tối thượng của Australia và khu vực. Tính chăm chăm hám lợi của Trung Quốc, sự giận dữ của họ trong những cuộc hội đàm thẳng thắn về những kế hoạch quân sự của Trung Quốc và những nỗ lực của họ để dập tắt chuyện tự do ngôn luận thậm chí bên ngoài biên giới Trung Quốc, tất cả đều có liên quan đến nhau. Tất cả đều cho thấy phần nào sức mạnh đang trỗi dậy và sự sẵn sàng của Trung Quốc triển khai sức mạnh này ở nơi nào Bắc Kinh cảm thấy lợi ích của mình bị đe dọa – bất chấp các chuẩn mực quốc tế hay lợi ích của các nước khác. Nhưng tất cả còn là sản phẩm của các thiết chế nội địa Trung Quốc. Tính bí mật, sự khống chế của nhà nước và chuyện lạm dụng sức mạnh một cách vô cớ, không kể đó là lĩnh vực thương mại, quân sự hay ngoại giao, làm nổi bật không phải sức mạnh Trung Quốc, mà là sự mỏng manh của hệ thống chính trị và bệnh hoang tưởng của giới lãnh đạo.

Australia cần phải giữ vững lập trường của mình khi đứng trước các thủ đoạn đe dọa của Bắc Kinh. Và các quốc gia trong khu vực cần hợp sức chống lại nỗ lực của Bắc Kinh vặt từng quốc gia một và bẻ cong các luật lệ đã được chấp nhận theo các mục đích riêng của Trung Quốc. Châu Á, bao gồm cả Trung Quốc, đã phát triển mạnh trong suốt nửa thế kỷ, nhờ một trật tự kinh tế và chiến lược khu vực có tính chất mở và minh bạch. Không có lý do gì mà Trung Quốc không thể tiếp tục phát triển trong cái khuôn khổ đã thành công lớn như thế.

Đẩy mạnh sự trung thành trong khu vực với các luật lệ đã xác lập – không kể hành xử thương mại, luật pháp, ngoại giao hay chuyện lưu thông trên biển – là con đường tốt nhất đối với các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á để bảo vệ lợi ích và sự tự chủ của mình trong một kỷ nguyên được xác lập bởi sự trỗi dậy đồng thời của Trung Quốc và Ấn Độ thành hai siêu cường. Các quốc gia dân chủ hàng đầu có nền kinh tế thị trường ở châu Á – Nhật Bản, Ấn Độ và cả một Indonesia đang vươn lên mạnh mẽ – có quyền lợi thậm chí lớn hơn trong việc cùng nhau giúp đỡ các thị trường mở, và bảo vệ các giá trị chung, bao gồm cả quyền con người và quyền tự do ngôn luận. Việc kêu gọi Trung Quốc chơi đúng luật sẽ đáng tin cậy hơn nếu các nền kinh tế phát triển tránh các tiêu chuẩn kép bằng cách chống lại sự cám dỗ của chủ nghĩa bảo hộ, cả dưới hình thức truyền thống lẫn hình thức “mềm”, hợp thời trang hơn.

Các nền dân chủ ở châu Á cũng nên cùng với Hoa Kỳ và Australia thảo luận cách thức có thể tác động đến ứng xử của Trung Quốc. Bộ Trưởng Thương mại Hoa Kỳ đã đi tiên phong khi ông nêu vụ ông Hu với nhà cầm quyền Trung Quốc – không phải vì thiện ý đối với Australia, mà là vì chính quyền Obama nhận ra ý nghĩa vụ án ông Hu đối với các chính phủ và công ty đang làm ăn với Trung Quốc, không kể họ có quốc tịch nào.

Chừng nào Bắc Kinh chưa xử sự với công dân của nó và cũng như với các nước khác một cách minh bạch, trọng thị và đúng luật, thì chừng ấy các nước khác có rất ít sự lựa chọn nào khác, ngoài việc cùng nhau bảo vệ cả các giá trị lẫn những lợi ích của họ.

Shearer là Giám đốc nghiên cứu và là senior research fellow của Viện Lowy về chính sách quốc tế, Australia.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 28. Các mối liên hệ về năng lượng Trung-Nhật: Triển vọng cạnh tranh chiến lược sâu sắc

Posted by anhbahoa on November 27, 2009

Bài 28

Các mối liên hệ về năng lượng Trung-Nhật:

Triển vọng cạnh tranh chiến lược sâu sắc

Sino-Japanese energy relations: Prospects for deepening strategic competition

Kent E. Calder

Nhóm chuyển ngữ Bauvinal.info

ĐƯỢC TRÌNH BÀY TẠI HỘI NGHỊ VỀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐƯƠNG THỜI ĐỐI VỚI NHẬT BẢN, NHÂN DỊP KỶ NIỆM GS. ASAKAWA KAN’ICHI

ĐẠI HỌC YALE, NEW HAVEN, CONNECTICUT

NGÀY 9 VÀ 10 THÁNG BA NĂM 2007

Thủ tướng Fukuda Yasuo và Thủ tướng Ôn Gia Bảo

Cả hai nước Nhật và TQ, những người khổng lồ ở châu Á khóa chặt nhau về kinh tế và có khả năng về cả chính trị, trong một điệu nhảy phức tạp về chính trị – kinh tế của loài bò cạp. Họ sản xuất ra khoảng hai phần ba sản phẩm kinh tế và chiếm hơn phân nửa chi tiêu quân sự tính trên toàn khu vực. Giao thương Trung-Nhật là một trong những nền giao thương mạnh mẽ và năng động nhất trên thế giới, tăng hơn gấp đôi trong năm năm qua.

Mặc dù dính chặt vào nhau trong phát triển kinh tế, tuy nhiên, TQ và Nhật luôn đứng ở thế không ngừng cảnh giác nhau trong mối quan hệ địa-chính trị, thật là nguy hiểm, hệ trọng toàn cầu, và đặc biệt là sự hiểu lầm lẫn nhau. Suốt chiều dài lịch sử, quan hệ tôn ti cho đến nay vẫn luôn giúp hình thành mối tương quan song phương giữa hai người khổng lồ này: một người luôn rõ ràng là thịnh vượng hoặc mạnh mẽ hơn người kia. Ngày xưa, đó là TQ; và từ khoảng một thế kỷ sau Thời kỳ  Minh Trị  Duy Tân thì Nhật nói chung là “ưu việt” hơn.

Chỉ trong vòng nửa thập niên gần đây một triển vọng chưa từng có tiền lệ là sự đồng thời phát triển  mạnh mẽ và sung túc của TQ và Nhật Bản bắt đầu hình thành. Một TQ kém phát triển đang phát triển nhanh chóng, trong lúc đó một Nhật Bản giàu có và chính chắn hơn thì vẫn tương đối ù lì, với cư dân từ năm 2005 đã bắt đầu một sự suy tàn thời bình chưa từng thấy trước đây.

Các điều kiện kinh điển về sự khó xử mạn tính trong an ninh và sự cân bằng trong đấu tranh quyền lực giữa các thế lực trưởng thành và thế lực đang lên,  nó phần nào ví như sự ganh đua của Anglo-German trước thềm Thế Chiến I, mà chúng ta đã thấy.[1]Căng thẳng địa-chính trị giữa TQ và Nhật Bản rất đa chiều. “Ám ảnh thống nhất” ở eo biển Đài Loan, và viễn cảnh trước mắt sự thay đổi địa chính trị trên bán đảo Triều Tiên là hai việc rõ ràng nhất.[2]

Tiến bộ nhanh chóng của kỹ thuật tên lửa TQ, và sự ứng phó của Nhật qua  hợp tác phòng thủ phi đạn của Mỹ, là một biểu hiện khác. Tuy nhiên, trong một thế giới mà thị trường đang căng thẳng về dầu mỏ và khí đốt, đã kích động lên qua sự bùng nổ phát triển kinh tế của TQ, vấn đề năng lượng trong cạnh tranh Trung-Nhật ngày càng tăng phần nổi cộm. Và các viễn cảnh về hợp tác năng lượng cũng nổi lên theo. Ràng buộc nhau về năng lượng là một khía cạnh đặc biệt  đáng quan tâm trong mối liên hệ Trung-Nhật vì nó là một “con dao hai lưỡi” mạnh mẽ, có tiềm năng là đòn bẩy bẻ ngoặc hoặc hợp tác hoặc xung đột giữa hai người khổng lồ.

Tương phản về tài nguyên thừa hưởng Nhật Bản, như mọi người đều biết, thiếu hụt một cách bất thường các tài nguyên năng lượng, chỉ với trữ lượng dầu được xác định là 59 triệu thùng — cung ứng được khoảng 10 ngày với mức tiêu thụ hiện nay.[3]Gạt sang bên vài giếng dầu nhỏ ở tỉnh Niigata trên bờ biển Nhật Bản và vài mỏ than chất lượng thấp ở Hokkaido, Nhật Bản hầu như  lúc nào cũng thiếu hụt chất Hydrocarbons. Thực vậy, Nhật  là nước nhập khẩu dầu mỏ đại qui mô từ cuối thế kỷ 19,và sức ép trong việc nhập khẩu dầu là nguyên nhân chính khơi mào cho cuộc chiến vào tháng 12/1941.[4] Hiện tại có đến 99% toàn bộ nhu cầu về dầu và khí đốt là phải nhập khẩu.

TQ thì ngược lại, nhận được của hồi môn tốt hơn đáng kể từ  thiên nhiên các tài nguyên năng lượng nội địa, gồm nhiều trữ lượng than đá đáng mặt kình địch với Mỹ về số lượng lớn nhất địa cầu, và dầu mỏ cũng thế. Thực vậy, TQ vẫn là nước sản xuất dầu đứng thứ 6  thế giới,[5] đang tiếp tục khai thác hết mức ở các khu mỏ vùng Đông Bắc như mỏ Daqing, còn lâu mới cạn kiệt. Và TQ cũng là nước sản xuất than đá đứng đầu trên thế giới, cũng đứng đầu luôn về lượng tiêu thụ loại này. Tuy nhiên các vấn đề về môi trường và cơ sở hạ tầng, cộng thêm sự ngần ngại của người TQ trong việc mời chào các nhà đầu tư nước ngoài với  khuyến khích  cần thiết để chiếm hữu được kỹ thuật khoan tinh tế hiện đại, đã ngăn cản TQ không thực hiện được hết  tiềm năng sản xuất nguồn năng lượng nội địa sẵn có.

Các trữ lượng nội địa chủ yếu của TQ, đặc biệt về dầu mỏ, nằm ở phía Bắc và phía Tây, như hướng dẫn trong Hình 1. Trong lúc đó, nhu cầu về năng lượng tăng lên ở miền Nam và Đông, là nơi số đông tầng lớp trung lưu giàu có mới nổi lên tập trung.Và các đường sắt cùng đường ống dẫn dầu, than đá, và khí đốt thiên nhiên từ bên này lãnh thổ nối sang một bên kia hãy còn kém phát triển, trong trạng thái thê lương vì không được đại tu trong khi  sử dụng. Các giếng dầu ngoài khơi ở phía Đông và vùng biển Nam Trung Hoa(biển Đông) có thể phần nào giúp TQ thoát được tình trạng khó xử và đau buồn trong vấn đề năng lượng, nhưng chúng cũng thường đưa ra các vấn đề hàm chứa, dưới dạng tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng.

Trữ lượng than đá của TQ, như phía trên đã chỉ rõ, có khi còn đồ sộ hơn thực chất trữ lượng các mỏ dầu, và cả nước dựa vào than đá ở mức 70% tổng năng lượng thô tiêu thụ. [6]

Công tác vận tải là một rào cản quan trọng trong việc tận thu ở các mỏ này, trường hợp mỏ dầu cũng vậy. Vận tải đường dài, dĩ nhiên, đặc biệt cồng kềnh vì than đá có khối lượng rất lớn. Mỏ than lớn nhất ở miền Đông Bắc – đặc biệt là ở Shandong và Shansi- trong khi yêu cầu về năng lượng phát triển nhanh chóng nhất thì lại cách xa vài trăm dặm về hướng Nam, dọc theo bờ biển phía Tây Bắc.

Các bức bách khác nhau về an ninh năng lượng

Bắt nguồn từ những khác biệt trong tài nguyên thiên nhiên và vị thế trên nền kinh tế chính trị thế giới, TQ và Nhật Bản có những nhận thức trái ngược nhau về an ninh năng lượng. Chi tiết có thay đổi chút ít qua lịch sử cận đại giữa hai bên, cho ra các tương phản rộng hơn về động cơ cấu thành. Những sự bức bách tương phản này đã kích động việc chuyển đổi các mô hình hợp tác và xung đột nảy sinh qua hai thế hệ tương tác giữa hai cường quốc châu Á nầy. Nhật Bản là nền kinh tế lớn nhất bỏ xa các nước khác ở châu Á, với GDP vượt hơn 4,000 tỉ đô la. Phản ảnh của nền kinh tế khổng lồ đó, và sự thiếu hụt căn cơ của nó về tài nguyên năng lượng nội địa, Nhật Bản cũng vượt xa các nước trong vùng về nhập khẩu dầu mỏ, khoảng hơn 4 triệu thùng mỗi ngày, nhập khẩu khí đốt cũng thế với chừng phân nửa tổng mức toàn cầu. Hầu hết đều nhập từ Trung Đông, với 90% lượng dầu mỏ và 1/3 khí đốt cho nhu cầu trong nước. Khối lượng nhập khẩu đồ sộ này do các công ty thương mại Nhật hoặc các tập đoàn năng lượng đa quốc gia phụ trách, vì các nhà sản xuất năng lượng thuộc khu vực tư nhân của Nhật thiếu phát triển tương xứng.

Mặc dù có nền kinh tế khổng lồ, Nhật Bản không tăng trưởng nhanh chóng, đặc biệt là trong hơn 15 năm qua. Về năng lượng, so với TQ, Nhật là “người tiên phong” hơn là “người theo đuổi”, đã khẳng định vị thế của mình nhiều năm trước đây, và chỉ nghĩ đến mở rộng giới hạn  nhu cầu thiết yếu.[7]

Những quan tâm của Nhật Bản về năng lượng thì cẩn trọng và  bảo thủ, đặc biệt là ở vùng Vịnh Péc Xích. Về mặt Địa chính trị, những quan tâm này được che chở bởi Mỹ là người bạn đồng minh chủ yếu trên thế giới, giúp cho Nhật Bản tương đối thoải mái nương tựa vào trên các tuyến biển mở rộng từ vùng Vịnh đến Yokohama do hải quân Mỹ chi phối. Các bức bách về an ninh năng lượng của TQ thì nhất định là khác hẵn so với Nhật. Một cách cơ bản nhất, TQ có nhu cầu về năng lượng gia tăng nhanh chóng hơn nhiều, xuất phát từ lượng tương đối nhỏ nhưng có sự bùng nổ về kinh tế. Tiêu thụ dầu mỏ ở TQ chẳng hạn, tăng 2.9 phần trăm trong năm 2005, so với chỉ 1.4 phần trăm ở Nhật [8]

Trong điều kiện tuyệt đối, nhu cầu năng lượng của TQ vẫn ít một cách đáng ngạc nhiên, tương đối so với số dân khổng lồ, do mức thấp ở tỷ suất vốn đầu tư tiêu thụ năng lượng. Trong năm 2005, TQ tiêu thụ ít hơn 7 triệu thùng dầu mỗi ngày, nhỉnh hơn một phần ba tổng số của Mỹ, mặc dù nhỉnh hơn chút đỉnh so với Nhật với mức 5,36 triệu thùng mỗi ngày. [9] Nhưng tổng nhu cầu này dường như đã an bài, sẽ phát triển đồ sộ trong tương lai, mặc dù TQ có tỷ suất đầu tư về tiêu thụ năng lượng chỉ một phần năm của Mỹ và một phần mười so mức của Nhật. Như vậy, bức bách an ninh năng lượng chủ yếu cho TQ là điều cần phải tính đến các nguồn năng lượng mới – cả về địa lý lẫn về chức năng – để nuôi dưỡng bộ máy kinh tế đã tiên liệu  phải lớn hơn nhiều lần trong một hoặc hai thập kỷ so với ngày nay. Mặc dù TQ đối mặt với sự thúc bách lớn hơn nhiều trong việc mở rộng nguồn cung cấp dầu mỏ so với Nhật Bản, nhưng không lâm vào bị tình trạng cực kỳ khan hiếm tài nguyên năng lượng nội địa . Như đã nêu trên, PRC có trữ lượng năng lượng nội địa tương đối đáng kể, đặc biệt là than đá. Trong ngắn hạn, vấn đề an ninh năng lượng của TQ là cần nhiều cơ sở hạ tầng hơn Nhật Bản. TQ hết sức cần thêm về đường sắt, bến cảng và đường ống dẫn để vận tải năng lượng. Nhật Bản thì đã có sẵn.

Điểm khác biệt quan trọng thứ ba giữa Nhật Bản và TQ trong động cơ thúc đẩy cấu trúc năng lượng là địa chính trị. Nhật Bản là một đồng minh thân cận với Mỹ, là nước có ảnh hưởng kiềm chế trên tuyến đường biển quốc tế, trong khi đó TQ chỉ duy trì trong vài điều khoản mong manh với Washington. Từ đó TQ có khuynh hướng muốn thấy mối an ninh năng llượng của mình được nâng cấp qua đường ống trên đất liền nhằm tránh các hải lộ đã bị phía Mỹ khống chế. Bắc Kinh đặc biệt ưa thích các ống dẫn dầu trên mặt đất từ các nước trước đây đã có bàn bạc là Nga và Kazakhstan, theo một cách mà đảo quốc Nhật không thể có được.

Lịch sử sự hợp tác năng lượng

Mỉa mai thay, trong quan điểm gần đây về ganh đua địa chính trị, nhưng có thể hiểu được, khi nghĩ về sự thừa hưởng tài nguyên  quốc gia, Nhật Bản và TQ có một lịch sử lâu dài về hợp tác năng lượng. TQ bắt đầu xuất khẩu dầu mỏ qua Nhật từ năm 1974, nửa thập kỷ trước cuộc tăng tốc kinh tế do Bốn Hiện đại hóa thúc đẩy. Và sự thân thiện Trung-Nhật về cung ứng năng lượng này kéo dài tới 30 năm. Phản ảnh lại sự liên kết gần gũi địa chính trị từ những năm đầu  thập kỷ 70 cho đến sự kiện Thiên An Môn, TQ và Nhật Bản đã là đối tác thân thiện về mặt năng lượng trong gần hai thập kỷ. Liên bang Xô viết hẵn đã cạnh tranh khốc liệt với TQ trên thị trường dầu mỏ và khí đốt cung cấp cho Nhật Bản. Năm 1972, là một ví dụ, Liên bang Xô viết đã đề nghị Nhật Bản cung ứng một khoản tín dụng lên đến 2 tỉ đô la để xây dựng một hệ thống đường ống từ vỉa dầu Tyumen ở miền cực tây Siberia đến cảng Nakhodka bên bờ Thái Bình Dương, đổi lại Liên Xô sẽ cung cấp cho Nhật Bản hàng năm khoảng 40 triệu thùng dầu thô. Người Nga cũng đề nghị thêm cái thứ hai là một đường sắt xuyên Siberia để vận chuyển dầu thô rút ngắn khoảng cách đường ống sẵn có. Tuy nhiên TQ đưa ra các hứa hẹn về cung cấp năng lượng thực tế hơn cho Nhật Bản. Dầu mỏ được phát hiện vào năm 1970 ở vịnh Bột Hải và  ở khu vực Hoàng Hải, chỉ cách 400 dặm vận chuyển bằng tàu chở dầu là đến Nhật. Trong khi đó vĩa dầu Tyumen, ngược lại, cách Nhật đến 3.100 dặm, và cần  kết nối phức tạp giữa đường sắt và tàu chở dầu để vận chuyển. Nghĩ đến các sự bổ sung cho nhau về địa lý Trung-Nhật, TQ đồng ý cung cấp cho Nhật Bản, dưới một hợp đồng dài hạn vào năm 1978, với chỉ tiêu 7 triệu tấn dầu trong năm đầu, và sau đó 47 triệu tấn trong năm năm. Nhật Bản nhập khẩu từ TQ không chỉ dầu mỏ mà còn cả than đá.[10]

Khi Moscow giảm bớt mức cung ứng dầu đã hứa từ vùng mỏ Tyumen, Bắc Kinh chẳng những có cơ hội chào bán nhiều hơn mà còn có thể làm hơn thế mà không cần vay các khoản tín dụng lớn từ Nhật Bản. Vào cuối năm 1990 TQ đã xuất khẩu hàng năm sang Nhật Bản trị giá 1 tỉ đô la  –  hơn phân nửa lượng dầu TQ xuất khẩu trên toàn thế giới, và chiếm 7,2 % tổng lượng dầu nhập khẩu của Nhật. [11] Truyền thống tổ chức giao thương năng lượng qua các hợp đồng thương mại hợp tác dài hạn này bắt đầu từ năm 1978. Các hợp đồng này được gia hạn kéo dài mỗi năm năm, với bản gia hạn mới nhất, ký vào tháng 12-2005 có hiệu lực đến năm 2010. [12] Việc TQ xuất dầu sang Nhật Bản tiếp theo sau cuộc khủng hoảng năng lượng trong thập kỷ 70 là rất có lợi cho cả hai quốc gia. Đối với Nhật Bản, họ cho phép sự đa dạng hóa khỏi các nguồn cung cấp chủ yếu từ  phương Tây, đang kiểm soát khoảng 65% dầu nhập vào Nhật Bản trong thời gian này. Nhập khẩu từ TQ còn cho Nhật Bản một giải pháp để tách rời các điểm yếu chiến lược trong việc lệ thuộc quá lớn vào Trung Đông, trong khi đó còn tăng được mức kèo nài giá cả với các nước sản xuất dầu và các nước có mỏ dầu lớn.  Với những nhà sản xuất Nhật Bản có thế lực như Nippon Steel, năng lượng nhập khẩu từ TQ cũng cung cấp một phương tiện để gia tăng xuất khẩu hàng Nhật, qua liên kết xuất khẩu dầu của TQ với công ty thép TQ, các nhà máy công nghiệp và nhập khẩu máy móc từ Nhật [13]

Đối với TQ, xuất khẩu dầu sang Nhật mang đến ngoại tệ, và cũng tiếp cận được kỹ thuật của Nhật Bản. Giữa năm 1972 – 1974, đúng lúc việc xuất dầu  mỏ sang Nhật vừa bắt đầu, Nhật Bản cũng kết thúc việc ký kết các hợp đồng bán 17 nhà máy công nghiệp cho TQ, với trị giá là 470 triệu đô la, bao gồm các xưởng phân bón và hóa dầu. Việc cung cấp dầu mỏ này cũng dần dần  được mở rộng sang việc xuất khẩu khí đốt. Thực vậy, một tổ hợp các công ty Nhật dẫn đầu là công ty Bridgestone đã thương thảo với TQ về việc xây dựng một xưởng khí hóa lỏng gần mỏ khí trong vùng Takang có năng suất  300.000 tấn khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) mỗi năm để xuất khẩu trở lại Nhật. Nằm giữa sự cộng sinh hỗ tương phụ thuộc năng lượng này, cả TQ và Nhật Bản đều giảm bớt những đòi hỏi phức tạp và xung đột về lãnh thổ. TQ, về phần mình, gắng dụ dỗ Nhật ra khỏi tầm xuất khẩu dầu của Liên Xô, xếp xó các tranh chấp về biển Đông Trung Hoa và các vấn đề chủ quyền đảo Diaoyu/Senkaku. Mặc khác, Nhật Bản hạn chế việc khảo sát tài nguyên vùng biển Đông Trung Hoa vì hi vọng nguồn dầu từ TQ vẫn được tiếp tục chảy vào, và cũng vì các công ty của họ cũng đã quá nản chí trong việc tìm kiếm các giếng dầu ngoài khơi.

TQ mở rộng nền kinh tế thay đổi quang cảnh địa chính trị Sự kết hợp năng lượng khéo léo giữa Nhật Bản và TQ kéo dài đến những năm 90. Như đã nêu trên, năm 1990 Nhật Bản vẫn còn nhập khẩu hơn 1 tỉ đô la dầu mỏ hàng năm từ TQ.  Loại dầu này của TQ thu hút Nhật Bản không phải ở chất lượng –dầu nhẹ hơn của Saudi vẫn hấp dẫn hơn cho sản xuất xăng, nhiên liệu máy bay và nhiều ứng dụng mang tính phức tạp khác– nhưng là vì các cơ hội mở rộng giao thương mà nó tạo ra cho các công ty thương mãi Nhật. Dầu mỏ đã mang đến những đồng tiền mạnh cho các nhà sản xuất TQ, và gián tiếp là cho chính phủ TQ, để quay lại chuyển đổi thành kỹ thuật, nhà máy, và máy móc cần thiết nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp của chính TQ.[14]

Một cách tối hậu, nó là một loại chất nổ, việc duy trì sự phát triển kinh tế khơi mào từ cuộc Bốn Hiện đại hóa, phát sinh nhu cầu năng lượng mới khổng lồ và phát triển một cách nhanh chóng, đã đào sâu nghiêm trọng cuộc ganh đua năng lượng giữa Nhật Bản và TQ. Dù có trữ lượng nội địa đáng kể, mất cân bằng về địa lý, cộng thêm sự yếu kém cơ sở hạ tầng liên quan, đã ngăn cản các nhà sản xuất sở tại của TQ trong việc đáp ứng yêu cầu nội tại quốc gia họ. Dù đã có một trữ lượng khổng lồ than đá nội địa, điều không có gì phải ngạc nhiên khi TQ vẫn tạo ra các cuộc ganh đua mới  trên biển Đông Trung Quốc  vì dầu mỏ và khí đốt Năm 1993 từ vị trí luôn thặng dư trong thương mại dầu mỏ toàn cầu của TQ trở nên bị thâm hụt. Sự mất cân đối đó ngày càng khoét sâu hơn về cuối thập niên, như đã nêu trong Hình II. Vào cuối năm 2005 TQ nhập khẩu dầu mỏ ở mức  thực tế là 3,38 triệu thùng mỗi ngày, hoặc nôm na khoảng hai phần ba của tổng lượng nhập khẩu khổng lồ của Nhật.[15]

Từ  năm 2000 đến 2005 nhu cầu về dầu của TQ tăng cao , chiếm khoảng hơn 1/3 của tổng lượng tăng toàn cầu. [16] Bị thúc đẩy bởi số người dân sở hữu xe hơi tăng cao và công nghiệp hóa dầu cũng bành trướng, lượng dầu tiêu thụ ở TQ đã vượt qua Nhật vào năm 2002, đến năm 2005 là gần 7 triệu thùng mỗi ngày so với 5,4 triệu thùng tại Nhật. Gần như toàn bộ các nhu cầu tăng thêm đều phải dựa vào nhập khẩu, do cung ứng nội địa bị hạn chế như đã nêu trên. Trong hình III ta thấy triển vọng rõ ràng về nhu cầu dầu mỏ ở TQ gia tăng vững chắc trong tương lai, thúc đẩy bởi ngành công ngiệp và nhu cầu người tiêu dùng, cũng như còn kéo dài lâu nữa sự thiếu hiệu quả và giá cả không nhất quán. Xăng ở TQ, lấy ví dụ, vào giữa năm 2005 bán lẻ 1,8 đô la / ga-lông, và duy trì thực chất là dưới giá thế giới [17]

Về phần các nhà máy lọc dầu, luôn than vãn về chính sách kiểm soát giá cả đã ngăn cản việc đầu tư cần thiết. TQ hiện đang tiêu thụ tính tròn là hai thùng dầu thô /người/năm, so với 28 thùng  ở Mỹ, và việc sử dụng ở TQ chắc chắn là phải tăng là điều không tránh khỏi.

Hình 1: BẢN ĐỒ NĂNG LƯỢNG PHỨC TẠP CỦA TQ

 

Nguồn: Phòng Năng lượng Hóa thạch –  Bộ Năng Lượng

FIGURE II: CHINA’S NET OIL IMPORTS  HÌNH II: NHẬP KHẨU THỰC DẦU THÔ CỦA TQ

Unit: barrel/day                        Đơn vị tính: thùng / ngày

Source: PRC Statistical Yearbook (until 2003) and BP. Statistical Review of World

Energy, 2005 and 2006 edition (until 2005).

Nguồn: Niên giám Thống kê CHDCND Trung Hoa (đến 2003) và Tổng kết Thống kê Năng lượng Thế giới, Tập đoàn Dầu khí Anh Quốc, ấn bản 2005 và 2006 (đến 2005)

Thực tại sâu sắc về sự phụ thuộc vào tuyến đường biển

Nhật Bản đã phụ thuộc vào các tuyến vận tải năng lượng trên biển đến từ Đông Nam Á và Trung Đông trong suốt thời lịch sử cận đại. TQ, với nhu cầu nhập khẩu dầu khí tăng đều đặn, đang theo một tiến trình -tuyến đường công khai chưa rõ ràng- tương tự. Năm 2002 TQ nhập khẩu gần 70 triệu tấn dầu thô, nhưng chỉ 7% tổng số này là đến bằng đường hỏa xa, chủ yếu từ Nga và-Ka zắc-tan. 93% còn lại tương đương hai triệu thùng mỗi ngày là đến bằng đường biển. Tuyến vận tải năng lượng trên biển gợi lên một ít lo lắng cho Nhật Bản, và là một nhân tố ngày càng quan trọng về kinh tế  trong quan hệ đồng minh thân cận về chính trị với Mỹ.[18] Nhưng sự phụ thuộc vào đường biển vốn đã làm gây lo ngại cho  TQ, như đã nêu trên, do sự yếu kém  về chiến lược của TQ trên  biển. Ngoài những quan tâm rất hiển nhiên về chính trị – quân sự, TQ còn chỗ yếu đặc biệt khác xuất phát từ sự phụ thuộc vào đường biển ngày càng nhiều là mối băn khoăn quốc gia. Chỉ có 10% lượng dầu nhập khẩu đến bằng tàu chở dầu TQ, còn lại 90% là đến bằng các đoàn tàu nước ngoài. Và khoảng 80 – 85% dầu nhập khẩu vào TQ đi qua eo biển Malacca với điểm hẹp nhất chỉ rộng cỡ 1,5 dặm. Thông qua mỗi ngày 11 triệu thùng dầu và 40 tỉ mét khối khí đốt thiên nhiên,  eo biển này là một mục tiêu hiển nhiên cho các nhóm khủng bố, và là một điểm yết hầu trong trường hợp xảy ra xung đột trong tương lai với các đối tác nước ngoài. Hồ sơ lịch sử cho thấy TQ rất lo sợ sự phụ thuộc năng lượng từ bên ngoài, và cũng có cái lý của nó. Các cố vấn Xô Viết vào năm 1950 đóng vai trò chính trong công nghiệp dầu mỏ ở TQ, và sự ra đi của họ sau sự rạn nứt khối Trung-Xô năm 1960 tạo ra sức ép về sự khan hiếm trầm trọng năng lượng ở TQ. Điều đó cũng làm TQ lệ thuộc vào Liên bang Xô viết, một đối thủ mới, để tiêu thụ hơn phân nửa sản phẩm lọc dầu của mình. TQ cũng đã tỉnh ngộ qua việc nhà nước Xô viết trước đây sử dụng cả dầu mỏ lẫn khí đốt thiên nhiên làm đòn bẩy địa chính trị trong cách đối xử với những nước láng giềng như Ukraine, Moldova và ngay cả Belarus ở thập kỷ trước. Các nhà phân tích TQ dường như xem Mỹ là mối nguy tiềm tàng cho an ninh năng lượng  TQ, mặc dù những nhu cầu năng lượng leo thang nhanh chóng của Bắc Kinh cũng có thể gia tăng khuynh hướng trước mắt tránh đối đầu với Washington.[19]

Không có một quốc gia nào đủ mạnh để đối trọng với Mỹ, và Hải quân Mỹ khống chế 7.000 dặm đường biển từ Thượng Hải đến eo biển Hormuz mà trong đó phân nửa nguồn cung cấp dầu mỏ của TQ phải ngang qua. Theo quan điểm của một số nhà quan sát TQ, sự thừa nhận về kinh tế đã trở thành một công cụ trọng yếu của chính sách Mỹ thời hậu chiến tranh lạnh, và tính dễ bị tổn thương của TQ trước áp lực kinh tế Mỹ, lại tương đối có ít đồng minh, có thể làm hạn chế khả năng lựa chọn của mình trên những vấn đề quan trọng mang tính chiến lược và chính trị như vấn đề Đài Loan. Tối thiểu thì họ cũng thấy được Mỹ dường như không muốn  đặt  vấn đề phụ thuộc năng lượng lẫn nhau giữa Trung-Mỹ theo một hướng tích cực, bằng chứng là sự rút lui của Tổng Công ty Xăng dầu Quốc gia TQ (CNOC) khỏi cuộc đấu giá Unocal vào mùa hè năm 2005.

“Giảm bớt yếu điểm năng lượng: Sự tiếp cận Trung-Nhật trong triển vọng tương đối.

Nói về mặt nhận thức, Nhật Bản và TQ phải có ít nhất năm chiến lược dự phòng để giảm nhẹ yếu điểm cho sức ép quốc tế trong tương lai về lĩnh vực năng lượng: (1) Gia tăng hiệu quả năng lượng; (2) Đa dạng hóa hoạt động tách khỏi dầu mỏ, như là điện nguyên tử, thủy điện, khí thiên nhiên, nguồn cung cấp các loại này thường ít dễ bị ảnh hưởng do cấm” ‘vận đường biển; (3) Đa dạng hóa về mặt địa lý các nguồn cung cấp năng lượng; (4) Giảm phụ thuộc vào các nước lớn trên thế giới, ngược lại là gia tăng phần năng lượng nhập khẩu từ các công ty trung gian do người trong nước làm chủ hoặc nắm quyền kiểm soát; và (5) Phát triển khả năng quân sự để độc lập bảo vệ các nguồn cung cấp năng lượng nội địa.” Hai quốc gia đã chấp nhận việc trộn lẫn các khác biệt rõ rệt giữa hai nước khi tiếp cận vấn đề đảm bảo an ninh năng lượng, như là giải pháp thay thế như đã nêu phía trên. Thực tế quan trọng này gom phạm vi tương lai đối đầu năng lượng song phương vào thành một vài cuộc khủng hoảng khu vực, như việc khai thác dầu ngoài khơi ở biển Đông Á, sự cạnh tranh về đường ống và về nhượng bộ ở các nước thứ ba. Sự phân kỳ trong cách tiếp cận của Nhật và TQ , tuy nhiên, tạo ra những bổ sung cho nhau, từ đó mở rộng con đường hợp tác trong tương lai. Nhật Bản đã xác định thứ tự ưu tiên trong chuyển đổi  cơ cấu công nghiệp nội địa xem đó là biện pháp chính để đối phó lại các vấn đề về an ninh năng lượng. Trong xu thế này, ba chính sách ưu tiên là đặc biệt quan trọng nhất: (1) sử dụng năng lượng có hiệu quả; (2) phát triển các dạng năng lượng thay thế khác nhằm nâng cao sự độc lập năng lượng; và (3) chuyển đổi cấu trúc công nghiệp hướng về lĩnh vực tri thức chuyên sâu  và tránh xa các khu vực tốn kém nhiều năng lượng. Cùng nhau,  những sáng kiến chuyển đổi trên đã giúp Nhật Bản sụt giảm được đáng kể sức ép về năng lượng trong nền kinh tế từ giữa những năm 70. Hiệu quả này càng tăng, cộng với hơn một thập kỷ kinh tế trì trệ, đã điều hòa lại đáng kể tình cảnh túng thiếu mà trước kia Nhật Bản từng cảm thấy vô cùng bức thiết trong việc xông xáo tranh đoạt năng lượng và thị trường nguyên liệu toàn cầu.[20] Các cải tiến giữa các lĩnh vực  đem lại hiệu quả về năng lượng tại Nhật Bản từ đợt Khủng hoảng Dầu mỏ vào thập kỷ 70 rõ rệt, đặc biệt ấn tượng, như chúng ta thấy trong hình IV. Các chỉ số chung của sản xuất công nghiệp (IIP) trên đơn vị năng lượng tiêu thụ tại Nhật đã tụt giảm gần 40% so mức 1970.[21] Trong sản xuất kim loại màu, lấy ví dụ, tại Nhật năm 2004 tiêu thụ chỉ 45,8% so năng lượng tiêu thụ cho một đơn vị sản phẩm vào năm 1973. Ngành hóa chất tỉ lệ này là 53,1%; ngành giấy và bột giấy 53,6%; ngành thép 67,5%; và ngành xi măng 86,1%.[22 Chuyển đổi cơ cấu công nghiệp  –rời xa các khu vực vật liệu tốn kém năng lượng  như ngành thép và hóa dầu, tiến đến các khu vực tiêu thụ ít năng lượng như điện tử– về thực chất cũng giúp cho sụt giảm tổng hợp nhu cầu năng lượng tại Nhật. Nói chung, ngành công nghiệp nguyên vật liệu không tốn kém năng lượng tại Nhật đã phát triển gần gấp đôi tốc độ so ngành nguyên vật liệu  tiêu hao  đối ứng từ những những năm 70. Sự khác biệt này đặc biệt sâu sắc trong khoảng thập niên 1975-1985, do được thúc đẩy mạnh mẽ bởi chính sách công nghiệp [23] Hệ quả là phần đóng góp của công nghiệp nguyên liệu trong sản xuất công nghiệp của Nhật rơi từ 33 xuống còn 21% trong thời gian 1975-2005, trong khi ở khu vực cơ khí và máy móc ít tiêu thụ năng lượng hơn đã  phát triển từ 30 lên 53%.[24] Nhật Bản cũng đã chủ động theo đuổi những chính sách năng lượng chuyển đổi để gia tăng  sự độc lập với xăng dầu nhập khẩu . Quan trọng nhất trong số này là sự hỗ trợ cho năng lượng nguyên tử mà ít nơi nào trên thế giới sánh kịp, trừ ra Pháp, Thụy Sĩ, Nga và Hàn Quốc. Năm 1973 chỉ có 0,6% năng lượng chủ yếu cung cấp tại Nhật Bản là nguyên tử lực, nhưng tỉ suất đó tăng cao 13,7% vào năm 1998.[25]  Sau nhiều năm với nền kinh tế lao đao, chính trị cãi cọ và luật lệ bị phá bỏ từ trong và sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, chính phủ Nhật mới đây đã bắt đầu nhấn mạnh lại vai trò nguyên tử lực và xây dựng lại chính sách nhất quán để hỗ trợ nó. Tập quán khôn ngoan trong chính sách kinh tế đối ngoại của người Nhật từ lâu đã nổi bật ở tính hám lợi, và hiệu quả ghê gớm trong chiến lược quốc gia giúp cho nước Nhật đủ sức đối phó với các vấn đề kinh tế thế giới. [26] Tuy nhiên, điều gây ấn tượng trong lĩnh vực năng lượng là việc các công ty quốc doanh, hoặc những công ty theo đường lối chính phủ Nhật lại không mấy nổi bật, và không được chính quyền hỗ trợ mấy. So với TQ hoặc ngay cả với Mỹ là nơi luôn làm xuất sắc nhất, việc hỗ trợ công ty quốc doanh  không thuộc phạm vi nỗ lực của chính phủ Nhật trước khi nội các Abe ra đời, nhưng thà để thiếu sót còn hơn là đã cố gắng mà không mang lại hiệu quả tương đối .[27] Trong bàn thảo về đảm bảo an ninh năng lượng, cách tiếp cận của Nhật Bản và TQ khác biệt rõ rệt ở 3 chọn lựa cuối cùng. Căn cứ vào khác biệt địa lý, Nhật Bản cho đến nay vẫn chủ yếu chấp nhận dựa vào nguồn cung cấp dầu từ Trung Đông cho thị trường dài hạn của mình. Nhật Bản kiên định dựa vào một số ít các nguồn cung ở vịnh Péc xích  – đặc biệt là Á rập Saudi, các tiểu vương quốc Á rập Thống nhất và Iran – cho hơn 80% tổng lượng nhập khẩu.[28] Khác hẵn với Nhật, TQ đã có những nỗ lực thực sự để tránh xa nguồn từ Trung Đông, đưa đến tỉ lệ phụ thuộc vào khu vực trên trong năm 2005 chỉ khoảng 45%, nhỉnh hơn phân nữa con số của Nhật. Mặc dù TQ trong chừng mực nào đó đã tận dụng căng thẳng địa chính trị giữa Mỹ và Iran để lấn vào mối quan hệ truyền thống đặc biệt giữa Nhật và Iran, [29] điều gây ấn tượng nhiều hơn là sự phát triển mạnh các mối liên hệ mới với các nhà sản xuất năng lượng châu Phi mà Nhật hầu như không can dự. TQ đã moi được gần một phần ba tổng dầu nhập khẩu từ châu Phi trong năm 2005; [30] lục địa này chỉ là nhà cung cấp bên lề của Nhật Bản. Thực vậy, trong năm 2006-2007 Angola cạnh tranh gay gắt với Á Rập Saudi trong vai trò nhà xuất khẩu dầu lớn nhất thế giới xuất sang TQ. Lượng dầu nhập từ Angola của TQ trong năm 2005 đạt hơn 7 triệu tấn, hơn gấp ba mức nhập năm 2002. Phản ảnh sự phụ thuộc sâu sắc lẫn nhau về năng lượng với châu Phi, TQ đã dành một sự ưu tiên đáng kể cho lục địa này trong chính sách ngoại giao của mình, lại càng góp phần đẩy mạnh hơn nữa việc nương tựa vào nhau trong vấn đề năng lượng giữa hai quốc gia. Cuối năm 2006, Bắc Kinh bảo trợ cho hội nghị tổng kết Châu Phi – TQ tại TQ, trong đó có 48 vị đứng đầu các chính phủ châu Phi tham dự.[31]

Chủ tịch Hồ Cẩm Đào của TQ cũng dành quyền ưu tiên đáng kể cho các nhà sản xuất năng lượng châu Phi khi ba lần đích thân thăm viếng ở cuộc gặp thượng đỉnh vừa qua, tỏ rõ quan điểm khi thăm viếng các quốc gia như Angola và Nigeria là những nước xuất khẩu dầu nhiều nhất cho TQ. Thủ tướng Nhật Koizumi, rất quan tâm về việc kiếm được sự ủng hộ của châu Phi trong đề nghị của Nhật được trở thành thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ, đã không thăm viếng bất kỳ nhà sản xuất năng lượng lớn nào trong chuyến công du châu Phi của ông.

Trung Quốc cũng sử dụng các công ty quốc doanh một cách năng động và hiệu quả hơn so Nhật Bản. Đặc biệt Công ty Dầu khí Quốc gia TQ (CNOC) đã trở nên cực kỳ xông xáo ở hải ngoại, thí dụ như đang tiến bước thành một nhà điều phối thị trường chủ yếu ở châu Phi và Kazakhstan. CNOC đã nhận được sự hỗ trợ đáng kể của chính phủ trong nỗ lực này. Các công ty phát triển năng lượng của Nhật Bản thì không năng động như thế, mặc dù các áp lực chéo về ngoại giao tại Iran và vài nơi khác cũng có lúc làm chậm sự tiến triển. Dù được mệnh danh là một quốc gia theo chủ nghĩa xã hội, TQ đã sử dụng cơ chế thị trường, như các chủ trương IPO nhằm tư bản hóa dài hạn thuận lợi các nhu cầu điều tra khai thác thử về mặt năng lượng tương lai, để làm đòn bẩy cho sức mạnh của các công ty quốc doanh như CNOC trên thị trường quốc tế.

Các tiêu điểm trong sự cạnh tranh Trung-Nhật

Mặc dù sự cạnh tranh năng lượng trực tiếp Trung-Nhật trong thập kỷ qua có phần lắng dịu lạ thường, do chiến lược năng lượng của Nhật Bản là hướng về chuyển đổi cơ cấu quốc nội , vẫn còn một khả năng sự ganh đua song phương sẽ bùng phát chắc chắn trong tương lai.

Nhu cầu dầu mỏ gia tăng nhanh chóng tại TQ, tác động qua lại các mối căng thẳng do mở rộng địa chiến lược sẽ là chất xúc tác quan trọng. Một điểm khác có thể là sự cố kết và khăng khăng trong chính sách ngoại giao năng lượng của Nhật Bản, khi mà những nét chính của nó bắt đầu hé lộ  trong vòng hai năm qua, và lại trở nên rõ nét dần dưới thời thủ tướng Abe.

Biểu lộ kịch tính gần đây nhất của sự cạnh tranh năng lượng Trung-Nhật đã cận kề giới hạn: vùng biển Đông Trung Hoa. Các ước đoán thay đổi tùy theo trữ lượng thực tế, nhưng các trữ lượng dầu mỏ lẫn khí đốt thiên nhiên dường như là đáng kể. TQ ước lượng trong mức từ 175 đến 210 nghìn tỉ cubic feet khí thiên nhiên, trong khi Nhật Bản ước lượng về dầu “vượt xa số 94,5 tỉ thùng dầu chất lượng cao” [32]

Sự hấp dẫn của các vùng trữ lượng này, đặc biệt đối với TQ, càng tăng thêm bởi sự cận kề với các khu vực có nhu cầu về năng lượng gia tăng nhanh dọc theo bờ biển đông nam TQ, như đã chỉ ra ở Hình I, nơi mà có ít nguồn năng lượng thay thế. Vùng trữ lượng khí đốt ở biển Đông Trung Hoa là đặc biệt cuốn hút TQ, cho ra chất khí có hiệu quả cao như  là một loại nhiên liệu cho gia đình, và các đặc tính thân thiện môi trường của nó. TQ và Nhật Bản đã chấp nhận các tiêu chuẩn khác nhau khi ấn định khái niệm của họ về EEZ trong khu vực, phía Nhật thì chấp nhận nguyên tắc ở khoảng giữa đường ranh, phía TQ thì nhấn mạnh việc định hình thể EEZ của mình dựa trên thềm lục địa sẵn có trong vùng biển tương đối nông ở biển Đông Trung Hoa.[33]

Điểm tập trung cho xung đột gần đây là vùng mỏ khí Chunxiao/Shirakaba, chỉ có 4 km bên phía TQ cách đường biên trung tuyến, TQ đã bắt đầu ráo riết các hoạt động thăm dò từ tháng 5-2004. Tháng 5-2005, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) cho phép các công ty Nhật thăm dò trong vùng tranh chấp trên. Vào tháng 9-2005, tàu chiến TQ xuất hiện tại vùng đang sôi động này, ngay trước cuộc bầu cử quốc gia của Nhật. Và giữa tháng 10-2006 đến tháng 1-2007, TQ bắt đầu thực sự hút lên cả dầu lẫn khí từ vùng biển Đông Trung Quốc này, cấp thẳng về lục địa mặc cho phía Nhật Bản phản đối. Lối thoát của cuộc tranh chấp nầy vẫn chưa có gì là chắc chắn, nhưng khả năng về một sự thỏa hiệp đang lên cao. TQ cần khí đốt thiên nhiên, cũng như cần tài trợ cho phát triển đại qui mô. Nhật Bản, dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe, dường như muốn thấy vài dấu hiệu nới lỏng căng thẳng với TQ, qua bằng chứng cuộc viếng thăm của ông Abe đến Bắc Kinh vào tháng 10-2006, ngay cả khi Nhật chuẩn bị phản đối TQ trên các vấn đề an ninh bao quát hơn, và để đạt được sự mặc nhận từ cộng đồng thế giới nhu cầu tăng cường vị thế của quân đội Nhật Bản. Các cuộc thảo luận cấp cao đã không chính thức mang hai quốc gia đến gần nhau hơn về vấn đề này kể từ mùa thu năm 2006.  Những điểm tập trung quan trọng khác cho sự xung đột  –khó đoán trước hơn vụ việc biển Đông Trung Hoa– rõ ràng vẫn còn đó trong số những quan hệ năng lượng đáng quan tâm khó khăn nhất với Nga, đặc biệt về chính sách ngoại giao đường ống dẫn dầu. Nhập khẩu năng lượng của TQ từ  Nga đã tăng lên, Nga là nhà cung cấp dầu lớn thứ năm cho TQ trong năm 2004. Nhưng Nhật Bản cũng có tham vọng mạnh mẽ lấy được trữ lượng dầu và trữ lượng khí đốt của Nga — đứng hàng phần ba  thế giới trong việc cung cấp khí đốt lẫn dầu mỏ . Giữa năm 2003 và 2005 hai quốc gia đã cùng nhau lâm vào một cuộc chiến về đấu giá cay đắng và không ngã ngũ về một đường ống dẫn dầu từ giếng dầu Angarsk phía bắc hồ Baikal. Mặc dù thích Nhật Bản hơn TQ vào năm 2004, đến tháng 4 năm 2005  Moscow gần như từ chối giá chào mời 12 tỉ đô la của người Nhật giúp tài trợ để xây dựng đường ống,[34] mà lại thích giá chào thấp hơn của TQ, rút lui khỏi vị trí ưu đãi trong một thỏa thuận giới hạn về lãnh thổ với Nhật đã được duy trì hơn một thập kỷ. Sau rốt, với tham vọng ràng buộc càng nhiều khách hàng châu Á càng tốt, Nga quyết định phân nhánh đường ống dự kiến 4.188 km tại Skovorodino gần biên giới Nga-Trung, điểm giữa của toàn tuyến. Làm thế sẽ cung cấp 20 triệu tấn dầu hàng năm cho TQ và 10 triệu tấn dầu sẽ được vận chuyển đường sắt đến bờ biển Thái Bình Dương cho Nhật. Việc xây dựng theo kế hoạch thỏa hiệp trên đã được triển khai vào tháng 4 năm 2006. [35]

Trong năm 2006 Nga còn buộc hai công ty kinh doanh chủ chốt của Nhật là Mitsubishi và Mitsui phải chịu bất lợi mà tái thương thảo về chiến lược và vị thế lâu dài trong dự án khí thiên nhiên hóa lỏng Sakhalin II, sử dụng danh nghĩa quan tâm đến môi trường làm chốt chặn, và các mối quan tâm về năng lượng của TQ là yếu tố hậu trường phức tạp cho khát vọng năng lượng của Nhật Bản. Iran là một điểm nhấn tiềm năng khác trong mối quan hệ năng lượng Trung-Nhật. Ở Iran, cả  Nhật Bản và TQ đều được phân bổ để khai thác giếng dầu chủ yếu riêng biệt trong thời kỳ 2003-2005 –người Nhật tại Azadegab và người TQ tại Yadaravan.[36] Nhưng người Iran trong phạm vi cần tiếp tục cuộc khủng hoảng hạt nhân, đã có nhiều thúc đẩy buộc người Nhật và người Trung phải cạnh tranh lẫn nhau.

TQ cột chặt với Iran về địa chính trị, và Nhật Bản gặp khó khăn khi kháng cự vì quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật, là sự thất vọng đặc biệt cho khát vọng của người Nhật vì nó có thể làm rắc rối trầm trọng quan hệ Trung-Nhật, cả đến quan hệ Mỹ-Nhật. Về mặt lâu dài vấn đề chủ yếu trong mối liên hệ năng lượng Trung-Nhật hiển nhiên phải là các nhiệm vụ tương ứng của hai gã khổng lồ châu Á tại vịnh Ba Tư. Hiện tại Nhật Bản đứng sát mí là khách hàng lớn nhất thế giới về dầu của vịnh Péc-xích, nhưng nhu cầu gia tăng nhanh chóng của TQ sẽ hầu như chắc chắn thay đổi tình hình đó. Sự ganh đua Hán-Nhật sẽ ra sao tại vùng Vịnh, đặc biệt khi nhu cầu năng lượng của

TQ gia tăng gấp nhiều lần mức hiện tại, và khi sự can dự của người Mỹ vào Trung Đông thay đổi, là một câu hỏi cực kỳ quan trọng cho tương lai địa chính trị thế giới, điều đó hiện rõ trong tâm trí các nhà hoạch định chính trị Nhật Bản như Thủ tướng Shinzo Abe đang chuẩn bị cho chuyến công du ngoại giao quan trọng vào tháng 5-2007 thăm Trung Đông. Triển vọng vực dậy sự hợp tác –khác với thập kỷ 70 và 80 nhưng tuy nhiên cũng theo lô gíc– dường như tương đối sáng sủa, đặc biệt nếu được Mỹ khuyến khích. Rõ ràng TQ rất cần kỹ thuật bảo toàn năng lượng của Nhật Bản, cũng như sự lui tới vùng biển Đông Trung Hoa đang tranh chấp. Và chính phủ Abe dường như thiên về xây dựng cầu nối phi quân sự với TQ bởi những lý do tự thân rộng rãi hơn về chính trị và ngoại giao. Bên cạnh việc bảo toàn năng lượng, kỹ thuật năng lượng sạch là một lĩnh vực khác cho triển vọng hợp tác. Như đã nêu trước đây, 70% năng lượng tiêu thụ chủ yếu của TQ là than đá, và sự ô nhiễm không khí tác động trực tiếp đến Nhật dưới dạng mưa a-xít. Thực tế khắc nghiệt này đã dẫn đến hai quốc gia cùng hợp tác trong kỹ thuật than sạch qua dự án METI’s Green Aid Plan từ năm 1992. Trong năm 2003, Nhật Bản và TQ thành lập liên doanh Fushun Hubo Clean Coal Co., Ltd., nhằm sản xuất than sạch tại thành phố Fushun thuộc tỉnh Liêu Ninh.[38] Ưu tiên cao mà TQ sắp sửa giao phó xử lý về vấn đề năng lượng và môi trường, là nơi sự hợp tác của Nhật Bản sẽ rất có ý nghĩa, đã được Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đột ngột phát biểu khi khai mạc Quốc Hội tại Bắc Kinh vào tháng 3-2007.[39] Ông Hồ đã tái xác nhận trọng tâm tăng trưởng nhanh nền kinh tế là ưu tiên quốc gia, những cũng cảnh báo rằng sự tăng trưởng có thể bị kiềm hãm nghiêm trọng bởi các vấn đề năng lượng và môi trường. Kế hoạch năm năm hiện hành của TQ kêu gọi  giảm bớt tiêu thụ năng lượng 20% mỗi đơn vị GDP, nhưng Ông Hồ thừa nhận rằng mục tiêu trên không thể đạt được trong năm đầu tiên của kế hoạch. Ông kêu gọi nỗ lực gấp đôi trên cả hai mặt bảo toàn năng lượng và giảm mức xả ô nhiễm. Một lĩnh vực khác có tiềm năng khơi dậy sự hợp tác là năng lượng hạt nhân. Năm 2006, TQ loan báo rằng sẽ đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy điện hạt nhân, từ công suất 8.700 megawatt hiện tại lên 40.000 megawatt vào năm 2020.[40] Cùng năm 2006, Nhật Bản cũng loan báo về kế hoạch nâng tỷ lệ sản xuất điện năng nguyên tử lực từ 29% trong năm 2004 lên 30-40% trong năm 2030, và tái xác nhận tầm quan trọng của hợp tác tư nhân trong lĩnh vực nguyên tử lực như là một khu vực trọng yếu trong hợp tác năng lượng với châu Á, bao gồm cả TQ.[41] Chỉ có một câu hỏi là khi nào các căng thẳng địa chiến lược, và chu kỳ tái phát sự bất tín nhiệm nhau giữa hai chàng khổng lồ châu Á lên đến điểm mà kiểu dàn xếp thực dụng— thường thấy  trong mối lợi ích toàn cầu— sẽ có thể giải quyết bằng chính trị giữa hai bên. Phía Mỹ, trong khi tái xác nhận sự đồng minh với Nhật Bản như là một đồng minh chính ở Thái Bình Dương, cần phải tái xác nhận rằng họ thấy được sự quan trọng hợp tác năng lượng của Trung-Nhật, và thực ra là Mỹ-Trung-Nhật.[42]

HÌNH III: VIỄN CẢNH CHẮC CHẮN VỀ GIA TĂNG NHU CẦU DẦU MỎ Ở TQ

Nguồn: Bộ Năng lượng Mỹ. Quang cảnh về Năng lượng hàng năm, ấn bản 2005

Japan, China, India, South Korea

Source: US Department of Energy.  Annual Energy Outlook, 2005 edition.

*                              *

*

Nhận xét của Nhóm chuyển ngữ Bauvinal.Info.free.fr

Bản báo cáo của Kent E. Calder* kết hợp với bài viết của GS Evan A. Feigenbaum** (mới đăng trên Bauvinal) sẽ cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tương đối toàn diện về chiến lược năng lượng và sự “cạnh tranh trong hợp tác” Trung-Nhật trong bối cảnh địa-chính trị chịu ảnh hưởng trực tiếp của Hoa Kỳ trong khu vực Châu Á-TBD hiện nay.

Nhu cầu năng lượng tăng đến mức độ chóng mặt do phát triển kinh tế của TQ trong mấy thập kỷ qua đã làm cán cân tương quan cung-cầu năng lượng trên thế giới thay đổi, TQ vội vã thực hiện chính sách “quân sự hóa” nền kinh tế, tăng cường lực lượng hải quân một cách ồn ào cũng như đặt lại vấn đề chủ quyền đơn phương trên biển Đông theo đường “lưỡi bò” của họ bất chấp những thỏa thuận song phương với Việt nam hay đa phương với các nước Asean về “cách ứng xử trên biển Đông” là những động thái đang làm cho các nước trong khu vực lo lắng cũng như tuyến đường biển đi lại trên biển Đông có nguy cơ rơi vào khủng hoảng.

Điều nầy vô hình trung củng cố những lập luận tương tự như Feigenbaum , cho rằng quyền khống chế làm bá chủ biển đông của hải quân Hoa kỳ là sự đối trọng tất yếu chống xu thế nầy, không đếm xỉa gì đến vị trí , vai trò và quyền lợi của Việt Nam và các nước đông nam á khác—là những người trong cuộc dọc theo biển Đông– bị xem là nước nhỏ, “ăn theo” dưới “cái ô bảo trợ ” về quân sự của Hoa kỳ.

Liệu những mỏ dầu và khí dốt trữ lượng cao ở khu vực chung quanh quần dảo Trường Sa sẽ phải như thế nào khi tham vọng của các nước lớn ngày càng hiện rõ, nhu cầu về năng lượng của TQ cần được giải đáp như thế nào để không gây chiến tranh hay lấn chiếm cục bộ trên biển đông, hủy hoại sự ổn định và hợp tác song phương và đa phương của Việt nam trong tương lai không xa ?

Thiết nghĩ những vấn đề quan trọng nầy cần được các nhà nghiên cứu Việt nam quan tâm nhiều hơn, đề xuất những phân tích và có kiến giải hợp lý đóng góp vào việc củng cố hòa bình và phát triển kinh tế của đất nước cũng như của khu vực.

———————————————————————————————-

· *trình bày cách đây 2 năm (2007)

· **China’s Military Posture and the New Economic Geopolitics – Tình hình Quân đội Trung Quốc và Tân Địa chính trị Kinh tế”được viết cách đây gần 10 năm (1999), tình hình quốc phòng ở Trung Quốc hiện nay đã được tăng cường với ngân sách gấp bội, hình thành 3 hạm đội trên biển..v..v…dù vậy, cán cân tương quan lực lượng cơ bản vẫn không thay đổi , mở ra thời kỳ kích thích chạy đua vũ trang ở khu vực Châu Á-TBD trong khi TQ cố tình phô diễn chính sách “Phú Quốc Cường Binh” trên biển Đông và vùng biển quốc tế bằng những cuộc tập trận qui mô chưa từng có.

HÌNH IV: CẢI TIẾN SỬ DỤNG HIỆU QUẢ NĂNG LƯỢNG TẠI NHẬT


Chú: Tính toán lấy số liệu 1973 làm mức 100

Source: Energy Conservation Center. Handbook of Energy and Economic Statistics in

Japan, 2006 edition, pp. 68-69.

Chú: Tính toán lấy số liệu 1973 làm mức 100

Nguồn: Trung tâm Bảo tồn Năng lượng. Sổ tay thống kê năng lượng và kinh tế tại Nhật, ấn bản 2006, các trang 68 và 69.

Nguồn: Bộ Năng lượng Mỹ. Quang cảnh về Năng lượng hàng năm, ấn bản 2005

Japan, China,India, South Korea

Source: US Department of Energy.  Annual Energy Outlook, 2005 edition.

Chú thích:

*1 Đọc Nicholas Kristof, “The Rise of China”, Foreign Affairs, November/December, 1993, Volume 72, Issue 5.

2* Đọc Kent E. Calder, “Simmering Sino-Japanese Rivalries”, Foreign Affairs, April/May, 2006, pp. 1-11.

3* Năm 2004 Nhật Bản tiêu thụ khoảng 5,35 triệu thùng. Đọc U.S. Department of Energy. Country Analysis Brief, at: http://www.eai.doe.gov/emeu.cabs/china.html.

[4] Dean Acheson đã thúc giục cấm vận dầu mỏ đối với Nhật để trả đũa lại việc Nhật xâm lược Đông Dương năm 1940, một động tác đưa đến cuộc tấn công gấp gáp Trân Châu Cảng vào tháng 12/1941. Đọc Daniel Yergin. The prize : the epic quest for oil, money, and power. 1991. New York : Simon and Schuster.

[6] Như đã dẫn

[7] Thuật ngữ này đã được dùng trong một phạm vi khác là kỹ nghệ, xem Daniel Okimoto. Pioneer and Pursuer: The Role of the State in the Evolution of the Japanese and American Semiconductor Industries. Stanford: Stanford University Northeast Asia-United States Forum on International Policy, 1983.

[8] BP Statistical Review of World Energy, June, 2006 edition, p. 11.

[9] Như trên đã dẫn. Nhật Bản, dĩ nhiên, có danh hiệu GDP hơn gấp 3 lần của TQ, mặc dù nhu cầu về dầu mỏ là ít hơn một phần ba số của TQ.

[10] Trang mạng của Tanaka Akihiko về những tài liệu pháp lý trong các mối liên hệ Hán Nhật:

http://www.ioc.u-tokyo.ac.jp/~worldjpn/

documents/texts/JPCH/19780216.O1J.html

[11] Trung Quốc Thời báo, xem tại: http://www.chinadaily.com.ch/en/doc

[12] Trang mạng về Hợp tác Kinh tế Nhật Bản – TQ: http://www.jc-web.or.jp/lt/2.htm

[13] Trang mạng của Tanaka Akihiko về những tài liệu pháp lý trong các mối liên hệ Hán Nhật:

http://www.ioc.u-tokyo.ac.jp/~worldjpn/documents/

texts/JPCH/19780216.O1J.html

[14] Đọc trang mạng Sự Kết hợp Kinh tế Nhật Bản-TQ: http://www.jc-web.or.jp/lt/2.htm

[15] Tổng kết Thống kê Năng lượng Thế giới, Tập đoàn Dầu khí Anh Quốc, ấn bản 6-2006, trang 20.

[16] Tổng kết Thống kê Năng lượng Thế giới, Tập đoàn Dầu khí Anh Quốc. ấn bản 2006. [có trên mạng]

http://www.bp.com/productlanding.do?categoryId=6842&contentId=7021390

(19) See Aaron L. Friedberg. “Going Out”: China’s Pursuit of Natural Resources and Implications for the PRC’s Grand Strategy. Seattle: National Bureau of Asian Research, Volume 17, Number 3, September, 2006, p. 30.

[20] Về khuynh hướng trước đây, đọc Raymond Vernon. Two Hungry Giants: The United States and Japan in the Quest for Oil and Ores. Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press, 1983.

[21] Đường lối về Tài nguyên và Năng lượng, Bộ Kinh tế Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản. Bạch thư về năng lượng, ấn bản 2006 [có trên mạng]. http://www.enecho.meti.go.jp/topics/hakusho/

2006EnergyHTML/html/i2120000.html

[22] Trung tâm Bảo toàn Năng lượng: Sổ tay thống kê năng lượng và kinh tế tại Nhật, ấn bản 2006, các trang 68-69.

[23] Trung tâm Bảo toàn Năng lượng: Sổ tay thống kê năng lượng và kinh tế tại Nhật, các trang 62-63

[24] Bộ Kinh Tế, Thương mại và Công nghiệp, Chủ trương về Tài nguyên và Năng lượng. Bạch thư Năng lượng, ấn bản 2006. Có sẵn trên mạng tại:

http://www.enecho.meti.go.jp/topics/hakusho/

2006EnergyHTML/html/i2120000.html.

[25] Trung tâm Bảo toàn Năng lượng. Sổ tay, trang 36.

[26] Chalmers Johnson. MITI và phép lạ người Nhật. Stanford: Stanford University Press, 1982

[27] Về mức độ hiệu quả của chính phủ Mỹ trong ngoại giao năng lượng, đọc Stephen Krasner. Defending the National Interest: Raw Materials Investments and U.S. Foreign Policy. Princeton: Princeton University Press, 1978. Trong năm 2005-2007 Krasner giữ chức Giám đốc Kế hoạch Chính sách trong chính quyền Mỹ.

[28] Năm 2004, 89,5% nhập khẩu dầu của Nhật đến từ Trung Đông, gồm 26,2% từ Á rập Saudi, 256% từ các tiểu vương quốc Á rập Thống nhất và 15% từ Iran. Xem trên đã nêu., các trang 152-153.

[29] Thí dụ, TQ tiếp cận Iran trong lúc Nhật và Iran đang thương thảo về các vấn đề ở mỏ dầu Azadegan. Mặc dù Iran dọa Nhật là sẽ chuyển hợp đồng sang ký với TQ nếu phía Nhật không tán thành các điều khoản mình, Teheran trong thực tế đã không làm vậy.

[30] Tài Chính Thời Báo, số ngày 19 tháng 10-2006

[33] On the technical details of this conflict, see Selig Harrison.  Seabed Petroleum in Northeast Asia..

[34] Kyodo News, May 19, 2005 and April 27, 2005.

[35] Kyodo News, April 28, 2006.

[36] Vào tháng 10-2004, công ty quốc doanh Sinopec, một trong ba công ty dầu mỏ chủ chốt của TQ, kết thúc đàm phán một thỏa thuận kéo dài 30 năm trị giá 70 tỉ đô la với người Iran về việc phát triển giếng dầu Yadaravan và mua 250 triệu tấn khí thiên nhiên hóa lỏng.

[38] Sinocast China Business Daily News, 13/102003.

[39] Đọc Thời báo New York, 5/3/2007.

[40] Tin AFP, ngày 24/3/2006.

[41] Các lĩnh vực khác của sự hợp tác bao gồm bảo toàn năng lượng, kỹ thuật than sạch, năng lượng thay thế, và năng lượng tồn trữ. Đọc: Agency for Natural Resources and Energy. New National Energy Strategy (Digest). 2006. [có sẵn trên mạng] http://www.enecho.meti.go.jp/english/index.htm

[42] Thêm bước khẳng định cho chiều hướng này là ở Hội thảo cấp bộ trưởng về năng lượng vào tháng 12-2006 tại Bắc Kinh, có tham gia bộ trưởng năng lượng các nước Nhật, TQ, Nam Hàn, Ấn Độ và Mỹ. Họ đã thảo luận về an ninh năng lượng, sự ổn định và sự phát triển bền vững, bao gồm hợp tác trong kỹ thuật than sạch và nguyên tử. Để biết tóm lược, xin xem tờ Xinhua News Agency, số ngày 18/12/2006.

research.yale.edu/eastasianstudies/japanworld/calder.pdf

Tác giả xin bày tỏ sự  đánh giá cao đặc biệt đến cô Yukie Yoshikawa qua sự hỗ trợ nghiên cứu của cô cũng như các  góp ý trong bài này.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 27. Điều trần của Phó phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher trước Tiểu ban đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Quốc hội Hoa Kỳ

Posted by anhbahoa on November 27, 2009

Bài 27

Điều trần của Phó phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng

Robert Scher trước Tiểu ban đặc trách Đông Á

và Thái Bình Dương Ủy ban Đối ngoại

Thượng viện Quốc hội Hoa Kỳ

15/07/2009

Robert Scher – Thượng Viện Hoa Kỳ

Diễn Đàn X-Café

Điều trần của Phó phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher

Vụ an ninh Á châu và Thái Bình Dương

Văn phòng bộ trưởng Quốc phòng

trước

Tiểu ban đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương

Ủy ban Đối ngoại

Thượng viện Quốc hội Hoa Kỳ

Ngày 15 tháng 7 năm 2009

Các vấn đề trên biển và tranh chấp lãnh thổ ở Đông Á.

Thưa ông chủ tịch, cám ơn ông đã mời tôi đến điều trần trước tiểu ban của ông về các tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải và chủ quyền. Những vấn đề này đang là trọng tâm của các giải pháp an ninh ở Đông Á và Thái Bình Dương, và được bộ Quốc phòng quan tâm kỹ. Tôi hoanh nghênh việc quan tâm của tiểu ban về các vấn đề này, và mong muốn giữ đối thoại với tiểu ban trong khi các sự việc vẫn đang chuyển biến.

Trong bài phát biểu ngày 30 tháng 5 năm 2009 ở cuộc họp hàng năm về Quốc phòng của viện Nghiên Cứu Sách Lược Quốc Tế ở Singapore, bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates đã trình bày nhiều thay đổi đáng chú ý trong bối cảnh an ninh ở châu Á từ khi cuộc Chiến Tranh Lạnh kết thúc. Đặc biệt hơn hết, khi chú tâm về sự giàu có đang phát triển và tiêu chuẩn sống càng ngày càng nâng cao của người dân châu Á, bộ trưởng Gates đã nhấn mạnh các liên quan giữa ổn định và phát triển kinh tế, một trong những nét đặc sắc của các chuyển biến an ninh ở châu á trong giai đoạn này. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong hai thập kỷ vừa qua phần lớn được yên ổn; khu vực này rất ổn định và việc ổn định này đã góp phần đem lại lợi ích cho mọi người.

Tuy ổn định, chúng tôi vẫn thấy một dữ kiện có thể xáo trộn bối cảnh an ninh châu Á – Thái Bình Dương – và chủ đề của buổi điều trần ngày hôm nay là một chuỗi tranh chấp không ngừng, đặt biệt là các tranh chấp ở Đông Nam Á và Đông Hải giữa nhiều bên. Trong các năm gần đây, chúng tôi đã chứng kiến nhiều gia tăng trong xích mình và căng thẳng trong các tranh chấp này, những xích mích tương phản với tình trạng tương đối yên ổn và chú trọng hợp tác dựa vô các giải pháp ngoại giao được biểu thị qua Tuyên bố lịch sử 2002 về Hành xử của các bên ở vùng Đông hải.

Có nhiều lý do cho các gia tăng xích mính này: gia tăng nhu cầu về dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên đương nhiên gia tăng các phần tự nhận giữa các bên tranh chấp muốn giữ quyền tài nguyên của mình; gia tăng quan tâm về chủ quyền vì hạn định nộp yêu cầu về thềm lục địa mở rộng theo Hiệp ước về luật biển Quốc tế (UNCLOS); gia tăng chủ nghĩa dân tộc làm tăng độ nhạy cảm giữa các nhà nước và người dân về các coi thường hay vi phạm ranh giới lãnh thổ và chủ quyền. Thêm nữa, các lớn mạnh của quân đội Trung Quốc cũng góp phần thay đổi cường điệu và thái độ trong đối thoại về các tranh chấp trong vùng.

Khi phân tích về các hoạt động trên biển của Trung Quốc, tôi nghĩ cần phải phân biệt giữa việc Trung Quốc (TQ) quấy rối các tàu trợ giúp cho Hải quân Mỹ ở gần bờ biển TQ, và cách thức TQ tiếp cận với tranh giành lãnh thổ, lãnh hải nói chung. Tuy cần phân biệt rõ hai điều này, nền tảng của các phản ứng của Mỹ đều như nhau.

Việc TQ qua lại tiếp tục quấy rối tàu Mỹ hoạt động bình thường hay thao tác các hoạt động quân sự hợp pháp trong vùng độc quyền kinh tế (EEZ) của TQ trong năm nay là một chuyện khó chịu trong quan hệ Mỹ và TQ. Nhưng từ hối tháng 5 đến giờ chưa có tàu TQ nào quấy phá tàu Mỹ nữa.

Trong khi các việc bất ngờ trên biển như vậy cần được quan tâm, chiều hướng giảm xuống cho các bất ngờ này sau một thời gia tăng đột biến cho thấy hai bên giữ cam kết giải quyết các sự việc qua các kinh ngoại giao.

Bộ Quốc phòng nhận xét về hành xử của TQ trong vùng EEZ và trong vùng Đông hải mà TQ đang tranh giành, có hai tiền đề:

Thứ nhất, xác nhận chủ quyền của TQ trên hầu hết Đông hải là các vấn đề sách lược cho TQ. Chủ yếu TQ cần cho cả các giá trị kinh tế và chính trị, mà các đồng nghiệp của tôi bên bộ Ngoại giao đã trình bày, nhưng có thể gói gọn là TQ tích cực chống lại bất cứ hoạt động nào của các nước nhằm tranh giành chủ quyền. Việt Nam, Đài Loan, Phillipines, Mã Lai, Indonesia và Brunei đều có tranh chấp chủ quyền trong vùng Đông hải; các tranh chấp này có xen lấn với nhau, đặt biệt trong các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Thứ nhì, để hỗ trợ cho phát triển về sách lược và chính trị trong vùng, TQ đã và đang tiếp tục gia tăng các hiện diện quân sự ở Đông hải. Chúng tôi có thể thấy được mối liên hệ giữa các phản ứng quả quyết của TQ đối với không quân và hải quân bề mặt Mỹ sau khi Quân Đội Giải phóng Nhân dân TQ (PLA) củng cố, hoàn thiện các cơ sở, căn cứ trên đảo Hải Nam.

Hiểu được các lý do sách lược của TQ không có nghĩa bộ Quốc phòng (QP) sẽ chấp nhận thái độ của TQ khi khẳng định chủ quyền trong vùng. Chúng tôi cương quyết phản đối hành động đem lại nguy hiểm cho tàu bè của chúng ta, và hành động rõ ràng trái với cách cư xử được chấp thuận trên các vùng biển nằm ngoài lãnh hải quốc gia. Bộ QP sẽ tiếp tục sử dụng tất cả các kinh liên lạc có được để bày tỏ quan điểm này đến các đồng nhiệm bên quân đội TQ. Trong cuộc họp Defense Consultative Talks vừa rồi ở Bắc Kinh, vấn đề này đã là chủ đề của chương trình họp. Hai bên (Mỹ và TQ) đã đồng ý lập một Cuộc Họp Đặc Biệt (Special Meeting) theo tinh thần của thoả thuận US-China Military Maritime Consultative Agreement (Thoả thuận trao đổi về các vấn đề quân sự trên biển giữa Mỹ và TQ – MMCA) (1998) trong tuần tới để lập ra các cách thức thanh tra các tiến triển của thỏa thuận MMCA, phát triển liên lạc, và giảm bớt cơ hội tai nạn, hay sơ ý giữa quân đội hai nước khi đang hoạt động gần nhau.

Ngoài ra, chúng tôi phản đối bất cứ nước nào muốn giới hạn các quyền tự do hải hành trong khu vực EEZ. Luật quốc tế truyền thống, như viết trong điều 58 và 87 của phiên bản năm 1982 Luật UNCLOS, cho phép toàn bộ các quốc gia trên thế giới quyền hải hành trong EEZ, tự do lưu thông, chuyển tiếp, và các hoạt động biển thông thường khác trên hải phận quốc tế. Đây là quan điểm của nước Mỹ từ năm 1982, sau khi có luật UNCLOS. Lưu thông hàng hải trong EEZ xét về tính chất và nội dung phải có cùng tự do như lưu thông hàng hải trên hải phận quốc tế. Phải để ý trên 40% biển của thế giới nằm trong EEZ, do dó tự do hải hành trong EEZ rất cần thiết cho kinh tế toàn cầu và hòa binh của thế giới, và cần được cương quyết xác định và bảo vệ.

Như đã nói ở trên, các hoạt động quân sự của Mỹ trong khu vực này chỉ là các hoạt động thường nhật, và theo đúng với các luật quốc tế thông thường ghi trong UNCLOS 1982. Chúng tôi đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần chính sách căn bản của Mỹ về các tranh chấp ở Đông hải, gần đây nhất là ở Đối thoại Sangri-La hồi tháng 5 năm 2009, khi bộ trưởng Gates tuyên bố Mỹ sẽ không đứng theo bên nào trong tranh chấp lãnh thổ và chỉ ủng hộ một giải pháp hòa binh để bảo vệ tự do hải hành. Trong bài phát biểu, bộ trưởng Gates nói, “dù trên mặt biển, trong không gian gần mặt đất, không gian xa, hay trong không gian thông tin, các giá trị chung toàn cầu cho chúng ta một nơi chung để hợp tác – ở đó chúng ta cần theo nguyên tắc của phát luật và các cơ chế khác để có thể gìn giữ hòa binh trong khu vực.”

Bộ trưởng Gates có nói, “chúng ta giữ lập trường cởi mở, chống độc quyền, và tôn trọng các sử dụng thông thường và có trách nhiệm trong không gian chung nhằm phát triển và giữ phồn thịnh cho mọi người.” Mỹ quan tâm đến việc giữ các liên lạc trên biển; không bị dính líu đến các tranh chấp trong vùng; khuyến khích giải pháp cho các tranh chấp bằng một khung làm việc hỗn hợp, tránh tạo ra tiền lệ, và bảo vệ uy tín của Mỹ ở Đông Nam Á.

Để hỗ trợ các mục đích sách lược của chúng ta, bộ QP đã đề ra nhiều phương hướng:

1) Biểu lộ rõ qua lời nói và hành động rằng quân đội Mỹ sẽ luôn hiện diện và có thái độ như là một lực lượng ưu việt trong vùng;

2) Đặt tiền lệ và điều chỉnh các xác định về quyền tư do hải hành bằng các hoạt động của tàu hải quân Mỹ;

3) Xây dựng các mối quan hệ vững chắc với các dối tác trong vùng, trên cả hai phương diện: chính sách qua đối thoại về sách lược và hành động qua phát triển khả năng hoạt động của đối tác;

4) Củng cố các quan hệ quân sự-ngoại giao với TQ để giữ liên lạc tốt tránh sai lầm.

Hiện diện quân sự có lẽ là phần quan trọng nhất trong phương hướng 1 nêu trên. Về phương diện này, gia tăng quân số ở Guam được coi là vị trí đóng quân vĩnh viễn trong vùng và xác định vị thế sức mạnh tại chỗ. Chúng tôi tin vị thế này có ảnh hưởng duy trì yên ổn cho các chính sách và sách lược của các bên tranh chấp ở Đông hải. Làm khác đi sẽ tạo ra một khoảng trống khi quân đội Mỹ bỏ ra, và sẽ gây khó khăn trong sách lược của các nước yếu thế trong vùng.

Về yếu tố thứ hai trong chiến lược của chúng ta (Mỹ.) bộ tư lịnh Thái bình dương (tlTBD)sẽ tiếp tục khẳng định quyền tự do hải hành trong vùng. tlTBD sẽ tiếp tục tiến hành các hoạt động ở Đông hải, theo đúng quy luật Quốc tế thường lệ như ghi trong UNCLOS. Các hoạt động của Mỹ sẽ phục vụ cho qưyền lợi trong vùng của Mỹ, và mong mỏi giữ an ninh, yên ổn cho bờ phía tây Thái Bình Dương.

Yếu tố thứ ba sẽ tập trung mở rộng và đi sâu hơn cho các quan hệ ngoại giao quốc phòng, và các chương trình cấu tạo khả năng có tác dụng quan trọng cố gắng hỗ trợ cho việc ngăn chận các căng thẳng trong Đông hải trở thành nguy cơ đến quyền lợi của Mỹ. Về yếu tố này, chúng ta đã nối lại các đối thoại về chính sách quốc phòng cấp cao với Việt Nam và Mã lai thêm vô với các quan hệ, cơ chế chặc chẽ đã có với Phi lip pin, Thái Lan, và Indonesia. Qua nhiều hoạt động hợp tác an ninh như hội thảo hay tập trận hỗn hợp nhiều bên, chúng ta đang giúp nhiều nước trong vùng vượt qua các rào cản của lịch sử hay của văn hóa làm khó khăn các hợp tác an ninh nhiều bên.

Cuối cùng, chúng ta cần phải gia cố các cơ chế có sẵn đễ đối thoại với TQ, và nhiều vấn đề an ninh khác, như Các cuộc hội thoại giải đáp về Quốc phòng Mỹ – TQ, các cuộc hội thoại hợp tác chính sách về quốc phòng Mỹ – TQ, quá trình Tư vấn thương lượng về quân sự trên biển Mỹ – TQ. Những cơ chế này giúp giữ nhiều quan hệ đối thoại cởi mở và lâu dài để xây dựng tin tưởng nhiều hơn, và để cải thiện hiểu biết, ứng dụng của các tiêu chuẩn an toàn, luật lệ giao thông đem đến cải thiện an toàn cho quân lính của các nước trong vùng.

Toàn bộ các cố gắng trên nhằm giảm xáo trộn. Chúng tôi tin tưởng các bên tranh giành chủ quyền ở Đông hải đánh giá về Mỹ như là một ảnh hưởng đem đến ổn định trong khu vực. Mặc dù chúng ta không đề nghị phân xử hay hòa giải các xung đột, hiện diện trong vùng của chúng ta đem đến cảm giác ổn định và vùng đệm cho các bên tìm kiếm giải pháp chính trị cho các tranh chấp.

Tôi sẽ vui lòng trả lời các thắc mắc của quí vị.

Nguồn: Thượng viện Hoa Kỳ

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 26. Tài liệu Lịch sử chứng minh các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa chưa bao giờ là lãnh thổ của Trung quốc

Posted by anhbahoa on November 27, 2009

Bài 26

Tài liệu Lịch sử chứng minh các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa chưa bao giờ là lãnh thổ của Trung quốc

Historical documents prove the islands in the southern coast of China have never been the territories of China

Phạm Hân

Chủ tịch Hồ Cẩm Đào duyệt  diễn tập của Hải Quân

Để biện minh cho yêu sách về lãnh thổ của Trung Quốc đối với các quần đảo ở biển “Nam Trung Hoa” (tức biển Đông) thường được phía Trung Quốc gọi là “các đảo Nam Hải”, từ năm 1975 các học giả Trung Quốc đã tìm tòi, lượm lặt những chi tiết liên quan đến biển “Nam Trung Hoa” trong kho sách cổ Trung Quốc để tạo dựng luận thuyết nói rằng “các đảo Nam Hải từ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc” do nhân dân Trung Quốc “phát hiện và đặt tên sớm nhất” “khai phá và kinh doanh sớm nhất”, do Chính phủ Trung Quốc “quản hạt và hành sử chủ quyền sớm nhất”.

Hàng loạt sách cổ và bản đồ cổ đã được viện dẫn để làm chỗ dựa cho luận thuyết nói trên.

Song, sự thật hoàn toàn không phải như thế. Hàng trăm sách và bản đồ Trung Quốc cho đến cuối đời Thanh (1911) người ta có thể tìm thấy trong cơ quan lưu trữ ở Hà Nội và ở nước ngoài chứng minh ngược lại rằng các quần đảo ở biển “Nam Trung Hoa” chưa bao giờ là lãnh thổ Trung Quốc.

Từ những tài liệu lịch sử đó thấy rõ những “bằng chứng” các học giả Trung Quốc đưa ra nhằm làm chỗ dựa cho “luận thuyết” của mình là không đúng sự thật. Vì vậy, bài viết này muốn đưa ra công luận sự thật lịch sử nói trên.

Về luận thuyết “phát hiện sớm nhất”, “đặt tên sớm nhất”, “khai thác kinh doanh sớm nhất” dù có đúng sự thật cũng sẽ vô nghĩa vì đây không phải là hành vi nhà nước nhằm thụ đắc hay thực hiện chủ quyền đối với các quần đảo ở vùng biển này.

Vì vậy, bài viết chỉ đi sâu phân tích những tài liệu đã được viện dẫn để nói rằng chính phủ Trung Quốc đã “quản hạt và hành sử chủ quyền sớm nhất” đối với các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa.

Để chứng minh nhà nước Trung Quốc đã “quản hạt và hành sử chủ quyền sớm nhất” đối với các quần đảo ở Biển Nam Trung Hoa, các học giả Trung Quốc đã đưa ra các “bằng chứng” sau đây:

– Các đảo Nam Hải đã được “sáp nhập” vào đảo Hải Nam năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường (789);

– Chính phủ Trung Quốc đã sai thuỷ quân đi “tuần tiễu” các đảo Nam Hải;

– Nhà Nguyên đã sai nhà thiên văn Quách Thủ Kính đến quần đảo “Tây Sa” đo đạc thiên văn.

– Chính phủ Trung Quốc kháng nghị, buộc người Đức ngừng việc quan trắc các đảo Nam Hải 1883;

– Chính quyền địa phương Trung Quốc thực hiện nghĩa vụ cứu giúp tàu thuyền nước ngoài lâm nạn ở vùng biển “Tây Sa”;

– Các đảo Nam Hải đã được vẽ vào bản đồ Trung Quốc.

Sau đây là sự thật về những tài liêu gọi là bằng chứng để làm chỗ dựa cho luận thuyết chính phủ Trung Quốc “đã quản hạt và hành sử chủ quyền sớm nhất” đối với các đảo Nam Hải nói trên.

1. Trước hết, về việc “sáp nhập” các đảo Nam Hải vào đảo Hải Nam năm 789.

Các học giả Trung Quốc viện dẫn đoạn viết về lịch sử và địa lý đảo “Hải Nam” trong Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát đời Tống để chứng minh cho luận cứ này.

Trong Hội biên sử liệu các đảo Nam Hải nước ta (1988), các tác giả trích dẫn đoạn văn liên quan trong Chư Phien Chí để nói rằng “Các đảo Nam Hải từ năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường (789) đã thuộc phạm vi quản hạt của Trung Quốc” (Trang 33).

Trong bài viết đăng trên tạp chí Window (HongKong) ngày 3/9/1993, tác giả đăng nguyên văn Chư Phiên Chí và quả quyết rằng:

“Năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên, quần đảo Nam Sa đã được đặt dưới sự quản hạt của phủ Quỳnh Châu”.

Vậy tác giả Chư Phiên Chí viết như thế nào mà các học giả Trung Quốc ngày nay lại khẳng định như thế?

Chư Phiên Chí là cuốn sách viết về nước ngoài. Cuốn sách, tác giả có chép về đảo Hải Nam. Mở đầu mục này, tác giả viết: “Hải Nam là Châu Nhai, Đảm Nhĩ nhà Hán.

Vũ Đế (140-87 TCN) bình Nam Việt sai sứ từ Từ Văn vượt biển lấy đất đặt hai quận Châu Nhai, Đảm Nhĩ.

Nguyên Đế (48-33 TCN) theo lời bàn của Giả Quyên bỏ Châu Nhai. Đời Lương (502-557), Tuỳ (581-618) lại đặt như cũ. Nhà Đường, năm đầu niên hiệu Trung Quán (627) tách làm 3 châu Nhai, Đảm, Chấn thuộc Lĩnh Nam Đạo.

Năm thứ 5 tách (huyện) Quỳnh Sơn của Nhai (Châu) đặt thành quận, nâng huyện Vạn An làm châu, nay là Vạn An Quân, Đảm, Chấn nay là Cát Dương quân, Xương Hoá quân. Năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên (789) lấy Quỳnh (Sơn) làm Phủ đô đốc.

Nay theo như thế. Từ Văn có Đệ Giác Trường, đối với Quỳnh (Hải Nam) cách nhau chừng hơn 360 dặm, thuận gió nửa ngày thì đến. Dòng giữa gọi là Tam Hợp Lưu (dòng nước xoáy đến từ 3 ngả) đến đây không sóng gió người đi thuyền giơ tay chúc mừng nhau. Đến Cát Dương vẫn là Biển, đất cát chẳng còn.

Bên ngoài có Châu (đảo) gọi là U-ri, là Su-ji-liang . Phía Nam đối diện với Chiêm Thành, phía Tây trông về Chân Lạp, phía Đông là Thiên Lý Trường Sa, Vạn lý Thạch Đường, mênh mông không bờ bến, trời nước một mầu, người đi thuyền qua lại chỉ lấy kim la bàn làm chuẩn, ngày đêm trông coi cẩn thận, sai sót tí chút sống chết kề bên.

Bốn quận gồm 11 huyện thuộc Quảng Nam Tây Lộ” (tờ 15b-16a).

Qua đoạn văn trích dẫn trên người ta thấy tác giả viết hai ý khác nhau. Đoạn đầu, tác giả tóm lược lịch sử đảo Hải Nam. Đoạn tiếp theo tác giả mô tả vị trí địa lý đảo này trong tương quan với các vùng đất, biển “bên ngoài” không thuộc Trung Quốc.

Sự thật về sự kiện năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên (789) đời Đường là như vậy. Sự kiện xảy ra ở đảo Hải Nam năm 789, sử sách Trung Quốc chép rành rọt năm đó, đô đốc nhà Đường là Lý Phục cho quân từ đại lục sang lấy lại đảo Hải Nam sau hơn 100 năm dân bản địa nổi dậy làm chủ đảo, không hề có sự sát nhập các đảo Nam Hải và đảo Hải Nam.

Việc Quỳnh Châu được đặt làm “Phủ đô đốc” năm 789 với “Thiên lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường” là hai ý khác hẳn nhau, sao có thể ghép lại để tạo ra một ý mới là các đảo Nam Hải được “sáp nhập” vào Hải Nam năm 789?

2. Hai là, về việc phái thuỷ quân đi “tuần tiễu” các đảo Nam Hải.

Các học giả Trung Quốc dẫn ba sự kiện để chứng minh. Đó là việc triều đình Bắc Tống “đặt dinh luỹ thuỷ quân tuần biển” ở Quảng Châu; chép trong Vũ Kinh tổng yếu; việc viên tướng nhà Nguyên đi qua “Thất Châu Dương, Vạn lý Thạch Đường” trên đường đi đánh Gia-Va năm 1293 chép trong Nguyên Sử; việc viên phó tướng Quảng Đông Ngô Thăng đi tuần ở Hải Nam năm 1710-1712 chép trong Tuyền Châu phủ chí.

Sự thật về ba sự kiện đó như sau:

– Về sự kiện triều đình Bắc Tống “đặt dinh luỹ thuỷ quân tuần biển”, Vũ Kinh tổng yếu chép rằng, quân Nam Hải (thuộc Quảng Đông ngày nay) là đất Bách Việt xưa, đời Hán chia làm quận huyện, đời Tống thành nơi đô hội, có mối lợi về buôn bán với nước ngoài, người Phiên người Hán ở lẫn lộn, “sai quân nhà vua đến trấn giữ, đặt dinh luỹ thuỷ quân tuần biển” ở cửa biển sau này.

Sau khi mô tả vị trí nơi đặt dinh luỹ thuỷ quân, tác giả Vũ Kinh tổng yếu chép lộ trình đường biển từ cửa biển Quảng Châu sang Ấn Độ Dương:

“Từ Môn Sơn dùng gió Đông đi về phía Tây nam 7 ngày đến Cửu Nhũ Loa Châu, đi ba ngày nữa đến Bất Lao Sơn (Tác giả chú thích: “Thuộc nước Hoàn Châu”, nay là Cù Lao Chàm), lại đi ba ngày nữa về phía Nam đến phía Đông Lăng Sơn (mũi Đại Lãnh). Phía Tây Nam nơi này là các nước Đại Thực (Ả Rập), Phật Sư tử (Sri-Lanka), Thiên Trúc (Ấn Độ) không thể tính được hành trình” (quyền 20, tờ 19a-19b).

Tác giả Vũ Kinh tổng yếu chép rõ hai ý khác nhau. Một là do thủ phủ quận Nam Hải thời đó (nay là thành phố Quảng Châu) đã trở thành một thương cảng, người nước ngoài (người Phiên) ở lẫn lộn với người Hán, nên vua Tống sai quân đến “trấn giữ” và cho đặt đồn thuỷ quân để “tuần tra”, bảo đảm an ninh cho nơi này. Tác giả phụ chép lộ trình đường biển từ cửa biển Quảng Châu sang Ấn Độ Dương.

Các học giả Trung Quốc đã ghép hai lý do đó với nhau để biến lộ trình đường biển thành tuyến “tuần tra” của thuỷ quân Trung Quốc và giải thích địa danh “Cửu Nhũ Loa Châu” trên tuyến đường này là “quần đảo Tây Sa” để từ đó nói rằng “Trung Quốc đã phái thuỷ quân tuần tiễu quần đảo Tây Sa bắt đầu từ đời Tống ”. Cách giải thích đó đưa đến hai điều phi lý:

– Nếu bảo lộ trình từ cửa biển Quảng Châu đi Ấn Độ Dương là đường “tuần tiễu” của thuỷ quân Trung Quốc, thì đoạn đường từ “Cửu Nhũ Loa Châu” sang Ấn Độ Dương cũng đều thuộc phạm vi “tuần tiễu” của thuỷ quân Trung Quốc và các nước “Đại Thực” (Ả Rập), “Sư Tử” (Sri-Lanka), “Thiên Trúc” (Ấn Độ) cũng đều trở thành lãnh thổ Trung Quốc cả sao?

Nếu bảo “Cửu Nhũ Loa Châu” là “quần đảo Tây Sa” thì theo lộ trình, từ đây đi ba ngày nữa về phía Tây Nam, nơi đến đâu có còn là “Bất Lao Sơn” (Cù Lao Chàm) mà sẽ là ven biển cực Nam Trung Bộ ngày nay. Bởi “Tây Sa” hầu như nằm trên cùng một vĩ tuyến với Cù Lao Chàm, theo hướng Đông Tây.

Gán ghép câu chữ, khoác địa danh nơi này cho nơi kia để sửa lại ý của người xưa, làm sai lạc sự thật lịch sử sao còn có giá trị là “bằng chứng” chứng minh chủ quyền? Sự kiện viên tướng nhà Nguyên Sử Bật đi qua các đảo Nam Hải trên đường đi xuống Gia-Va năm 1293, theo cách nói của học giả Trung Quốc.

Kỳ thật, đây là cuộc hành quân của quân Nguyên đi đánh Gia-Va năm 1293, Nguyên Sử chép, Vua Nguyên (Hu-bi-lai) phán rằng: “Yeheimishi (tên viên tướng Mông Cổ) thông thạo đường biển lo mọi việc về biển. Còn việc binh thì giao cho Sử Bật. Cho Bật giữ chức Phúc Kiến đẳng sứ Hành trung như tỉnh, Bình chương chính sự, thống lĩnh quân xuất chinh” (quyển 17, tờ 61).

Nguyên Sử cho biết “Tháng 12 Bật mang 5000 quân, hội chư quân, xuất phát từ Tuyền Châu (cửa biển miền Nam Phúc Kiến), gió to sóng cả, thuyền chòng chành, quân sĩ mấy ngày không ăn được, qua Thất Châu Dương, Vạn Lý Thạch Đường, đến (hải) giới Giao Chỉ, Chiêm Thành (vùng biển ngoài khơi Quảng Nam-Đà Nẵng ngày nay).

Tháng giêng năm sau (1923) đến đảo Đông Đổng, Tây Đổng, Ngưu Kỳ Dữ, (vùng biển Cù lao Thù-Hòn Hải ngày nay) đi vào đại dương mênh mông, đóng quân tại các đảo Ganlanyn, Kalimata, Goulan (các đảo ngoài khơi Gia-Va) đẵn gỗ đóng xuống để đi vào (Gia-Va)…”.

Nguyên sử còn cho biết sau cuộc chiến, khi trở về Bật đã bị hàng tướng Gia-Va “làm phản” Bật phải “chặn phía sau, vừa đánh vừa đi, 300 dặm mới lên được thuyền (loại thuyền lớn) đi 68 ngày mới về đến Tuyền Châu, quân sĩ chết 3000 người” và chính vì vậy Bật đã bị phạt “đánh 17 trượng, tịch thu một phần ba gia sản” (quyển 162, tờ 7a, 7b).

Cuộc hành quân xâm lược như thế sao có thể giải thích và hiểu là cuộc “tuần tiễu” của thuỷ quân đời Nguyên ở Nam Hải?

Sự kiện viên phó tướng Quảng Đông Ngô Thăng đi tuần khoảng năm 1710-1712 chép trong Tuyền Châu phủ chí (1780), cũng vậy.

Phủ chí chép rằng, sau khi nhậm chức ở Quỳnh Châu, Ngô Thăng đã có những cuộc tuần tiễu “từ Quỳnh Nhai qua Đồng Cổ, qua Thất Châu Dương, tứ Canh Sa, vòng quanh 3000 dặm, đích thân đi tuần, địa phương yên ổn”. (quyển 56, tờ 43a-43b). Căn cứ vào địa danh chép trên tuyến đường tuần tiễu thì cuộc tuần tiễu của Ngô Thăng chỉ diễn ra chung quanh đảo Hải Nam. Bởi “Quỳnh Nhai” là thủ phủ Phủ Quỳnh Châu, phía Bắc đảo; “Đồng Cổ” là dải núi (cao 339 mét) ở Mũi Đồng Cổ, Đông Nam đảo; “Tứ Canh Sa” là bãi cát phía Tây đảo. Thất Châu Dương là vùng biển các đảo nằm gần và ở phía Đông Nam đảo Hải Nam.

Cuộc tuần tiễu chung quanh đảo Hải Nam sao có thể giải thích và hiểu là cuộc tuần tiễu quần đảo “Tây Sa”?

3. Ba là, về việc đo đạc thiên văn của Quách Thủ Kính năm 1279.

Nguyên Sử chép Quách Thủ Kính tiến hành đo đạch thiên văn “bốn biển” năm 1279 theo lệnh của vua Nguyên (quyển 48 tờ 7a, 7b).

Các học giả Trung Quốc căn cứ vào số độ đo được ở “Nam Hải” (15o Bắc Cực, tương đương vĩ độ Bắc ngày nay) để giải thích rằng, điểm đo đạc thiên văn của Quách Thủ Kính ở “Nam Hải chính là trên quần đảo Tây Sa ngày nay để rồi coi đó là “hành động hành sử chủ quyền của chính phủ Trung Quốc” và “cương vực đời Nguyên bao gồm cả các đảo Nam Hải”.

Nguyên Sử cũng cho biết, việc đo đạc thiên văn do Quách Thủ Kính tiến hành mang tính chất nghiên cứu khoa học, tìm hiểu vận động của vũ trụ (mặt trời, mặt trăng, các vì sao) để “làm lịch mới” (quyển 164, tờ 4b-5a).

Với tính chất như vậy và được tiến hành trên phạm vi rộng, vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ Trung Quốc thời đó, nên được chép là “trắc nghiệm bốn biển”. Từ ngữ “bốn biển” người Trung Quốc sử dụng với nghĩa như từ ngữ “thế giới” ngày nay. Cũng vì lẽ đó, người ta thấy 27 nơi tiến hành đo đạc, có cả “Cao Ly”, nay là Triều Tiên, “Thiết Lặc”, vùng đất đến nay thuộc Sibia, Liên Bang Nga, “Bắc Hải”, nay là Bắc Băng Dương, “Nam Hải” nay là biển Nam Trung Hoa.

Nếu hiểu “Nam Hải” thời đó nằm trong “cương vực đời Nguyên”, thì Triều Tiên, Si-bia, Bắc Băng Dương cũng thuộc “cương vực đời Nguyên cả sao? Biết rằng, cương vực đời Nguyên chép trong Nguyên Sử và thể hiện trên bản đồ đời Nguyên (Quảng dư đồ của Chu Tư Bản) phía Nam chỉ đến đảo Hải Nam, phía Bắc không quá sa mạc Gô-bi.

4. Bốn là, việc chính phủ Trung Quốc kháng nghị người Đức thăm dò “các đảo Nam Hải” năm 1883.

Các học giả Trung Quốc không đưa ra bất kỳ bằng chứng nào để chứng minh hành động này. Song, nhiều nguồn thông tin mà nay còn thấy cho biết công việc thăm dò, đo đạc của người Đức ở biển Nam Trung Hoa trong những năm 1881-1884 tiến hành thuận lợi và tài liệu thu được trong cuộc thăm dò đã được biên soạn thành sách.

Một bài báo đăng trên Tạp chí Phương Đông năm 1910 cho biết, hơn 10 năm trước tác giả đã có trong tay tập tài liệu điều tra biển Nam Hải của một người Đức, trong đó quần đảo “Tây Sa” được ghi chép tỉ mỉ mà ông ta đã dịch ra tiếng Trung Quốc. Ông nói, người Đức này đã đi từ Nam lên Bắc, từ Tây sang Đông đo đạc vùng biển này để lập bản đồ hàng hải.

Theo Thẩm Bằng Phi, trong báo cáo về cuộc điều tra quần đảo Tây Sa năm 1928, năm 1883 Chính phủ Đức tiến hành đo đạc quần đảo Paracels. Tài liệu thu thập được đã được E.D. Existence và P.W. Position biên soạn thành tài liệu năm 1884.

Trong một tài liệu nghiên cứu về quần đảo Paracels của Phủ Toàn quyền Đông Dương năm 1921 ghi nhận rằng: “Người Đức từ năm 1881 đến 1884 đã tiến hành nghiên cứu thuỷ học một cách kỹ lưỡng các đảo này” và “họ thường tiến hành ở hầu hết các vùng biển Trung Hoa (Hải Nam, Bắc Hải, Vi Châu) cho đến tận Áo Môn và Phúc Châu” . Các nguồn tư liệu thông tin trên chứng minh người Đức đo đạc vẽ bản đồ các quần đảo ở Biển Đông không hề gặp bất kỳ cản trờ nào và những công trình nghiên cứu, đo đạc của họ được hoàn tất và công bố.

Như vậy, câu chuyện Chính phủ Trung Quốc kháng nghị người Đức năm 1883 là điều rất đáng nghi ngờ (?). Dù việc này có thật cũng vô hiệu. Vì các quần đảo ở Biển Đông không hề được đặt dưới chủ quyền của Trung Quốc, Trung Quốc không có tư cách đưa ra bất kỳ lời kháng nghị nào.

5. Năm là, chính quyền địa phương Trung Quốc cứu giúp tầu thuyền nước ngoài lâm nạn.

Về sự kiện này, các học giả Trung Quốc dẫn hai văn bản đời Càn Long năm thứ 20 (1755) và năm thứ 27 (1762) chép việc tàu thuyền nước ngoài bị đắm ở “Cửu Châu Dương (thuộc) Vạn Châu” và ở “Thất Châu Dương”, Chính phủ nhà Thanh lệnh cho quan chức địa phương chu cấp cho người sống sót về nước.

Như trên đề cập, “Thất Châu Dương” là tên chỉ vùng biển kế cận đảo Hải Nam về phía Đông Nam và “Cửu Châu Dương” đã được tác giả bộ sách Lịch Đại dư địa duyên cách hiểm yếu đồ (1879) ghi chú là “Thất Châu Dương ngày nay”.

Điều đó nói lên, cả hai vụ đắm tàu đều xảy ra ở vùng biển kế cận đảo Hải Nam, không phải là “vùng quần đảo Tây Sa”.

6. Sáu là, các đảo Nam Hải được vẽ vào bản đồ Trung Quốc.

Các học giả dẫn 9 bản đồ và chia làm hai loại. Một loại là “bản đồ Minh, Thanh” (tức bản đồ Trung Quốc) có vẽ các đảo Hải Nam. Một loại khác là “bản đồ Minh Thanh và các nước Phiên thuộc” (tức bản đồ Trung Quốc và các nước trong khu vực) có vẽ các đảo Nam Hải. Loại thứ nhất, các học giả Trung Quốc dẫn 2 bản đồ gồm Thanh hội phủ, châu, huyện, sảnh tổng đồ (1800), nói là trên đó có vẽ “Nam Áo Khí”, “Vạn lý Trường Sa”, “Vạn lý Thạch Đường”, “Thất Dương Châu” và giải thích 4 địa danh này là các quần đảo “Đông Sa”, “Trung Sa”, “Nam Sa” và “Tây Sa”; Trực tỉnh hải dương tổng đồ trong Dương phòng tập yếu (1838) nói là trên đó có vẽ “Vạn Lý Trường Sa” và giải thích từ ngữ đó chỉ chung các đảo Nam Hải; Quảng Đông dương đồ cũng trong Dương phòng tập yếu, nói là trên đó vẽ “Cửu Nhũ Loa Châu” và giải thích đó là quần đảo Tây Sa”.

Loại thứ 2, tác giả dẫn 10 bản đồ bao gồm Trịnh Hoà hàng hải đồ (1433); Vũ bị bí thư địa lợi phụ đồ (1637); Đại Thanh Trung ngoại thiên hạ toàn đồ (1709), Thanh trực tỉnh phân đồ (1724), Hoàng Thanh các trực tỉnh phân đồ (1755); Đại Thanh vạn niên nhất thống thiên hạ toàn đồ (1767); Đại Thanh vạn niên nhất thống toàn đồ (sau 1767); Đại Thanh vạn niên nhất thống địa lý toàn đồ (1810); Cổ Kim dư địa toàn đồ (1895) và nói rằng các đảo Nam Hải đã được vẽ vào các bản đồ này.

Đối với loại bản đồ thứ nhất, người ta có thể đặt câu hỏi là liệu Thanh hội, phủ, châu, huyện, sảnh tổng đồ có vẽ các địa danh mà các học giả Trung Quốc đề cập hay không, vì những bản đồ có tiêu đề tương tự mà người ta thấy như Hoàng triều phủ, sảnh, châu, huyện toàn đồ (1856), Hoàng triều trực tỉnh, phủ, sảnh, châu, huyện toàn đồ (1862) không thấy vẽ các địa danh nói trên. Dù bản đồ học giả Trung Quốc nói đến có vẻ các địa danh đó đi nữa cũng không có giá trị chứng minh chủ quyền. Bởi bản đồ này do học giả (Hiểu Phong) vẽ. Theo Luật pháp quốc tế, bản đồ nếu không được đính kèm theo một văn bản pháp lý sẽ không có giá trị chứng minh chủ quyền . Đó là chưa kể các địa danh người Trung Quốc xưa dùng để chỉ các quần đảo ở Biển Nam Trung Hoa đã bị giải thích một cách tuỳ tiện. Bãi ngầm lớn nằm giữa biển Nam Trung Hoa, Phương Tây gọi là Macclessfield Bank còn nằm sâu dưới mặt nước vài chục mét được giải thích là một “quần đảo” và gán cho nó cái tên “Vạn Lý Trường Sa”. “Thất Châu Dương” là vùng biển kế cận đảo Hải Nam về phía Đông Nam lại giải thích là “quần đảo Tây Sa”…

“Vạn lý Trường Sa” trên “Trực tỉnh hải dương tổng đồ” (Dương phòng tập yếu) cũng không thể giải thích là “lãnh thổ” Trung Quốc. Vì trên bản đồ này, ngoài “Vạn Lý Trường Sa” còn vẽ các nơi khác nhau như “Vùng đất Hà Lan, Hồng Mao (Anh) đến buôn bán” (đảo Boóc-nê-ô ngày nay), “Tiểu Lưu Cầu”, “Đại Lưu Cầu” (nay là quần đảo Ryu-kyu của Nhật Bản), “Đối Mã” (nay là đảo Tsuma của Nhật Bản). Nếu “Vạn Lý Trường Sa” được giải thích là “lãnh thổ Trung Quốc” thì các vùng đất khác đề cập ở trên có là “lãnh thổ” Trung Quốc không?

“Cửu Nhũ Loa Châu” trên Quảng Đông dương đồ (Dương phòng tập yếu) thì đã rõ. Trên bản đồ này, ký hiệu “Cửu Nhũ Loa Châu” được vẽ là hình núi cao (3 chóp nón) như ký hiệu “Lê Đầu Sơn”, “Nam Bành” cạnh đó mà hai nơi này người ta đã tìm thấy trên bản đồ phòng thủ biển trong Quảng Đông thông chí của Nguyễn Nguyên (1822) là những đảo ven bờ.

Đối với bản đồ thuộc loại thứ 2 cũng đã rõ. Trên một bản đồ vẽ cả Trung Quốc và các nước trong khu vực mà học giả Trung Quốc gọi là “Bản đồ Minh Thanh và các nước Phiên thuộc” thì lấy gì làm chuẩn để phân biệt đâu là lãnh thổ Trung Quốc, đâu không thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nếu “Các đảo Nam Hải” vẽ trên bản đồ đó là “lãnh thổ” Trung Quốc thì các nước trong khu vực có là “lãnh thổ” Trung Quốc không?

Biết rằng, các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa đã được các học giả Trung Quốc thời xưa gọi là “Trường Sa”, “Thạch Đường” và vẽ trên các bản đồ khu vực Đông Nam Á mang tiêu đề Đông Nam Hải dư đồ hay Đông Nam Dương các quốc duyên cách đồ” Điều không khỏi ngạc nhiên là có hàng loạt sách địa chí và bản đồ Trung Quốc, kế cả của quốc gia (nhà nước biên soạn) và thông thường (học giả biên soạn) lại không thấy các học giả Trung Quốc viện dẫn để chứng minh chủ quyền đối với các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa.

Đơn giản là bởi các sách địa chí và bản đồ đó đều chép hoặc vẽ phần cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam, chứ không bao gồm bất kỳ quần đảo nào ở biển Nam Trung Hoa.

Sách địa chí chính thức có Nguyên phong cửu vực chí (Tống), Đại Nguyên nhất thống chí (1294), Đại Minh nhất thống chí (1461), Đại Thanh nhất thống chí (1842). Bản đồ chính thức có Hoàng dư toàn lãm đồ (Hoàng Thanh nội phủ địa đồ) (1761), Hoàng dư toàn đồ (trong Khâm định Đại Thanh hội điển đồ) (1894).

Sách địa chí thông thường (do học giả soạn) thường được nói đến là Thái bình hoàn vũ ký của Nhạc sử, Dư địa kỷ thắng của Vương Tượng Chi đời Tống, Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư của Cố Viên Vũ, Độc sử phương dư kỷ yếu của Cố Tổ Vũ đời Thanh.

Bản đồ thông thường có Vũ tích đồ, Hoa Di đồ, bản đồ Trung Quốc đời Tống khắc đá năm 1137 (phụ lục II) (Bảo tàng Tây An, Thiên Tây), Địa lý đồ bản đồ Trung Quốc đời Tống, khắc đá năm 1247 (Tô Châu, Giang Tô) , Dư địa đồ của Chu Tư Bản đời Nguyên, trong Quảng dư đồ của La Hồng Tiên, (đời Minh), Nguyên lộ, phủ, châu, huyện đồ trong Kim cổ dư địa đồ của Ngô Quốc Phụ (1638), Hoàng Minh đại thống nhất Tổng đồ trong Hoàng Minh chức phương địa đồ của Trần Tổ Thụ (1628-1634), Hoàng triều phủ, sảnh, châu, huyện toàn đồ của Trình Tổ Khánh (1856), Đại Thanh trực tỉnh toàn đồ (khuyết danh) (1862), Hoàng Triều nhất thống dư địa toàn đồ (khuyết danh) (1894), Hoàng Triều trực tỉnh đồ (1905, tái bản 1910), Đại Thanh đế quốc toàn đồ (1905, tái bản 1910) (Phụ lục II).

Trong đó bản đồ năm 1894 ghi rõ “Cực Nam” lãnh thổ Trung Quốc là “Nhai Châu, phủ Quỳnh Châu, Quảng Đông, điểm Bắc Cực 18 độ 13 phút”. Sự thật là như vậy. Một vùng đất mà không được chép trong sách địa chí và thể hiện trên bản đồ từ đời Tống (960-1279) đến đời Thanh (1616-1911), kể cả chính thức và không chính thức, sao có thể là “lãnh thổ” Trung Quốc?

Các quần đảo ở Biển Nam Trung Hoa không được chép trong sách địa chí và thể hiện trên bản đồ Trung Quốc, nguyên do cũng dễ hiểu. Bởi như phần trên đã đề cập, các triều đại Phong kiến Trung Quốc, cho đến trước năm 1909 không có bất kỳ đòi hỏi nào về chủ quyền đối với các đảo Nam Hải và không có bất kỳ hành động nào nhằm thể hiện quyền lực của mình đối với các quần đảo này.

Theo luật pháp Quốc tế, để có một bộ phận lãnh thổ được coi là thuộc một quốc gia nào đó, điều kiện pháp lý cần thiết là lãnh thổ đó phải được đặt dưới chủ quyền quốc gia đó và giới hạn về lãnh thổ cần được xác định bằng việc mà quyền lực của Nhà nước được thực hiện trong giới hạn đó …

Thật vậy, cho đến khi Trung Quốc đưa ra yêu sách đối với các quần đảo ở Biển Nam Trung Hoa vào nửa đầu thế kỷ XX các quần đảo này chưa bao giờ được đặt dưới chủ quyền của Trung Quốc và quyền lực của Nhà nước Trung Quốc chưa bao giờ được thực hiện trên các quần đảo này.

Song vì sao, ngày nay Trung Quốc khăng khăng nói rằng các quần đảo ở Biển Nam Trung Hoa là lãnh thổ từ ngàn xưa? Vấn đề là ở chỗ các học giả Trung Quốc đã đưa ra những thông tin sai lạc như được đề cập trong bài viết này. Những thông tin sai lạc đó, trên thực tế đã là cho dư luận trong và ngoài Trung Quốc hiểu sai về vấn đề chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo ở biển “Nam Trung Hoa”. Nếu như người Trung Quốc hiểu rõ về lịch sử, hiểu rằng chỉ từ nửa đầu thế kỷ XX, nhà chức trách Trung Quốc mới đưa ra yêu sách về lãnh thổ đối với các quần đảo ở vùng biển này khi các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã là lãnh thổ của Việt Nam, thì cách xử sự của họ có thể sẽ khác nếu như chuẩn tắc trong quan hệ quốc tế được tôn trọng.

Trình bày rõ sự thật về tài liệu lịch sử của Trung Quốc liên quan đến biển “Nam Trung Hoa” trong bài viết này, tác giả hy vọng có thể cung cấp cho bạn đọc những nguồn thông tin chân thực trong việc tìm hiểu luận thuyết của các học giả Trung Quốc đối với các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa liệu có phù hợp với sự thật lịch sử, có sức thuyết phục và đứng vững được hay không.

Tài liệu tham khảo

1. Sử Lệ Tổ “Các đảo Nam Hải từ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc” Quang Minh nhật báo, 24/11/1975; Trương Hồng Tăng, “Xem xét chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa từ góc độ Luật pháp quốc tế”, tạp chí Hồng Kỳ số 4/1980; Hàn Chấn Hoa, Lâm Kim Chi, Ngô Phượng Bân, “Hội biên sử liệu các đảo Nam Hải nước ta”, xuất bản tại Bắc Kinh, 1988; Phan Thạch Anh, “Quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc-căn cứ lịch sử ngược dòng 2000 năm”, tạp chí Window (HongKong), 3/9/1993.

2. Địa danh này ngờ là chỉ đảo Boóc-nê-ô hoặc đảo Gia-Va ngày nay.

3. ĐườngThư, quyển 7, tờ 7a; Thái Bình hoàn vũ ký (Tống), quyển 169, tờ 11a-11b; Dư địa kỷ thắng (1221), quyển 124, tờ 2b; Quảng Đông Thông chí (1731), quyển 5, tờ 74a-75a.

4. Hàn Chấn Hoa, sách đã dẫn trang 7 và 38

5. Hàn Chấn Hoa, sách đã dẫn trang 9 và 47

6. Hàn Chân Hoa, sách đã dẫn, trang 133-136

7. Trung Quốc Nam Hải chư đảo văn hiến vựng biên chi bát, Đài Loan học sinh thư cục, 1974, trang 22-33.

8. Gouverment General de l’Indochine Direction des Affaires Politique et Indigenes-Note, 6 Mai 1921, phụ lục tài liệu nghiên cứu của giáo sư Monique Chemillier Gendrean nhan đề Aris juridique relatif au statut international des archipels de la mer de chine (Paracels-Spratlys) (1989).

9. Bộ sưu tập, trang 68-70

10. Hàn Chấn Hoa, sách đã dẫn, trang 8-9, 84-89

11. Max Huber, Sentence arbitrate rendue la 4 avril 1928, par Max Huber, entre les Etats-Unis et les Pays-Bas, dans le litige relatif a la souveraineté sur l’ile de Palmas-RGDIP-Tome IX, 1935, trang 181.

12. Trong Quảng Dư đồ (1562), Cổ kim đồ thư biên (1585) Vũ bị chí (1628), Hoàng Minh chức phương địa đồ (1635), Địa đồ tổng yếu (1643) Độc phương dư kỷ yếu (1678), Hải quốc đồ chí (1842), Dương phòng tập yếu (1847).

13. Vương Dung, Trung Quốc địa lý sử cương, Bắc Kinh, 1958, phần bản đồ.

14. Max Huber, tài liệu đã dẫn, trang 163, 164.

Nguồn: hoangsa.org

http://www.nguyenthaihocfoundation.org/lichsuVN/phamhan.htm

Anh em ?

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 25. Lý lẽ và âm mưu bành trướng của chủ nghĩa dân tộc Đại Hán

Posted by anhbahoa on November 27, 2009

Bài 25

Lý lẽ và âm mưu bành trướng của

chủ nghĩa dân tộc Đại Hán

10/09/2009

Hồng Lê Thọ

Ca ngợi nước Trung Hoa vĩ đại

Tư tưởng Đại Hán*

Người láng giềng khổng lồ trong một buổi phô trương cơ bắp sau nhiều năm dài đấu đá nội bộ, đã vác loa chỉ sang nhà người bên cạnh “nầy các người man di mọi rợ, bộ các  người không biết là đang ở trên lãnh thổ của ta ? “Ông” đã cho sống nhờ mấy nghìn năm , thế mà bây giờ mở giọng nói mảnh đất trong “đô hộ phủ” là của mình có khác gì bọn phản bội, vô ơn ? ”. Chẳng phải “An nam đô hộ phủ” từ thời nhà Đường (thế kỷ thứ 7) mà người đứng đầu là Kinh lược sứ  của Trung Nguyên phái sang thống trị đó sao, nói gì đến mấy mươi đời sau, mảnh đất An Nam nầy liên tục triều cống thiên triều cho đến tận Vua quan nhà Nguyễn, hãy xem đấy Quang Trung dù chiến thắng 30 vạn quân Thanh cũng phải sang bái tấu Hoàng đế Càn Long xin thần phục…thế mà mấy hòn đảo lon con ngoài khơi…bọn mầy dám bảo là của nước tụi bây ?  Nghe không lọt tai…Bao nhiêu tài liệu, đồ cổ, thư tịch (1)…cứ thế mà lôi ra để “khua” với thế giới rằng những gì trên biển Đông đều là của TQ từ hai nghìn năm trước (sic) “không tranh cãi lôi thôi” vì hàng trăm tỷ thùng dầu mỏ, khí đốt thiên nhiên đang chờ được móc lên bù lại phần thiếu hụt, ngày càng lệ thuộc vào tư bản đế quốc sao chịu nổi, đang cào ruột gan Ông nóng ran. Thử hỏi nếu là của bọn bây, thì “bọn bây” có khó chịu không ? “Của đau con xót” biết chưa (2).

Abe Nakamaro(698—770)

Lối lập luận nầy rất hợp lòng những người TQ vốn mang trong mình  chủ nghĩa dân tộc Đại Hán, và cả  chính quyền Đài Loan ở đảo xa . Họ không ngừng cổ súy không những bằng lời nói, sức ép ngoại giao và còn lăm le sử dụng vũ lực vì nhu cầu về cái gọi là “an ninh năng lượng” không còn dừng lại trên giấy hay chỉ để dọa dẫm !(3) TQ còn  lôi cả nhà thơ Abe Nakamaro,  người Nhật sang học , làm quan cho nhà Đường, gặp nạn lưu lạc sang đất An Nam, và làm trấn thủ tại đây (4) để chứng minh rằng vùng đất nầy thuộc TQ từ lâu và lấy đó biện hộ rằng những quần đảo trên biển “Nam Trung Hoa” (South China Sea) đương nhiên là của người TQ ( há chẳng phải người Việt nam thường nói 1000 năm Bắc thuộc là gì)…Triển khai lối lập luận hồ đồ rằng nơi nào có người Hoa như đoàn tàu của Thái giám Trịnh Hòa (1405-1433 tất cả 7 lần) ghé vào đâu thì nơi đấy là lãnh thổ của TQ, biên giới của họ mở rộng tới đó theo sự phát triển địa-chính trị của TQ (5)  . Như vậy không những Việt nam mà  vùng Đông Nam Á lẫn Ấn độ dương, và cả vùng vịnh Ba tư…đều thuộc về họ, sá chi việc Mạc Cửu ( 1655 – 1735) đến Hà Tiên, Phú Quốc… hàng trăm ngàn người Minh  tràn sang  vì thất bại trong cuộc khởi nghĩa “phản Thanh phục Minh” và những cuộc nổi dậy của “Thái bình Thiên Quốc”, lập nên những làng “Minh Hương” khắp nơi, hình thành các khu phố Hoa kiều của người Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến… ở Việt Nam (6) .

Chờ thời cơ để chiếm đóng quần đảo Trường Sa

Như vậy, theo họ tương lai nước Việt của con cháu chúng ta lại phải trở về “mẫu quốc”, một “phủ huyện” của TQ là hệ luận tất yếu. Cứ xem tư liệu của phía TQ đại lục sau nầy hay Đài Loan trước kia, họ vẫn thống nhất xem các quần đảo ngoài khơi biển Nam Trung Hoa (mà ta gọi là biển Đông) là của họ, sỡ dĩ hiện nay bị các nước khác, trong đó VN là chủ yếu, vì TQ bị các nước tây phương cắt cứ suốt trăm năm trong thời kỳ cuối đời nhà Thanh, lợi dụng để xâm chiếm trái phép (!)…vì vậy nay là lúc phải ra tay đòi lại là hành động phải làm để bảo vệ chủ quyền và lợi ích của TQ. Con số 92% người được thăm dò trên mạng “Hoàn Cầu” Thời báo (cơ quan trực thuộc Tân Hoa Xã của TQ) tán thành biện pháp dùng vũ lực trong cuộc tranh chấp hiện nay cũng nằm trong chiến dịch chuẩn bị “đòi lại” quần đảo nói trên (7).

Tam Bảo Thái giám Trịnh Hòa (1371–1433)


Hải trình của Trịnh Hòa

Thái độ kích động hằn học nầy không phải mới bắt đầu khi TQ triển khai chiến dịch “tuần tra” nghề cá trên biển Đông từ ngày 15/6/2009 mà họ đã chuẩn bị từ lâu, phản ánh qua cuộc tấn công đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 vào thời điểm chế độ Việt nam Cộng Hòa ở miền nam bước vào thời kỳ sụp đổ sau “Việt Nam hóa chiến tranh”, không còn sức chống đỡ trước sự tấn công của Quân đội giải phóng ngay trên đất liền. Lực lượng hải quân TQ không ngừng củng cố và xây dựng căn cứ quân sự ở Hoàng Sa đồng thời từng bước chiếm đoạt một số hòn đảo san hô ở Trường Sa vào năm 1988. Kể từ đó, TQ đã đẩy mạnh hơn nữa việc tăng cường lực lượng Hải quân(8)  song song với phát triển kinh tế với tốc độ cao. Một mặt giao kết ứng xử trên biển đông theo những nguyên tắc hòa bình, tôn trọng lẫn nhau với các nước ASEAN vào năm 2002 nhằm ràng buộc, ngăn ngừa sự phản công của các nước, mặt khác chờ thời cơ đề tái chiếm mà hiện nay, ở thời điểm năm 2009,  hàng loạt hoạt động khiêu khích đối với hải quân Mỹ cũng như ra tuyên bố cứng rắn với các nước trong khu vực về “chủ quyền lãnh hải” mà TQ đã vạch ra qua cái gọi là “lưỡi bò” phi lý (9) ngày càng lộ rõ ý đồ ấp ủ bấy lâu nay.

“đụng độ” trên biển Đông

Từ những công trình nghiên cứu sử học lẫn biện pháp tuyên truyền  (trong nước và quốc tế) với hàng trăm nhà nghiên cứu trong ngoài nước tích cực tham gia chiến dịch huy động giới truyền thông, báo chí liên tục có bài, đưa tin và hình ảnh về hoạt động tuần tra, bắt bớ của tàu thuyền của các lực lượng quân sự lẫn núp bóng dân sự TQ , công khai xác định chủ quyền của TQ…cho thấy ý đồ sâu xa và chính sách tạo tiền đề  cho chiến dịch vào giờ “G” chiếm đoạt Trường Sa đã được tích cực chuẩn bị rất chu đáo từ năm 1995 sau khi nhà cầm quyền TQ công bố đường lãnh hải phi lý của họ trên biển Đông vào năm 1992. Hiện nay, quan hệ Đài- Trung đã được cải thiện rõ rệt từ khi Mã Anh Cửu (Quốc Dân Đảng Đài Loan) lên nắm quyền ở Đài Loan sau khi đắc cử tổng thống (ngày 20/5/2008) điều nầy cho thấy sự vướng bận vào  việc giải phóng Đài Loan thống nhất vào TQ đại lục không còn là trọng tâm trên bàn cờ chiến lược quân sự và ngoại giao của TQ. Hơn thế nữa cán cân tương quan lực lượng giữa Nhật bản-TQ-Mỹ ở khu vực TBD đã thay đổi khi chính quyền Mỹ bị sa lầy nghiêm trọng ở hai chiến trường Iraq lẫn Afghanistan từ thời tổng thống G.W. Bush. Một nước Nhật lệ thuộc năng lượng mà 80% lượng dầu mỏ nhập khẩu từ các nước ở Trung Cận Đông đi ngang tuyến đường vận tải qua eo biển Malacca trong khi TQ chỉ khoảng 40-45% thì rõ ràng nước Nhật vô cùng âu lo khi TQ làm chủ hoàn toàn trên biển Đông, vì vậy bên cạnh việc tăng cường khả năng quân sự trên biển, Nhật Bản có chính sách củng cố kinh tế cho Việt nam– mặc dù nền kinh tế của Nhật Bản đang rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng– qua động thái tăng viện trợ ODA và thúc đẩy đầu tư mậu dịch hai chiều Nhật-Việt trong vai trò đối tác chiến lược là điều không nằm ngoài dự kiến của nhiều người. Nói cách khác, giúp Việt nam phát triển vững mạnh bên bờ biển Đông, không bị TQ lấn át là biện pháp góp phần bảo đảm an ninh năng lượng mang tính chiến lược một cách lâu dài vì Nhật bản cũng là bạn hàng nhập dầu thô và than đá từ Việt nam, nguồn cung cấp vừa gần lại vừa ổn định. Mặt khác, cuộc tranh cãi về chủ quyền hòn đảo Senkaku (Diaoyu theo tiếng  Hoa) ở vùng biển phía đông Trung Hoa tạo ra một sự căng thẳng mới giữa hai nước Nhật-Trung mặc dù lãnh đạo hai bên đã nhiều lần gặp gỡ, nổ lực thương thảo về việc cùng khai thác nguồn khí đốt phong phú tại đây. “Kinh tế là sức mạnh lớn nhất và cũng là điểm yếu nhất của TQ, và do đó nó là trục giao điểm của chính sách và chiến lược của TQ. Để giữ vững phát triển kinh tế, TQ phải lệ thuộc ngày càng tăng nguồn năng lượng và nguyên liệu từ nước ngoài. SLOCs ( viết tắt của “Sea Lines Of Commerce” hay “Sea Lines Of Communication” tuyến vận tải thương mại trên biển quốc tế) (10) cực kỳ quan trọng vì hầu hết ngoại thương của TQ là qua đường biển, và TQ chỉ có chút ít thành công trong việc mở mang đáng tin cậy đường ống dẫn dầu và khí từ Nga hoặc Trung Á. Do lấy năng lượng làm nền tảng cho nền kinh tế, chính sách kinh tế của TQ tùy thuộc vào sự thành công của chính sách năng lượng”(11) càng thôi thúc TQ dành bá quyền trên biển Đông.

GS Urano Tatsuo, vào thời điểm 1997, đã đưa ra nhận định rằng lãnh đạo của TQ với chính sách cải cách và mở cửa kinh tế, bắt đầu chiến lược “trong thời kì kinh  tế biển của thế kỉ 21” với phương châm ưu tiên bảo vệ quyền lợi trên biển trong chính sách quốc phòng, trong đó đặt việc “thu hồi” quần đảo Trường Sa ngang với tầm quan trọng bảo vệ chủ quyền của TQ giành lại lãnh thổ Đài Loan. Các nhà lãnh đạo TQ cho rằng nếu chủ quyền trên biển Đông không được xác lập trước năm 2010 thì có nguy cơ phải giao lại vấn đề nầy cho LHQ giải quyết—điều mà TQ không hề mong muốn—vì vậy năm 1992, chính phủ TQ đã vội vã chính thức tung ra “đường lưỡi bò’ để xác định lãnh hải của mình. Chương trình cụ thể của TQ gồm ba bước :

(1) chiến thuật ngoại giao hòa bình

(2) lấy lại Trường Sa bằng vũ lực

(3) gây sức ép bằng sức mạnh quân sự trong khi triển khai đàm phán(12).

Như đề cập ở dưới, hiện nay vấn đề Đài Loan nay đã bước vào thời kỳ hợp tác giữa hai bờ biển, TQ đã rảnh tay và hòa hoãn với lực lượng canh phòng của Mỹ ở Thái Bình Dương, điều đó sẽ là điều kiện “vô cùng” thuận lợi để tiến hành bước (2) dùng vũ lực để cướp đoạt Trường Sa là khả năng có thể xảy ra bất cứ lúc nào, chắc chắn TQ sẽ nhắm vào một thời điểm mà nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam xảy ra vấn đề xung đột, bị phân hóa mất đoàn kết nghiêm trọng vì  tranh giành quyền lực, ngôi thứ trong quá trình chuẩn bị tổ chức đại hội Đảng hay một “biến cố” chính trị.

Chuỗi Ngọc Xanh của TQ

Quan hệ chiến lược tam giác giữa các nước Nhật-Mỹ với TQ càng kích thích hải quân của PLA tăng cường với ngân sách quân sự ngày càng gấp bội (13) đe dọa đến phòng tuyến an ninh năng lượng của Nhật Bản– một siêu cường về kinh tế– mỗi khi TQ có hành động lấn tới trên biển Đông, mở ra một cuộc chạy đua vũ trang giữa các nước trong khu vực. Điều nầy có thể giải thích tại sao nhiều phát biểu, điều trần tại Quốc Hội Hoa kỳ trong tháng 7/2009 vừa qua đã đặt ra liên tiếp (14) vấn đề hải quân Hoa kỳ buông lơi cho TQ thao túng, ảnh hưởng đến quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật cũng như Mỹ-ASEAN mà chuyến đi Thái lan để tham dự hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 42 tại Phuket (Thái Lan) của bà Ngoại trưởng Hillary Clinton là một dấu hiệu tích cực nhằm “cân bằng” và xoa dịu nổi lo sợ của các nước ASEAN trước sự uy hiếp của chiếc “lưỡi bò” từ TQ. Trong khi đó, với sách lược “tằm ăn dâu” và cô lập đối thủ, chiến thuật ngoại giao mềm mỏng TQ được triển khai tích cực, xé lẻ từng nước ASEAN để thương lượng việc hợp tác đầu tư-thương mại, kí kết các thỏa thuận song phương với “chiếc gậy và củ cà rốt” trên tay hòng tách rời việc các nước ASEAN hợp đồng tác chiến chống TQ, mặt khác không ngừng gây sức ép lên Việt nam với nhiều biện pháp thô bạo như giam giữ các tàu thuyền đánh cá trên biển Đông, gia tăng việc can thiệp bằng các đoàn cao cấp của Đảng lẫn nhà nước, lấy cớ sang “thăm hỏi” liên tục, đẩy mạnh việc xuất hàng hóa trên biên giới, hạn chế nông sản phẩm của VN dùng để đối lưu vì vậy kim ngạch nhập siêu với TQ ngày càng phình to, không kể hàng loạt dự án cơ sở hạ tầng, đường sá, nhà máy…bạc tỷ đô la chính phủ Việt Nam ưu tiên dành cho các tập đoàn doanh nghiệp nước bạn (15).

Tìm hiểu tình hình của TQ ở biển Đông còn là điều cấm kị ?

Trong khi đó, ở Việt Nam, những thông tin về TQ được xem là nhạy cảm, tránh né đến mức tối đa, các cơ quan truyền thông đều phải tuân theo gậy chỉ huy của ban Tuyên giáo, hạn chế thông tin “ngoài luồng”(lề trái)…theo một tư duy hết sức mâu thuẫn. Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam thường nhắc đi nhắc lại “TS-HS là của VN” mỗi khi có động thái phủ nhận từ phía TQ nhưng thanh niên mặc áo thun ghi “HS-TS là của VN” thì lại không được, việc bày tỏ thái độ bất bình của nhân dân trước hành động ngang ngược của TQ bị xem là điều cấm kị, phá rối “trật tự trị an”(!) Những kiến thức về chủ quyền của nước ta trên biển Đông hầu như không được phổ biến, hay rất hạn chế trên lĩnh vực thông tin đại chúng là điều vô cùng khó hiểu. Người dân đói thông tin, vì thế cũng không thể trách cứ họ, nhât là lớp người trẻ thờ ơ trước tình hình sôi bỏng khi nhà cầm quyền ra sức hạn chế ngoài những gì  ban Tuyên giáo đưa ra mà thôi như bài viết về “Lưỡi Bò” trên báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên của nhà báo “ Quốc Pháp” (một bút danh lạ hoắc)(16) gần đây. Nhìn vào sự thật nầy, chúng ta có thể thấy cách ứng xử đối với nhân dân giữa chính quyền TQ và VN hoàn toàn khác nhau, người dân VN hoàn toàn nằm trong thế “ngóng chờ” chỉ đạo một cách bị động.

Nhiều người đã đặt câu hỏi “liệu khi nước nhà nguy biến, Trường Sa bị TQ lấn chiếm thì chính quyền sẽ phải đối phó ra sao, hay chỉ xuôi tay van lạy”  khi chính sách đối ngoại cũng như nội trị nằm trong quĩ đạo của TQ,  đường lối “độc lập tự chủ” bị méo mó dưới sức ép của TQ. Nhìn vào số bài báo đề cập đến vấn đề chủ quyền HS-TS ở nước ta và của người Việt trên diễn đàn quốc tế thật ít ỏi, có thể đếm trên đầu ngón tay, không nói tới bài báo nghiên cứu có tính chất học thuật lại càng hiếm hoi.

Chúng ta  có Viện nghiên cứu TQ được xây dựng hơn 15 năm trước, Trung tâm Nghiên cứu TQ thuộc Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã gần 6 năm nay, Ban Biên Giới của chính phủ được thành lập từ lâu…thế nhưng khó tìm thấy được một vài tư liệu đầy đủ khả dĩ có thể trình bày cho cộng đồng quốc tế trừ luận văn tốt nghiệp TS sử học của Nguyễn Nhã (hiện đang được một tổ chức dân sự kêu gọi chuyển ngữ sang tiếng Anh để phổ biến) hay tập tư liệu do ông Lưu Văn Lợi biên soạn năm 1995(17) ! Có thể “có” nhiều nhưng vì là “bí mật quốc gia” nên không công bố chăng ? Những nguồn tư liệu nước ngoài về vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo, luận bàn chiến lược quân sự, an ninh năng lượng… trên biển đông của TQ, Hoa Kỳ, Nhật bản rất phong phú nhưng mấy ai tiếp cận được, kể cả các nhà nghiên cứu sử học hiện đại ở đại học, viện nghiên cứu trong nước. Ngay như tác phẩm nổi tiếng nghiên cứu về chủ quyền hai quần đảo HS-TS của GS Monique Chemillier – Gendreau (Pháp) (do Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia Hà Nội ấn hành 1998 gần đây đã được tổ chức dân sự tình nguyện huy động đánh máy lại để phổ biến !)(18) với những nhận định khách quan rất có lợi cho Việt nam và mang tính thuyết phục cao nhưng tiếc thay mấy ai được biết . Rằng :

”Trong lịch sử TQ mấy ai được biết không có một căn cứ nào chứng minh một chính phủ của nước nầy cho đến giữa thế kỉ 20 đã từng tiến hành hành động vũ lực đối với quần đảo TS, những mảnh dất nằm rải rác trên 160,000 km2 trên bề mặt đại dương. Nhưng điều đó có hề gì ! TQ đã viện dẫn những quyền lịch sử nhằm chuẩn bị cơ sở cho việc tiến hành kiểm soát tại chỗ…các đảo đó đã từng nằm trong khu vực kiểm soát trên biển của các hoàng đế An Nam trước khi thực dân đến…Vào thời điểm 1988 TQ đã bắt đầu thực hiện phần thứ hai kế hoạch của họ ( sau khi đã chiếm đóng Hoàng Sa vào năm 1974–HLT chú), phần khó nhất, là kiểm soát toàn bộ vùng biển nằm ở sườn phía Nam của mình” (19)

Điều đó cho thấy chính quyền Việt nam chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc nghiên cứu, tổng kết và theo dõi những động thái tranh chấp ở một vùng biển vô cùng quan trọng về chiến lược kinh tế và an ninh khu vực mà bờ biển nước ta kéo dài thềm lục địa trên hơn 3600 km bờ biển. Thiết nghĩ đã đến lúc Nhà nước nên cấp bách huy động mọi lực lượng nghiên cứu khoa học về các khía cạnh liên quan đến vấn đề biển đảo (20) , không ngừng nâng cao khả năng công bố thành quả ra nước ngoài, ưu tiên  trong chính sách đối ngoại lẫn an ninh quốc phòng, tạo ra một không khí trao đổi học thuật về vấn đề biển đông sâu rộng không những trong giới nghiên cứu mà còn trong nhân dân, không xem đây là điều cấm kỵ, cho phép mọi người được trình bày suy nghĩ và mối quan tâm của mình trước những vấn đề hệ trọng của đất nước mà không bị nghi ngờ hay “trừng phạt” vô lý. Tất nhiên, những động thái “kích động”, “bài Hoa” hay lợi dụng để xuyên tạc các chính sách của nhà nước (nếu có) có thể xuất hiện nhưng chúng ta có thể tin tưởng với sự phản biện của những người có quan điểm đứng đắn, bảo vệ quyền lợi của đất nước sẽ là nền tảng để xây dựng sự đồng thuận vững chắc, không cần đến những biện pháp chế tài bạo lực hay đàn áp tai tiếng.

Cần nhấn mạnh rằng, trong tình hình hiện nay, việc nghiên cứu tổng hợp các xu thế và động thái chính trị, ngoại giao và quân sự  của các nước siêu cường và trong khu vực trên biển Đông là vô cùng cần thiết và bức bách, cần được ưu tiên hơn cả việc chứng minh “HS-TS là của VN” về mặt cứ liệu lịch sử một cách kinh điển, ngõ hầu tìm ra chiến thuật và chiến lược đối phó kịp thời trước mắt cũng như lâu dài. Trung tá Christopher J.Pehrson, chuyên gia nghiên cứu không quân tại Lầu Năm Góc (Hoa Kỳ) cảnh báo “Mối quan tâm và ảnh hưởng ngày càng tăng của TQ từ vùng biển Nam Trung Hoa qua Ấn Độ dương và tiến vào vịnh Ả Rập được mô tả như là một “Chuỗi Ngọc”, tiếp cận tiềm năng đó sẽ mang đến cho Mỹ sự khiêu khích mang tính khu vực rất phức tạp”, rằng Mỹ “phải cấu trúc lại lực lượng sau khi chiến tranh lạnh kết thúc để đối phó với sự trối dậy của TQ”, hi vọng “ với nghệ thuật lãnh đạo táo bạo và sự khôn ngoan biết nhìn xa trông rộng, Mỹ và TQ có thể gặt hái những phần thưởng của sự  hợp tác chiến lược và ngăn ngừa được tai họa một cuộc đối đầu thù địch”(21).

Quốc Hội Việt Nam cần phải lên tiếng

Việc Quốc hội nước VN nên tạo cơ hội lên tiếng chính thức một lần nữa về chủ trương và phương châm của nước Việt nam trong vấn đề chủ quyền và cách ứng xử trong hòa bình, hợp lý và hợp pháp như đã từng tuyên khi phê chuẩn Công ước LHQ về Luật biển năm 1982 trước đây , như sau:

“Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các hoạt động khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước LHQ về Luật biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản và lâu dài, cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực”(22)

Bản tuyên bố nầy được nhắc lại không hề thừa, không những tại các buổi gặp gỡ trên diễn dàn quốc tế mà còn cần được phổ biến rộng rãi để cộng đồng quốc tế hiểu được lập trường trước sau như một với thái độ rõ ràng trước những khiêu khích của TQ, đồng thời là cơ sở để tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Thiết nghĩ hành động tích cực mà Việt Nam có thể làm là nhận lãnh vai trò điều phối trong khu vực về vấn đề tranh chấp giữa các nước trên biển Đông,  kêu gọi tổ chức một hội nghị quốc tế gồm các nước APEC(Châu á-TBD) và ASEAN để thương thảo chung quanh việc tranh chấp nầy là một trong những biện pháp cô lập khuynh hướng dùng vũ lực để giải quyết cũng như tạo sự đồng thuận trong việc giữ nguyên trạng và ổn định trên biển Đông, đảm bảo chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các nước trong khu vực đồng thời ngăn chận xung đột vì quyền lợi ích kỷ, mưu toan độc chiếm quyền làm bá chủ trong khu vực, đảm bảo việc đi lại bình thường của thương thuyền trên tuyến vận tải thuộc hải phận quốc tế. Cách đây hơn 10 năm, GS Monique Chemillier-Gendreau đã phân tích:

“Việt Nam có thế sẵn sàng đưa vấn đề ra trước cơ quan tài phán thích hợp nhất để giải quyết tranh chấp nầy giữa các quốc gia, cụ thể là là Tòa án pháp lý quốc tế. Trước đây Pháp đã hai lần, 1937 và 1947, đề nghị TQ đưa ra tòa án quốc tế hay trọng tài  nhưng nhà cầm quyền TQ đã làm ngơ trước các đề nghị đó”(23)

Dẫu biết rằng TQ rất khó chịu không muốn vấn đề chủ quyền lãnh hải đưa ra bàn thảo đa phương vì bản thân đòi hỏi của TQ mâu thuẫn và vô lý ngay trong lập luận của họ(24) , trước sau họ chỉ muốn ‘song phương” với lí do đã nêu ở phần trên nhưng chủ trương “đa phương hóa” vấn đề thương thảo về một giải pháp cho biển Đông là một nhu cầu và là biện pháp hữu hiệu nhất mà ta có thể vận dụng cho dù phía TQ có thái độ “thoái thác”.

Hội nghị  quốc tế San Francisco 1951

Tại phiên họp của Hội Nghị San Francisco ngày 7/9/1951 Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tuyên bố ”Chúng tôi phải tranh thủ mọi cơ hội để chặn đứng những mầm xung đột, xác nhận chủ quyền của chúng tôi trên các quần-đảo Trường Sa và Hoàng Sa, đã luôn luôn từ xưa thuộc lãnh-thổ Việt-Nam” và điều nầy đã được ghi vào văn kiện của hội nghị với đa số phiếu tán thành và đã có 46 phiếu chống 3 phiếu thuận, bác bỏ đề nghị của Ngoại Trưởng Liên Sô Andrei Gromyko đệ trình tu chính án để yêu cầu Hội Nghị trao trả Đài Loan, Bành Hồ, Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) cho TQ !  Sau đó TQ ra công bố phủ nhận kết quả nầy với lý do đại diện chính phủ TQ đã không được mời tham gia Hội nghị (25). Văn kiện của Hội nghị San Francisco cho thấy đa số nước thành viên tham gia đã đứng về quan điểm của Quốc gia VN(thuộc Pháp), phát biểu của ông Trần Văn Hữu không phải là vô ích, xác nhận trước cộng đồng quốc tế chủ quyền của Việt nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa-Trường , phần nào làm rõ  sự hiếu chiến, thái độ bất chấp của nhà cầm quyền TQ qua những phát biểu của Chu Ân Lai sau nầy(26).

Xu thế quốc tế hóa việc thương thảo giải quyết vấn đề trên biển  Đông là tất yếu để ngăn ngừa xung đột bằng vũ lực

Việc quốc tế hóa vấn đề tranh chấp trên biển đông đã được  Phó Thủ tướng thường trực kiêm bộ trưởng quốc phòng Singapore Teo Chee Hean hôm 04/08/2009 phát biểu “những căng thẳng gần đây trên biển Đông đã cho thấy rằng, các quốc gia trong khu vực cần phải ngồi vào bàn đàm phán và giải quyết những vấn đề tranh chấp theo luật biển của quốc tế”(27) . Loay hoay tìm kiếm một giải pháp song phương là cách giải quyết tạm thời chỉ đem lại lợi ích đơn phương cho TQ, điều mà chính các nước trong khu vực rất cảnh giác và có thể tạo ra sự đố kỵ của những nước trong cùng tổ chức ASEAN. Chắc chắn đây không phải là một sự lựa chọn thông minh của một nước vốn nhỏ bé và yếu thế gấp trăm lần so với người láng giềng vĩ đại. Hành động phối hợp giữa đại diện Chính phủ hai nước VN và Malaysia  trình bày Báo cáo chung VN – Malaysia về ranh giới thềm lục địa vượt quá 200 hải lý ở khu vực phía nam biển Đông tại phiên họp toàn thể lần thứ 24 của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc trong hai ngày 27 – 28.8.2009 ở New York (Mỹ) vừa qua là một minh chứng cho thấy không chỉ chúng ta mà các nước láng giềng quanh biển đông có chung một nguyện vọng (28)

Nguyên Đại sứ  Võ Anh Tuấn, Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị Luật biển Liên hiệp quốc lần thứ III cho biết  ” với Malaysia, đã thành lập cơ chế khai thác chung vùng thềm lục địa chồng lấn giữa hai nước (1992). Với Thái Lan, Việt Nam đã ký Hiệp định phân ranh giới trên biển giữa hai nước trong Vịnh Thái Lan (1997). Với TQ,  ta đã ký Hiệp định phân định lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ (2000). Với Indonesia, đã ký Hiệp định phân định anh giới thềm lục địa giữa hai nước (2003)…” (xem chú thích 22).

Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc nhắc lại “đầu năm 2009 Việt Nam và Malaysia đã ký bản ghi nhớ xây dựng báo cáo chung về ranh giới thềm lục địa vượt quá 200 hải lý. Cả hai nước hy vọng sẽ giải quyết những vụ vi phạm về đánh bắt cá thi thoảng xảy ra giữa ngư dân hai nước trên tinh thần hữu nghị và hợp tác.Ngoài ra vùng khai thác chung giữa Thái Lan và Malaysia rộng 7.250 km2 có 800 km2 liên quan đến Việt Nam. Ba nước đã thỏa thuận sẽ cùng nhau giải quyết khu vực này trên tinh thần hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau”(29) cho thấy xu thế đối thoại giữa các nước trong khu vực về các vấn đề trên biển Đông đang được cụ thể hóa để giải quyết bằng giải pháp“cùng thắng”(win-win solution) trong khi TQ luôn tìm cách tránh né việc thương thảo đa phương như đã đề cập ở trên. Nhưng thử đặt vấn đề rằng sáng kiến  mở ra một hội nghị quốc tế không hạn chế những nước tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, mà với thành phần tham dự đông đủ của cả khu vực Châu Á-TBD(gồm các nước trong APEC) tạo điều kiện cho TQ dễ dàng tham gia và tranh luận cùng tiến tới một thỏa thuận khung (hay chí ít là xác nhận sự đồng thuận  đã có từ năm 2002 về Qui tắc ứng xử trên biển Đông) lâu dài và công bằng phải chăng là một đề xuất mà chúng ta có thể trình bày trước cộng đồng quốc tế. Thời gian để hành động không còn nhiều nếu như những phân tích ở trên của GS Urano Tatsuo dự kiến là chính xác, nhiều khả năng báo hiệu TQ đang dần chuyển sang kế hoạch lấn chiếm bằng vũ lực để “thu hồi” toàn bộ quần đảo Trường Sa, giai đoạn 2 trong chiến lược làm chủ biển Đông của lãnh đạo TQ đã vạch ra từ năm 1995.

Với tâm thế bảo vệ hòa bình, an ninh cho khu vực cũng như cho bản thân mình, vì quan hệ láng giềng tốt đẹp với các nước chung quanh vùng biển Đông, trong đó TQ là đối tác quan trọng hàng đầu, chúng ta có quyền tin tưởng rằng Việt Nam, một dân tộc hiếu hòa, thân thiện với mọi người, có thể đóng vai trò quan trọng với tư cách thành viên của Hội Đồng Bảo An LHQ, góp phần tích cực xây dựng biển Đông thành một  biển “Thái Bình” của cộng đồng quốc tế, như cái tên vốn có của nó. Việc cảnh giác “ngay cả khi giới lãnh đạo TQ thành tâm trong các ý đồ hòa bình hiện nay, chúng ta cũng không thể nào tiên đoán được chính quyền TQ sẽ theo đuổi các quyền lợi của mình như thế nào trong nhiều thập kỷ tới, hoặc họ sẽ hành động ra sao trong một môi trường quốc tế đã thay đổi”(30) như Christopher J.Pehrson viết trong bản báo cáo của mình cho thấy những âm mưu “bành trướng” của TQ là mối đe dọa lớn, trong đó trọng tâm chiến lược không còn quanh quẩn chung quanh  đảo Đài Loan mà đang vươn xa theo sự trỗi dậy về kinh tế và quân sự của TQ trong những thập kỷ tới mà Việt Nam là một bàn đạp lý tưởng ?!

Thiết nghĩ phương châm “16 chữ vàng” và tinh thần “4 tốt” trong quan hệ Việt-Trung mà lãnh đạo hai nước nhấn mạnh chỉ có ý nghĩa thiết thực nếu đây là cơ sở  vững chắc để xây dựng lòng tin lẫn nhau, làm phát triển, ổn định và phồn vinh cho dân tộc Việt Nam cũng như người bạn láng giềng TQ khi nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ kể cả biển đảo của nhân dân Việt Nam được tôn trọng, vì lợi ích của hai dân tộc Việt-Trung, góp phần củng cố hòa bình lâu dài cho khu vực và thế giới.

CHÚ :

(*)Tư tưởng Đại Hán hình thành từ Triều đại đầu tiên là nhà Thương, định cư dọc theo  lưu vực sông Hoàng Hà, vào khoảng thế kỷ 18 đến thế kỷ 12 TCN. Nhà Thương bị nhà Chu chiếm (thế kỷ 12 đến thế kỷ 5 TCN), đến lượt nhà Chu lại bị yếu dần do mất quyền cai quản các lãnh thổ nhỏ hơn cho các lãnh chúa… vào thời Xuân Thu, nhiều quốc gia độc lập đã trỗi dậy và liên tiếp giao chiến, và chỉ coi nước Chu là trung tâm quyền lực trên danh nghĩa. Cuối cùng Tần Thủy Hoàng đã thâu tóm tất cả các quốc gia và tự xưng là hoàng đế vào năm 221 TCN, lập ra nhà Tần, quốc gia TQ thống nhất về thể chế chính trị, chữ viết và có một ngôn ngữ chính thống đầu tiên trong lịch sử TQ( http://vietphattour.com/vi/node/220) và Lữ Phương trong”Ba bài viết về Việt Nam “đổi mới”

(http://www.viet-studies.info/kinhte/LuPhuong_ChuNghiaDanTocVietNam.htm)

Chú thích:

(1)Phạm Hoàng Quân”Chủ quyền cương giới biển và Hoàng Sa – Trường Sa”

http://www.biendao.org/news.php?do=detail&id=6

(2)xem Dương Tác Châu “紛争南沙諸島”(Tranh chấp ở quần đảo Trường Sa) NXB   Shinhyoron(Tokyo) 1994

(3)  Hồng Lê Thọ”Rừng vàng biển bạc…Nanh vuốt của những đoàn “tàu” lạ …tháng  8/2009

http://vietsciences.free.fr/vietnam/bienkhao-binhluan/rungvangbienbac.htm

(4)Con thuyền của Fujiwara no Kiyokawa và Abe no Nakamaro gặp bão trôi dạt xuống vùng đất lạ phương Nam. Sách Tục Nhật Bản kỷ (chính sử của Nhật Bản hoàn thành vào năm 797) viết: “… Lúc trở về gặp gió ngược trôi dạt đến tận Hoan châu, phía nam của nhà Đường”.

Nước ta lúc bấy giờ đang bị TQ đô hộ với tên gọi An Nam. Châu Hoan đối với Nhật Bản rất xa lạ, rất khó xác định, nhưng đối với người Việt thì Châu Hoan cùng với Diễn, Ái là khá quen thuộc. Châu Hoan tức là vùng Hà Tĩnh, Việt Nam hiện nay.

Tiếc là khi thuyền của Fujiwara và Abe dạt đến vùng châu Hoan (năm 754), thì chắc là do bị hiểu lầm, nên đã có cuộc một chạm trán khá gay go giữa người trên tàu với dân địa phương. Cuối cùng thì một số người trên tàu bị bắt. Sau khi hiểu ra, số này được giúp đỡ đưa về TQ. Fujiwara no Kiyokawa và Abe no Nakamaro nằm trong số đó. Abe trở lại Trường An, được vị vua mới là Đường Túc Tông tiếp tục cho làm quan với chức Tả tán kỵ thường thị – một chức quan có nhiệm vụ giúp việc bên cạnh nhà vua : cố vấn, can gián, tấu trình và ứng đối… Ông cũng được phong mấy chức quan có liên quan đến An Nam như: Trấn Nam (An Nam) đô hộ, rồi An Nam tiết độ sứ. Về việc này giới sử học Nhật Bản vẫn còn chưa thống nhất: một bên thì cho Abe làm quan ở An Nam thật (quan điểm này trước 1945 bị nhóm có tư tương cục hữu lợi dụng , cho Abe là người Nhật đã từng cai trị An Nam từ trướcthế kỷ 10), nhưng một bên khác, đưa ra nhiều lập luận có tính thuyết phục hơn, cho rằng: những chức quan liên hệ đến An Nam phong cho Abe chỉ có tính chất danh dự, còn Abe vẫn làm việc ở Kinh đô. Vậy là cho đến cuối đời, hơn 15 năm sau khi lưu lạc ở An Nam trở về, tác giả bài tanka về “vầng trăng núi Mikasa” không quay về cố hương Nhật Bản nữa. Abe no Nakamaro mất vào năm 770 (Đại Lịch thứ năm đời Đường Đức Tông) tại Trường An, thọ 73 tuổi. Sau khi mất ông được truy tặng chức Lộ Châu đại đô đốc(5). Còn vị “Thi Tiên” bạn ông – Lí Bạch, đã mất trước Abe 8 năm- năm 762.

http://lichsuvn.info/forum/showthread.php?p=79404

http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,32383

(5) Ông Kawamura Sumihiko, nguyên Phó Đề Đốc Hải quân Nhật bản phân tích “từ khi có chính sách mở cửa TQ từ một vị trí nước lớn dựa trên đất liền đã trở thành một nước ngoại thương hùng mạnh dựa cải cách  vào hàng hải từ đó tăng cường việc phòng thủ quyền lợi kinh tế các tỉnh duyên hải, chiếm đoạt tài nguyên ở đại dương và liên tục mở rộng tầm kiểm soát vùng biển và vùng trời bằng sức mạnh hải và không quân. Lý luận nền tảng cho hành động nầy là khái niệm về một “đường biên giới chiến lược mới” cho rằng đường biên giới quốc gia của họ sẽ phải thay đổi ngang tầm với sức mạnh của TQ và môi trường(tình hình chính trị) bất chấp luật lệ quốc tế”chính vì vậy mà TQ muốn đẩy nhanh tiến độ đàm phán và thương lượng về đường biên giới dài 1400 km trên đất liền (đã kết thúc năm 2008) và đường biên giới trên vịnh Bắc Bộ với Việt Nam ?

中国の海洋戦略―川村研究所代表/元海将補・ 川村純彦氏に聞く (Phỏng vấn Viện trưởng viện nghiên cứu Kawamura Sumihiko—Nguyên Phó Đô Đốc Hải quân NB– về chiến lược biển của TQ)

http://www.asahi-net.or.jp/~VB7Y-TD/k6/160826.htm

(6)”Người Hoa Tại Việt Nam Qua Các Thời Đại”

vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=print&sid=6485

“Làng Minh Hương”của Huỳnh Ngọc Trảng

http://www.vanhoahoc.com/site/index.php?option=com_content&task=view&id=1171&Itemid=118

(7)Hoàn cầu Thời Báo

http://mil.news.sina.com.cn/2009-07-04/1007557641.html

(8)”Tham vọng hàng hải của TQ” Olivier Zajec Meta (Le Monde Diplomatique)

http://hoangsa.org/forum/archive/index.php/t-7073.html

(9)  Tuổi Trẻ ngày 3/9/2009

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=334923&ChannelID=3

(10)xem thêm “Sea Lane Security and U.S. Maritime Trade: Chokepoints as Scarce Resources”            Donna J. Nincic     http://www.ndu.edu/inss/books/Books_2002/Globalization_and_Maritime_Power_Dec_02/09_ch08.htm

“In modern terms SLOCs might properly be conceived as sea lines of commerce. Although the traditional and military term remains sea lines of communication (SLOCs), the civilian maritime community frequently refers to such zones of transit as sea lanes of communication. To combine the commercial perspective with the imperative to defend maritime commerce using military forces, the author deliberately chooses sea lanes of communication and the acronym SLOC for use throughoutthispaper”

(11)String of Pearls:

Meeting the challenge of china’s rising Power across the asian littoral, 7/2006

Christopher J. Pehrson

http://www.strategicstudiesinstitute.army.mil/pdffiles/PUB721.pdf

(12)”南海諸島国際紛争史” 浦野起央著 NXB Tósui, Tokyo 1997—International Conflict Over The South China Sea, by Dr.Urano Tatsuo(Nihon University) p.1055

(13) “China’s Power and Will:The PRC’s Military Strength and Grand Strategy”

June Teufel Dreyer

http://www.fpri.org/orbis/5104/dreyer.chinaspowerwill.pdf

“Chính phủ TQ đã biện hộ cho việc gia tăng chi phí quốc phòng lấy cớ rằng đó chỉ bù lại nạn lạm phát gia tăng trong nước. Tuy nhiên, mức tăng quốc phòng này vẫn diễn tiến ngay cả khi nền kinh tế giảm phát, và thường vượt chỉ số lạm phát. Trong thập kỷ trước 2006, chi tiêu quốc phòng hàng năm tăng gấp hai con số -bình quân là 13,7%- sau khi trừ đi phần lạm phát. Hậu quả tích lũy của thập niên này là gần như gấp 4 lần chi phí quốc phòng đòi hỏi thực sự “.

Ngày 4/3/2009 theo BBC,TQ cho biết ngân sách quốc phòng của họ sẽ tăng một cách ‘khiêm tốn’ trong năm nay, thêm 14.9%, lên 480.6 tỷ nhân dân tệ, tương đương 70.2 tỷ USD trong năm 2009.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/03/090304_chinesemilitarybudget_tc2.shtml

(14)”Điều trần của Phó phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher”

Vụ an ninh Á châu và Thái Bình Dương

Văn phòng bộ trưởng Quốc phòng và “Điều trần của Phó phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng Robert  Scher ”Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ

trên Bauvinal.info.free.fr

(15) như (2)

(16)Trước yêu sách 80% diện tích biển Đông của TQ : Không chấp nhận đường “lưỡi bò”

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=332309&ChannelID=3

(17)”CUỘC TRANH CHẤP VIỆT – TRUNG VỀ HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA   VÀ TRƯỜNG SA” của ông Lưu Văn Lợi do nhà xuất bản Công An Nhân Dân Hà Nội ấn hành năm 1995 hiện có bản đánh máy lại trên Bauvinal.info,free.fr

(18)”CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA “của GS Monique Chemillier – Gendreau do Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia Hà Nội ấn hành 1998 hiện có bản đánh máy lại trên Bauvinal.info.free.fr

(19)Trích từ Tài liệu đã dẫn ở (18), trang 8 & 9

(20) Đoan Trang “Vấn đề Trường Sa – Hoàng Sa: cần một nỗ lực tổng hợp”

http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/5518/index.aspx

(21)như chú thích (12)

(22) Võ Anh Tuấn, Nguyên Đại Sứ, Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị Luật biển Liên   hiệp quốc lần thứ III

http://honvietquochoc.com.vn/Tu-lieu/Tu-lieu-lich-su/Luat-phap-QT-va-chu-quyen-cua-VN-doi-vo-TS-HS.aspx

(23) như (18) trang 15

(24)”TQ đã tự nhận những yêu sách của mình ở biển Đông là vi phạm luật quốc tế?” –  31/08/09

“Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao TQ Tần Cương lại cho rằng, Nhật Bản dùng bãi đá này làm cơ sở để chủ trương quản lý diện tích rộng lớn của vùng biển này, đồng thời hy vọng thông qua cách làm nhân tạo để hỗ trợ và thúc đẩy chủ trương của mình. Điều này không phù hợp với luật quốc tế đã công nhận, cũng đã ảnh hưởng tới lợi ích cộng đồng quốc tế. Theo ông Tần Cương, bãi đá ngầm Okinotori không phải là một hòn đảo mà một tảng đá. Theo “Công ước Luật biển LHQ” bản thân nó không có khu kinh tế độc quyền và thềm lục địa 200 hải lý”.

Trên thực tế TQ đã xây các bờ kè nhân tạo trên các hòn đá san hô ở Trường Sa, từ đó vẽ ra thềm lục dịa 200 hải lý chung quanh để xác định chủ quyền lãnh hải ở biển Đông thì sao ? Không vi phạm với Luật quốc tế chăng.

http://bauvinal.info.free.fr

(25)Tại Hội-nghị San Francisco, ngày 7-9-1951, Thủ-Tướng Chính-Phủ Trần Văn Hữu (thuộc chính quyền Bảo Đại 1950-1952), Trưởng Phái- đoàn Việt-Nam, đã long trọng tuyên bố trước 51 phái-đoàn ngoại-bang như sau :    “Et comme il faut franchement profiter de toutes les occasions pour étouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les iles Spratley et Paracels qui, de tout temps, ont fait partie du Viet-Nam”.

Lời tuyên bố đó đã được Hội-nghị San Francisco long trọng ghi vào biên bản và trong tất cả 51 phái-đoàn phó hội, không có một phái-đoàn nào phản đối gì cả. Trước đó, ngày 5-9-1951, Ngoại Trưởng Liên Sô Andrei Gromyko đã đệ trình tu chính án để yêu cầu Hội Nghị trao trả Đài Loan, Bành Hồ, Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) cho TQ. Tuy nhiên tu chính án này đã bị Hội Nghị bác bỏ với 46 phiếu chống và 3 phiếu thuận.

Ông bà đại sứ Võ Văn Sung (Pháp) tiếp cụ Trần Văn Hữu – cựu thủ tướng thời Bảo Đại, tại Đại sứ quán VN Dân chủ cộng hòa

(Trích: Sử Địa 29, Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa, Sài Gòn,1975)

(26)PHỦ NHẬN HOÀN TOÀN QUAN ĐIỂM CỦA TRUNG QUỐC…. Đinh Kim Phúc 5/2009

http://www.baokhanhhoa.com.vn/Khanhhoa350nam/2004/01/2491/

(27)http://www.straitstimes.com/ Breaking2BNews/Singapore/Story/STIStory_412380.html

(28)http://www.biendao.org/news.php?do=detail&id=737 bản tin của Việt nam Thông tấn xã

(29) Đinh Kim Phúc”Chủ quyền quốc gia Việt Nam trênVùng Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa –      Trường Sa” 02/08/2009

http://forums.thuyngaonline.com/tm.aspx?m=860033

(30) như chú thích (9)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 24. “Rừng vàng biển bạc” dưới nanh vuốt khủng bố của những đoàn “tàu” lạ

Posted by anhbahoa on November 27, 2009

Bài 24

“Rừng vàng biển bạc” dưới

nanh vuốt khủng bố của những đoàn “tàu” lạ

21/8/2009

Hồng Lê Thọ

Biến truyền thuyết thành lịch sử, hay lịch sử thăng hoa trong truyền thuyết? Chỉ biết rằng, người Việt Nam bao đời, ông bà dạy cháu, cha mẹ truyền cho con hình tượng Thánh Gióng. Và rồi sức mạnh Thánh Gióng thể hiện trong khí phách Trần Bình Trọng “Ta thà làm Quỷ nước Nam còn hơn làm Vương đất Bắc”, trong lời răn dạy của Trần Hưng Đạo : “Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ mà không biết căm”, là sự khởi động lòng căm thù quân giặc trong lời Nguyễn Trãi: “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sách mùi. Lẽ nào trời đất dung tha, ai bảo thần nhân chịu được”.

GS Tương Lai (*)

Nanh vuốt của bọn khủng bố

Ngày 16/7/2009, nhìn cảnh tang thương của những ngư dân Quãng Ngãi bị “tàu lạ” đâm lũng thuyền, trở  về đất liền(1) với thương tích đầy mình cho thấy sự khủng bố trên biển Đông trong những ngày gần đây, kể từ khi TQ cấm đánh cá trên vùng biển Hoàng Sa-Trường sa, cách bờ biển Đà Nẵng 200 hải lý thuộc lãnh hãi Việt Nam, nằm trong cái gọi là “lưỡi bò” của họ. Trước đó một tháng, ngày 13/05/2009, Bộ môn Bảo vệ nghề cá Bộ Nông nghiệp Trung Quốc lấy lý do bảo vệ nguồn cá đột ngột ra lệnh cấm đánh, bắt cá tại một số vùng thuộc biển Đông từ ngày 16/05 đến ngày 01/08/2009. Với cớ đó, các lực lượng cảnh sát tuần tra và các lực lượng hải quân TQ đã có hành động mỗi lúc một táo tợn, liên tục phô trương lực lượng trên biển Đông (2), bất chấp luật lệ quốc tế , tập quán của những người đi biển và những thỏa thuận mang tính nguyên tắc giữa lãnh đạo hai nước VN-TQ cũng như giữa họ với các nước ASEAN về cách ứng xử trên biển Đông năm 2002.

Đây không phải là lần đầu bọn thảo khấu “không tên”(3) hung hãn nầy ra tay uy hiếp ngư dân với vũ khí và phương tiện di chuyển cao tốc, mà đã từ những năm 2005, lính tuần tra của  TQ liên tục bắt bớ, và bắn chết 9 ngư dân Thanh Hóa trên vùng biển thuộc Vịnh bắc bộ vào tháng 11/2005, phao vu là “cướp biển” một cách vô cớ hòng thị uy “chủ quyền” của Trung Quốc trên biển đông (4). Những hành động đe dọa, khiêu khích tiến đến lấn chiếm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã diễn ra kể từ khi TQ có chiến lược tiến sâu vào biển Đông, thực hiện từng bước vững chắc, từ việc chiếm đống bằng vũ lực toàn bộ quần đảo Hoàng Sa tháng 1/1974 trong tay chính quyền Sài gòn, sang đến chiếm đóng một số đảo thuộc Trường sa năm 1988 không kể các đảo Thị Tứ, Song Tử Đông, Vĩnh Viễn, Loai Ta… thuộc Trường Sa vào các năm 1968, 1972… đã bị quân đội Philippines xâm chiếm trước đó . Phát xuất từ ý đồ tiếp tục bành trướng về phía Nam, TQ không ngừng dùng mọi thủ đoạn để xâm lấn trên biển Đông, chớp lấy thời cơ trong lúc Mỹ vừa chính thức tuyên bố rút quân ra khỏi chiến trường miền nam VN vào năm 1973 qua việc kí kết Hiệp định Paris(5) và đặt nền móng tiến đến bình thường hóa quan hệ Trung-Mỹ qua chuyến đi thăm Trung quốc của Tổng thống Nixon vào tháng 2/1972.

Chiếc  “lưỡi bò” ham hố

Chiếc “lưỡi bò” ham hố của TQ

Trữ lượng dầu mỏ và khí đốt ở vùng biển chung quanh quần đảo nầy theo điều tra của TQ có thể lên đến 200 tỷ thùng và lượng khí đốt tương đương với 18,5 tỷ thùng(6) là miếng mồi hấp dẫn cho một nước từng xuất khẩu dầu mỏ từ năm 1993 trở thành nước  phải nhập khẩu ngày càng lớn, trong vòng 5 năm từ 2000-2005, TQ đã chiếm 1/3 lượng tiêu thụ trên thế giới trong quá trình phát triển kinh tế (7). Bài toán thoát khỏi sự lệ thuộc vào việc nhập khẩu dầu thô với giá cả vô cùng bất ổn trên thị trường quốc tế chính đã thôi thúc nhà đương quyền TQ mở đường “làm chủ” biển Đông với bất cứ giá nào cho dù quan hệ “hữu hảo” với các nước láng giềng và khu vực có bị đổ vỡ là nhận định thống nhất của giới nghiên cứu quân sự và quan hệ đối ngoại của nước nầy trong những năm gần đây(8). Hơn thế nữa, bị thúc đẩy bởi số người dân sở hữu xe hơi tăng cao và công nghiệp hóa dầu cũng bành trướng, lượng dầu tiêu thụ ở TQ đã vượt qua Nhật vào năm 2002, đến năm 2005 là gần 7 triệu thùng mỗi ngày so với 5,4 triệu thùng tại Nhật (9), điều nầy càng làm cho sự tranh chấp về hòn đảo Senkaku trên biển Đông Trung Hoa giữa Nhật-TQ ngày càng thêm gay gắt, là một trong những động cơ thúc đẩy hải quân TQ nhanh chóng tăng cường khả năng ứng phó để đảm bảo an ninh năng lượng.

Fig I. China’s Oil Importation

Theo dự đoán của Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ, lượng dầu thô tiêu  thụ ở TQ vào năm 2024 có thể sẽ lên đến 13 triệu thùng/ngày gấp 3 lần hơn so với năm 2007 trong quá trình phát triển kinh tế và tiêu dùng. Điều nầy giải thích phần nào về ‘sức ‘ép” đối với vấn  đề năng lượng và động cơ thúc đẩy việc sớm chiếm đóng quần đảo Trường Sa nhằm triển khai dự án khai thác nguồn dầu mỏ phong phú như đã đề cập.

Unit: barrel/day (Đơn vị tính: thùng / ngày)

http://www.bp.com/productlanding.do?categoryId=6842&contentId=7021390

(Nguồn: Bộ Năng lượng Mỹ. Quang cảnh về Năng lượng hàng năm, ấn bản 2005)

Năm 1949 Trung quốc công bố bộ bản đồ xác định biển nội địa của Trung Quốc – tức tấm bản đồ 9 gạch – dành toàn bộ biển Đông, gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, mà không theo một tiêu chuẩn lịch sử hay pháp lý nào. Ở nhiều nơi, đường xác định nội hải của Trung Quốc chỉ cách bờ biển VN, Philippines, Malaysia khoảng 100km. Đường xác định này cũng bao gồm luôn đảo Natuna, phía nam Trường Sa, thuộc chủ quyền của Indonesia . Chiếc lưỡi bò vạch ra chủ quyền của Trung quốc chiếm 80% diện tích biển Đông đưa ra năm 1992,  trở thành “cơ sở” để lực lượng hải quân và bọn khủng bố thao túng. Nguồn gốc và ý nghĩa của đường lưỡi bò này hoàn toàn mập mờ, không chính xác đến nỗi bản thân các học giả Trung Quốc cũng không thống nhất được một giải thích hợp lý nào(10)Trung Quốc áp dụng luật biển 1982 cho các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, dành cho hai quần đảo này một vùng biển rộng lớn, gồm các vùng biển “lãnh địa hải phận”, thềm lục địa và “vùng kinh tế độc quyền”, bao gồm phần lớn biển Đông. Theo Chương V của “Công Ước Quốc Tế Montégo Bay 1982” xác định vùng “kinh tế độc quyền”, qui định một nước cận biển có thể xác định vùng biển kinh tế độc quyền của mình, có chiều rộng 200 hải lý, tính từ đường vòng ngoài của vùng tiếp cận (nếu có) hay lãnh hải (12 hải lý). Điều nầy dã dược tái xác nhận ở điều 121 của Công ước của LHQ về luật biển 1982 quy định rằng những đảo, đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì chỉ có lãnh hải rộng không quá 12 hải lý. Nước này có thể khai thác kinh tế như đánh cá, khai thác tài nguyên dưới đáy biển thuộc vùng kinh tế độc quyền, đương nhiên phải tôn trọng một số luật lệ và tiêu chuẩn để bảo vệ quyền lợi các nước khác cũng như gìn giữ môi trường sống. Điều luật này cũng áp dụng cho các đảo ngoài khơi. Như vậy, rõ ràng ngư dân Việt nam đánh cá trong vùng biển thuộc lãnh hải 200 hải lý vẫn bị tàu chiến (hay tàu tuần tra ngư nghiệp mà thực chất là tàu chiến cải trang như Tàu Ngư Chính) của TQ vây bắt là một sự vi phạm nghiêm trọng trắng trợn chủ quyền lãnh hải của VN. Hơn thế nữa, tại hội nghị San Francisco tháng 9 năm 1951, các quốc gia tham gia đã khước từ đề nghị trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thực tế tranh chấp về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc hay tranh chấp chủ quyền đối với toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Malaysia, Philippines và Trung Quốc cho thấy không thể nói là “đường lưỡi bò” được các quốc gia khác công nhận(11) mà chỉ là một sự áp đặt đơn phương.Việc khăng khăng đòi hỏi đường chữ U như là một đường biên giới quốc gia trên biển và yêu sách hầu hết biển Đông cùng các đảo, đá trong đó như Daniel Schaeffer, nguyên Tuỳ viên quân sự Pháp tại Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan, nhận xét, thực chất cố tình làm cho hầu hết người dân Trung Quốc và một số người khác hiểu rằng đây đơn giản là sự khẳng định đối với “việc đã rồi”, biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và 4 quần đảo trong đó là của Trung Quốc, và vì thế không việc gì phải bàn đi cãi lại.(12)  rằng “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa (tức biển Đông ) và các vùng nước kế cận, và có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất đáy biển ở đó (xem sơ đồ kèm theo)”(13), mặc dù đường yêu sách này đã được thể hiện nhiều lần trên bản đồ Trung Quốc, nhưng CHND Trung Hoa chưa bao giờ có một tuyên bố chính thức nào về ý nghĩa pháp lý quốc tế cũng như quốc gia của đường đứt đoạn này. Thậm chí trong những văn bản pháp lý quan trọng của CHND Trung Hoa về các vùng biển (như: các tuyên bố về lãnh hải 1958, về lãnh hải và vùng tiếp giáp 1992, về đường cơ sở 1996 và về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 1998…) thì đường yêu sách này cũng không hề được nhắc đến.(14)Công hàm ngày 7-5-2009 của chính phủ TQ gửi lên TTK LHQ có lẽ là văn bản đầu tiên trong hơn 60 năm qua, thể hiện quan điểm chính thức của Trung Quốc về ý nghĩa pháp lý quốc tế của đường yêu sách chín đoạn và cũng là lần đầu tiên mà Trung Quốc chính thức công bố sơ đồ đường yêu sách này với thế giới.

“Người ta có thể hiểu được vì sao Trung Quốc trong nhiều năm đã in các bản đồ có thể hiện đường đứt đoạn chín khúc, nhưng lại không công bố chính thức yêu sách của mình trên biển Đông theo con đường này. Ngoài những lý do đã phân tích ở trên có lẽ sự thận trọng của Trung Quốc xuất phát từ sự cân nhắc đến tác động của việc đưa ra yêu sách này sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh đất nước Trung Quốc đối với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Hình ảnh mà nhân dân Trung Quốc đã dày công xây dựng về một đất nước Trung Quốc yêu chuộng hòa bình, hữu nghị và hợp tác có còn được nguyên vẹn trong con mắt của nhân dân các nước láng giềng sau khi Trung Quốc chính thức đưa ra yêu sách đối với 80% diện tích của biển Đông? Liệu việc làm này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến sự đánh giá của các nước ASEAN đối với những chính sách và việc làm phù hợp với tinh thần của Tuyên bố về ứng xử trên biển Đông (DOC) trước đó của Trung Quốc?”(15)

Nhưng trên thực tế,  đã nhiểu năm qua, Trung Quốc luôn lên tiếng phản đối mỗi khi Việt Nam thăm dò hay dự định khai thác ở những vùng có thể có “chồng lấn” với vùng kinh tế độc quyền của các đảo thuộc Trường Sa theo lập luận của họ, mặc dù quần đảo nầy chưa được công nhận có thềm lục địa kéo ra tới 200 hải lý (16) . Chủ trương dùng sức mạnh để đe dọa và khống chế những công ty đang hay có ý định hợp tác để khai thác dầu mỏ ở thềm lục địa cũng như vùng lãnh hải của nước ta đã thể hiện qua những hành động bắn phá, quấy nhiễu cụ thể. Sự kiện tàu chiến TQ đe dọa tàu thăm dò của Na-uy năm 2005, gây sức ép đối với tập đoàn dầu khí BP của Anh năm 2007 buộc phải ngưng hợp tác với Việt Nam trong hai vùng dầu khí Mộc Tinh, Hải Thạch thuộc vùng kinh tế độc quyền của Việt Nam, cách đường cơ bản 350km(17), đặc biệt dự án đặt ống dẫn khí trị giá khoảng 2 tỉ đôla từ đây vào đất liền. Phát ngôn viên của BP, ông David Nicholas, nói rằng hãng này thấy rằng “nên ngừng kế hoạch khảo sát địa chấn tại lô 5.2 để cho các nước liên quan có cơ hội giải quyết vấn đề”. Việc dùng súng bắn hăm dọa nhân viên của Exxon Mobil trên dàn khoan ở vị trí khai thác.  buộc Exxon Mobil của Mỹ rút lui mặc dù đã thỏa thuận hợp tác vào tháng 6.2008 với Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam là những bằng chứng cụ thể phản ánh quyết tâm lấn chiếm không khoan nhượng của nhà nước TQ.

Hợp tác chiến lược toàn diện hay quĩ đạo bành trướng của TQ

Theo Bộ Luật  ứng xử giữa các bên ở Biển Đông năm 2002, các bên “bảo đảm đưa ra sự đãi ngộ nhân đạo công bằng đối với tất cả công dân trong tình trạng nguy hiểm”, đồng thời triển khai hợp tác trong lĩnh vực “cứu trợ”, “tấn công hải tặc và cướp có vũ trang trên biển”. Hoạt động này hoàn toàn có lợi đối với quá trình hợp tác giữa các bên trong việc bảo vệ hòa bình và ổn định ở Biển Đông. Bên cạnh đó, tháng 3-2005, tại Manila, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đã ký Hiệp định hợp tác thăm dò ở Biển Đông. Đây cũng chính là hiệp định hợp tác đầu tiên giữa các quốc gia liên quan trên nguyên trạng ở biển Đông (18) . Bên cạnh đó, giữa VN-TQ cũng đã có những thỏa thuận và cam kết song phương về việc thảo luận để phân định đường biên giới trên biển, không kể hàng loạt tuyên bố chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước . Gần nhất là chuyến đi thăm TQ của TBT Nông Đức Mạnh từ 30/5-2/6/2008, hai bên ra Tuyên bố chung, nhất trí phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc theo phương châm “16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt”, xác định “Trên tinh thần coi trọng đại cục, hiệp thương hữu nghị, công bằng, hợp lý, cùng có lợi, cùng thắng, hai bên sẽ nghiêm chỉnh thực hiện các nhận thức chung mà lãnh đạo hai nước đã đạt được, tích cực hợp tác để xử lý và giải quyết thoả đáng các vấn đề tồn tại trong quan hệ hai nước” lấy đó để “tiếp tục thực hiện tốt Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ; thực hiện tốt công tác kiểm tra liên hợp cũng như điều tra liên hợp nguồn thuỷ sản trong Vùng đánh cá chung và việc tuần tra chung giữa hải quân hai nước” đẩy nhanh việc thực hiện “Thỏa thuận khung về hợp tác dầu khí trong vùng thoả thuận tại Vịnh Bắc Bộ”, phấn đấu sớm đạt kết quả thực chất trong hợp tác thăm dò, khai thác chung các cấu tạo dầu khí vắt ngang đường phân định Vịnh Bắc Bộ; giữ gìn trật tự sản xuất nghề cá bình thường, tích cực triển khai hợp tác nghề cá, bảo vệ môi trường, tìm kiếm cứu nạn trên biển ”(19)Trong lần thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sang thăm chính thức TQ vào tháng 10/2008, “hai bên khẳng định nghiêm chỉnh tuân thủ các thỏa thuận và nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, cũng như Quy tắc ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC), tiếp tục duy trì các cơ chế đàm phán hiện có nhằm tìm ra giải pháp cơ bản, lâu dài mà hai bên cùng chấp nhận được, cùng nhau nỗ lực duy trì hòa bình ổn định, tăng cường hợp tác trên một số lĩnh vực”(20) cụ thể là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Ôn Gia Bảo theo tường thuật, đã giám sát việc ký kết một hiệp định hợp tác chiến lược giữa các công ty dầu khí quốc doanh của hai nước, Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc(China National Offshore Oil Corp) và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam), nhưng các điều khoản chính xác của hiệp ước này không được tiết lộ(21)..Thật ra, việc hợp tác nầy đã được kí kết trước đây qua một thỏa thuận khung trong lần Chủ tịch TQ Hồ Cẩm Đào sang thăm VN vào ngày 30/10/2005(22). Thế nhưng trên thực tế những hành động bắt bớ, trấn lột và giam giữ ngư dân Việt Nam vẫn tiếp diễn, tàu chiến, lực lượng cảnh sát biển của TQ và tàu tuần tra ngư nghiệp của TQ liên tục quần thảo trên biển đông không phải “lén lút” mà đã chính thức công khai được trình chiếu lên mạng nhằm “quảng bá” thái độ cương quyết để bảo vệ chủ quyền của họ.

Như vậy liệu đây có phải là khủng bố quốc tế có tổ chức của một nhà nước “anh em” như nhiều người định nghĩa (23). Đầu tháng 5/2009, Trung Quốc thành lập “Cục Chuyên trách Lãnh hải”, đơn phương đưa ra lời cảnh báo với các nước trong khu vực về các đảo ở biển Đông, chính thức đệ trình lên Liên Hợp Quốc những đề nghị bước đầu về biên giới bên ngoài của Thềm lục địa 200 hải lý mà không cần thông qua đàm phán, thậm chí cố tình tạo ra những sự thật đã rồi như từng làm trước đây trong việc chiếm đảo của Philippines hay môt số đảo thuộc quần đảo Trường sa của Việt nam. . Chúng ta có thể đồng tình với ý kiến nhận xét “nhân dân và Nhà nước Việt Nam sẽ tiếp tục ứng phó trong tình trạng một tay bị buộc chặt sau lưng, trong khi Trung Quốc càng ngày càng tiến xa, tiến mạnh với yêu sách và hành động để biến 75-80% biển Đông thành “biển lịch sử” của họ”(24). Có một thực tế là ”việc tuyên truyền và thu hút sự quan tâm trên phương diện quốc tế cũng vô cùng quan trọng cho việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam” nhất là khi tàu thuyền và ngư dân của chúng ta bị tấn công trên biển Đông rât nhiều lần nhưng người phát ngôn BNG VN chỉ lập đi lập lại một công thức rằng “VN có đủ bằng chứng và cơ sở pháp lý về chủ quyền…” hay phản đối chiếu lệ, thậm chí dấu nhẹm hay gọi bọn thảo khấu là “tàu lạ” nhằm tránh gây “hiềm khích” một cách bạc nhược thay vì chính thức “kháng nghị” bằng những hành động cụ thể hơn. Lẽ ra đây là dịp để VN trình bày với công luận quốc tế vấn đề chủ quyền lãnh hải của mình thông qua hình thức đấu tranh trong hòa bình và ngoại giao trong đó có sự ủng hộ và đồng tình của đông đảo nhân dân hơn là một bản “thông cáo báo chí”(25) hay “giao thiệp” nhẹ nhàng (không phải là phản đối hay cảnh cáo) với đại sứ TQ tại Hà Nội (26) .

“Mặc dù có cơ sở rất yếu về phương diện lịch sử và pháp lý đồi với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc đã và đang tiến hành công cuộc tuyên truyền về chủ quyền của họ đối với quần đảo này” (27) một cách qui mô và có hệ thống theo chiến thuật “tằm ăn dâu” trên biển và “hòa hoãn” trên bàn hội nghị, thậm chí dùng cả quan hệ “ý thức hệ” giữa hai Đảng cộng sản để khống chế , đó là chưa kể sức ép về kinh tế Việt-Trung luôn trong tình trạng nhập siêu và mất cân đối nghiêm trọng(28). Những hình ảnh bắt bớ, không chế ngư dân VN của truyền hình do hải quân TQ quay được phổ biến rộng rãi trên mạng Youtube  tuyên truyền hành động bảo vệ “chủ quyền” là tất yếu của họ trước dư luận trong nước TQ lẫn nước ngoài nhằm mục đích gì ?(29)

Đại tá – tiến sĩ Chu Thụy Sâm, chuyên gia về an ninh châu Á và kỹ thuật quân sự, đồng thời là một quan chức ngoại giao của Trung Quốc thì yếu tố thứ 5 trong 9 yếu tố “đe dọa” đến an ninh TQ là “mối hiềm khích trên đất liền hoặc trên biển xảy ra trong từng dịp giữa Trung Quốc và Nhật Bản vì quần đảo Điếu Ngư Đài (Diaoyudao) hay Senkaku(theo tiếng Nhật) , giữa Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á vì các quần đảo ở Nam Hải (tức Biển Đông)(30). Trung Quốc vẫn giữ một cái nhìn đầy cảnh giác và mang màu sắc thời Chiến tranh lạnh với tất cả các nước có liên quan trong và ngoài khu vực. Quan điểm của họ về các yếu tố chính “đe dọa” an ninh quốc gia cho thấy điều đó hay tham vọng bá quyền của một nước lớn.(31)          Tuy nhiên liệu đây có phải là cách giải thích để che đậy ý đồ mang tính toàn cầu của TQ như Jonathan Hoslag phân tích “Năm 2005, Quốc vụ viện đã kết luận rằng việc trở thành một cường quốc biển không chỉ liên quan đến việc tăng cường vận tải biển mà còn đến việc xây dựng một hải quân hùng mạnh để bảo vệ hạm đội tàu buôn quốc gia. Năm 2006, Ông Hồ Cẩm Đào đã kêu gọi xây dựng một lực lượng “hải quân hùng mạnh”, và trong khi đi thăm căn cứ hải quân mới tại Hải Nam 2 năm sau, ông đã tuyên bố rằng hải quân cần hiện đại hoá    nhanh hơn và cần sẵn sàng cho một số nhiệm vụ ngày càng tăng lên”(32)để bảo đảm ”Những lợi ích kinh tế toàn cầu của Trung Quốc đang buộc phải mở rộng những chân trời của các chính sách an ninh và việc chiến lược hoá quân sự của họ. Từ từ nhưng quyết tâm, họ sẽ triển khai sức mạnh quân sự của mình vào các khu vực xa xôi”(33) trong đó mục tiêu trước mắt là tìm mọi cách “thu hồi” các quần đảo trên biển Đông, một nơi dù có bị TQ chiếm toàn bộ thì cũng không ảnh hưởng gì đến cán cân lực lượng giữa Mỹ-Trung như TS Evan A. Feigenbaum phân tích cách đây 10 năm trước vì khả năng và kỹ thuật quân sự của TQ còn phải mất 30-50 năm mới đuổi kịp nước Mỹ, vị trí “bá quyền” của Hoa kỳ ở biển Đông là không thể đảo ngược được.(34) Luận điểm nầy có thể đúng khi nhìn quan hệ giữa các cường quốc trên biển Đông , có thể là một cách nhìn thực tế từ phía Mỹ trong việc gìn giữ ưu thế(hay quyền bá chủ) ở Châu Á-TBD nhưng mặt khác, rõ ràng là Feigenbaum đã “không xét đến những” lợi ích, chủ quyền lãnh hải của các nước trong khu vực chung quanh vùng biển nầy cũng như trữ lượng dầu mỏ tiềm tàng trên quần đảo Trường sa mà nhà nước TQ không hề “từ bỏ”(35). Jonathan Holsag đã có lý trong phân tích ” khi Trung Quốc tiếp tục biến đổi thành một quốc gia buôn bán với những tham vọng toàn cầu, những lợi ích an ninh quốc gia của nước này cũng đang trở nên toàn cầu hoá.

Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nhấn mạnh trong một cuộc họp Ban chấp hành trung ương Đảng năm 2007: Chúng ta phải tiếp tục tăng cường tham gia toàn cầu hoá kinh tế và đồng thời có ý thức bảo vệ an ninh kinh tế quốc gia”. Ông cũng tuyên bố: “Chúng ta cần xây dựng các hệ thống an ninh kinh tế quốc gia có hiệu quả, sự cảnh báo sớm, đối phó khủng hoảng và khả năng bảo vệ các lợi ích của chúng ta và sự an toàn của các công dân của chúng ta ở nước ngoài”(36).

Điều nầy giải thích tại sao các nước tỏ ra vô cùng lo ngại trước nạn công nhân TQ ồ ạt sang “lao động” với qui mô hàng vạn đến hàng chục vạn người ở Châu Phi, Lào, Cămpuchia lẫn Việt nam trong những năm gần đây. Liệu trong tương lai sự tồn tại của những người Hoa “mới” nầy có trở thành “đạo quân thứ năm” hay là điều kiện cho TQ can thiệp sâu vào nội tình các nước ?

Từ nay lòng biển vịnh Tokyo là thuộc Trung Quốc!!! (ảnh của Korea Times)

Phát xuất từ “chỉ  thị” nầy, hạm đội Nam Hải đã được liên tục tăng cường (37),  đảo Hải Nam, quần đảo Hoàng Sa…đã trở thành những căn cứ chiến lược trên biển Đông, làm hậu thuẩn cho những hành động thảo khấu, đội lốt “ngư dân” quấy nhiễu kéo dài đối với tàu bè đánh cá của Việt Nam. Sự kiện “đụng độ” với các loại tàu chiến, thăm dò hải dương của  quân đội Mỹ (sự kiện tàu USNS Impeccable vào ngày 10/3/2009, tiếp đó vào tháng 6/2009 tàu khu trục  John Mc Cain bị đâm thủng lưới dò âm thanh và nhiều lần với các tàu khác trên biển Hoàng hải…) trên vùng biển quốc tế ở biển Đông là những bằng chứng phơi bày ý đồ và biểu dương sức mạnh một cách công khai (38) không kể việc gây hấn với lực lượng tuần tra của hải quân Việt Nam gây thương vong (39). Theo một nguồn tin của hãng thông tấn quốc gia Trung Quốc cho biết, lực lượng Hải quân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ủy ban Quân sự Trung ương do Chủ tịch Hồ Cẩm Đào lãnh đạo mới đây đã tổ chức một cuộc diễn tập hải quân quy mô lớn trên Biển Đông, nhằm biểu dương sức mạnh và khẳng định tuyên bố chủ quyền đối với các đảo ở khu vực này. Ngày 16/5/2009, Trung Quốc đã chính thức áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông và đã điều 8 tàu tuần tra tới đây để phong tỏa, kiểm soát trên diện rộng 128.000 km2 (Theo China Review News, 19/6/2009, Xinhua News Agency, 9/6/2009).

Trong  phiên họp ngày 18/6/2009, bên lề kỳ họp thứ sáu của Uỷ ban Quốc gia Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc (CPPCC) khóa 11 Ủy viên CPPCC, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Trung Quốc, Thượng tướng Trương Lê nhấn mạnh tình hình trên khu vực Biển Đông đang “rất phức tạp” và nói rằng, Hải quân Trung Quốc cần phải được thay thế bằng các tàu tuần tra có trọng tải 3000 tấn hoặc phải tăng cường các lực lượng Hải quân và cảnh sát trên biển tới khu vực này. Hiện nay Hải quân đã triển khai 8 tàu này để tuần tra ở biển Đông, bên cạnh đó lại thường xuyên phải thực hiện các nhiệm vụ khác ở những khu vực khác, vì vậy khả năng đáp trả lại một tình huống bất ngờ xảy ra trên Biển Đông là hạn chế (Theo tờ Ta Kung Pao [Hong Kong], ngày 18/6/2009)(40).  Có thật vậy không hay là một “chiêu” đánh lừa sự chú ý của dư luận để nhấn mạnh việc tăng cường sức mạnh của hải quân ?

Ông Kawamura Sumihiko, nguyên Phó Đề Đốc Hải quân Nhật bản phân tích “từ khi có chính sách mở cửa TQ từ một vị trí nước lớn dựa trên đất liền đã trở thành một nước ngoại thương hùng mạnh dựa cải cách  vào hàng hải từ đó tăng cường việc phòng thủ quyền lợi kinh tế các tỉnh duyên hải, chiếm đoạt tài nguyên ở đại dương và liên tục mở rộng tầm kiểm soát vùng biển và vùng trời bằng sức mạnh hải và không quân. Lý luận nền tảng cho hành động nầy là khái niệm về một “đường biên giới chiến lược mới” cho rằng đường biên giới quốc gia của họ sẽ phải thay đổi ngang tầm với sức mạnh của TQ và môi trường(tình hình chính trị) bất chấp luật lệ quốc tế”(41)chính vì vậy mà Trung Quốc muốn đẩy nhanh tiến độ đàm phán và thương lượng về đường biên giới dài 1400 km trên đất liền (đã kết thúc năm 2008) và đường biên giới trên vịnh Bắc Bộ với Việt Nam ? Sau lưng những lời ngon ngọt về phương châm “16 chữ vàng” và “tinh thần  4 tốt” trong quan hệ với Việt nam ở cấp Đảng lẫn chính phủ hai nước là thái độ hù dọa bằng vũ lực, bắt bớ và giam cầm ngư dân, tuyên truyền khiêu khích, kích thích chủ nghĩa dân tộc nước lớn qua trang mạng “Hoàn Cầu Thời báo”(cơ quan thông tin trực thuộc Tân Hoa Xã) kiểu tung tin kết quả thăm dò 92% người dân TQ ủng hộ biện pháp quân sự để bảo về lãnh hải và chủ quyền ở biển Đông (42) và liên tục gây sức ép nhiều mặt, trong đó có cả những dự án khổng lồ về khai thác Bauxite, về việc xây dựng cao tốc, đường sắt, nhà máy phát điện, nhà máy luyện đồng, tuyển than…lên đến hàng chục tỉ đô la (43) không kể lượng hàng hóa “made in China” và sản phẩm văn hóa đủ các dạng, chủng loại vô cùng “phong phú”(44) ngày càng tràn ngập thị trường mua sắm và nghe nhìn trong nước.

Từ  làng Dongria Kondh(Ấn độ) đến Tây nguyên

Nhìn về Tây Nguyên, những công nhân TQ đang ra sức triển khai dự án xây dựng nhà máy khai thác bauxite ở Tân Rai và Nhân cơ, trong khi chưa có phương án cụ thể giải quyết vấn đề chất thải bùn đỏ, Nước ở thượng nguồn…được phía VN chấp thuận. Với thời gian khai thác kéo dài 50 năm thì hàng tỷ tấn bom  bùn nầy sẽ đi về đâu ? “Biển bạc” đang bị “thảo khấu” và “tàu lạ” ngấp nghé chiếm đoạt nguồn tài nguyên với trữ lượng dầu hỏa hàng tỷ thùng (45) thì “Rừng vàng” với hàng tỷ tấn quặng mỏ có nguy cơ rơi tõm vào túi tham không đáy của người láng giềng phương bắc trong chiến lược chiếm đoạt và tận thu nguồn tài nguyên trên biển lẫn trên đất liền mà họ đã vạch ra (46).

Hai chân Con hổ “đói”  hung dữ nầy vồ vập, vươn móng kìm chặt nước ta từ nóc nhà Tây nguyên đến biển Đông đang làm cho người người lo lắng trước vận mệnh của dân tộc đã từng nhiều lần ăn “bánh vẽ” trong mối quan hệ “vừa là đồng chí vừa là anh em”. Thiết nghĩ dân tộc Việt Nam luôn mong mỏi được sống yên ổn, hòa bình thật sự với Trung Quốc như câu nói truyền tụng trong dân gian “bán bà con xa mua láng giềng gần” hay “ nhất cận lân, nhì cận thân” . Trong khi đó ”nếu Trung Quốc làm chủ được biển Đông, có thể tuỳ tiện khai thác và làm những điều mà họ cho là “thực thi chủ quyền”, trong khi Việt Nam không thể làm được những điều đó, thì họ đã nắm được phần lớn ích lợi từ biển Đông, đã thực hiện được thế thượng phong trong dư luận, và phát súng ân huệ cho các đảo mà Việt Nam còn giữ sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian hay thời cơ”(47).

Người dân bộ lạc Drongria Kondh nắm tay ngăn chận dự án khai thác bauxite

Từ  bên kia Ấn độ dương, những người dân thuộc bộ  lạc Dongria Kondh, chỉ vỏn vẹn 8000 người nhưng họ đã dũng cãm đứng lên yêu cầu chính phủ Ấn độ ngưng cấp phép cho tập đoàn Vendata và Tập đoàn quặng mỏ Quốc doanh  Orissa khai thác Bauxite (48)đe dọa  những điều kiện cơ bản để sinh  nhai và tương lai của cộng đồng dân tộc thiểu số, phá hoại truyền thống tín ngưỡng và nếp sống sắc thái bản địa có từ lâu đời vì nguy cơ đầy thảm họa tàn phá môi trường và đẩy họ thành người lưu dân trong vài năm tới. Điều nầy chắc chắn cũng sẽ đến với người dân  Tây nguyên trong một ngày không xa, mỗi khi việc khai thác bauxite ở đây bước vào thời kỳ « phát triển rực rỡ » mà theo tính toán của cơ quan chức năng Việt nam thì phải mất 13 năm mới « có lãi »( !)(49)  nhưng vẫn được thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xác định  “là dự án trọng điểm, mở đầu cho việc xây dựng ngành công nghiệp bauxite-alumin-nhôm, phục vụ phát triển kinh tế đất nước nói chung, góp phần phát triển kinh tế – xã hội Tây Nguyên nói riêng”(50) , yêu cầu bảo đảm đưa nhà máy alumin trong tổ hợp bauxite nhôm Lâm Đồng vào hoạt động cuối năm 2010 như kế hoạch  trong chuyến thị sát Tây Nguyên vào ngày 18/8/2009.

H.L.T

18/7/2009 ( bổ sung tư liệu 20/8/2009)

Chú  thích:

* Trích từ bài “Rắn là một loài bò” của trang Tuần Việt Nam

(1)http://www.nld.com.vn/20090716033757321P0C1002/9-ngu-dan-bi-tau-la-tong-chim-ve-den-dat-lien.htm

và “2 vụ tàu lạ đâm, 35 ngư dân may mắn thoát chết” trên

http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=1101&id=21882

“TQ thúc giục nộp tiền chuộc”

http://www.phapluattp.vn/news/xa-hoi/view.aspx?news_id=262194

(2)”Những động thái mới của Trung Quốc, Philippines ở biển Đông”

Ngày 19/5/2009, Trung Quốc tiếp tục điều 02 tàu Ngư Chính xuất phát từ đảo Hải Nam để bắt đầu đợt tuần tra mới ở khu vực quần đảo Hoàng Sa trong thời gian 15 ngày, nhằm mục đích kiềm chế sự gia tăng các hoạt động đánh bắt thuỷ hải sản bất hợp pháp.

Theo ông Zhu Yingrong, một quan chức của Cục Ngư chính cho biết, các tàu tuần tra lần này sẽ thực hiện một nhiệm vụ “như thường lệ nhưng mạnh mẽ”; trong đó bao gồm các hoạt động như tuần tra trong vùng đặc quyền kinh tế, bảo vệ các tàu cá Trung Quốc, kiềm chế sự gia tăng đánh bắt cá bất hợp pháp và “tăng cường bảo vệ các quyền lợi và các lợi ích của Trung Quốc ở khu vực này”.

http://vitinfo.com.vn/Muctin/Quocte/LA60518/default.htm

(3) Huy Đức “Đồn biên phòng Hoàng Sa”

…Các gia đình ở huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) không còn liên lạc được với 12 ngư dân bị Trung Quốc bắt hôm 16-6-2009 tại vùng biển Hoàng Sa để đòi 540 triệu đồng tiền chuộc. Đây không phải là lần đầu tiên ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc “bắt làm con tin để tống tiền”, như cách nói của ông Nguyễn Dự, Chủ tịch xã An Hải, huyện Lý Sơn. Chỉ riêng Quảng Ngãi, đã có 373 ngư dân và 33 tàu đánh cá Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ, tính từ năm 2005, để đòi từ 150-180 triệu một tàu. Không chỉ bị “tống tiền”, ngư dân Việt làm ăn trên lãnh hải của ông cha mà dễ gặp nguy hiểm như bị lạc sang xứ Somali xa lắc. Ngày 26-4, tàu của ông Phạm Tĩnh, đang tìm cá thì bị 10 kẻ lạ mặt, nói tiếng Trung Quốc, đi trên một con tàu trắng, “nổ súng đuổi theo, nhảy sang lục lọi, rồi cướp sạch toàn bộ số cá khoảng trên 3 tấn”. Một ngư dân Quảng Ngãi khác, ông Ðặng Cận, hôm 24-5, cũng “bị những người nói tiếng Trung Quốc, từ một con tàu trắng khác, dùng súng cướp đi 5 tấn cá”… Kể từ năm 1999, khi con tàu đầu tiên của Quảng Ngãi bị Trung Quốc bắt giữ, ngư dân, đặc biệt là ngư dân Lý Sơn vẫn kiên cường đánh cá trên vùng biển Hoàng Sa..

http://xuanduc.vn/baiviet.aspx?id=876&nhom=6

(4) ngày 15/01/2009, Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Phú Yên thông báo: một tàu đánh cá của ngư dân địa phương đã bị một tàu lạ đâm chìm ở vùng biển cách mũi Đại Lãnh về phía Đông Nam khỏang 80 hải lý. Toàn bộ chín ngư dân trên tàu bị mất tích. Đến ngày 14-03, một tàu đánh cá ở huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu bị một tàu lạ khác đâm chìm. Lúc đó, Văn phòng Ban phòng chống lụt bão tỉnh Bạc Liêu xác nhận: tai nạn này đã làm hai thuyền viên tử nạn và hai người khác mất tích. Đầu tháng 5, một tàu ngư dânthuộc huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, khi đang vây bắt một đàn cá ở vị trí 109 độ kinh đông và 17 độ vĩ bắc cách bờ chừng 65 hải lý thì bất ngờ bị một tàu nước ngoài đến yêu cầu dỡ lưới đi nơi khác, nếu không sẽ gặp rắc rối. Rạng sáng ngày 19-05, một tàu câu mực của ngư dân xã Bình Chánh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, đang khi hành nghề ở 10′54 độ vĩ bắc, 111 độ kinh đông, tức trong khu vực không xa quần đảo Hoàng Sa, thì đã bị một tàu lạ tông cho chìm, khiến 26 thuyền viên rơi xuống biển nhưng may sau đó đã được tàu bạn cứu thoát. Ngày 22-05, một tàu cá thuộc huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi đã bị một tàu nước ngoài tấn công ngay trên ngư trường, lấy đi hơn một nửa số cá vừa đánh bắt được. Đã vậy các thuyền viên trên tàu lạ này trước khi rút lui còn dùng lưỡi lê đâm thủng một chiếc thuyền thúng dùng làm xuồng cứu nạn. Rồi vào khoảng 9g sáng ngày 03/06/2009, 9 ngư dân xã Quỳnh Dị, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đang đánh bắt cá trên biển thì bất ngờ bị hai chiếc tàu lạ tấn công và truy đuổi, công kích bằng đá, chai bia, lọ nước… Bỏ lại lưới, họ chạy thoát thân được hơn 2 hải lý thì một chiếc đuổi kịp, đâm thẳng vào mạn tàu khiến con tàu bị nghiêng, hư hỏng nặng…báo cáo chính thức của tỉnh Quảng Ngãi cho biết tính từ 2005 đến nay đã có 33 chiếc tàu đánh cá Việt Nam với 373 ngư dân bị Trung quốc bắt. Những người này bị buộc phải nộp tiền chuộc từ 50 đến 70 ngàn Yuan tức từ 9 đến 11 ngàn đôla mới được thả về. Quảng Ngãi cũng có 9 ngư dân bị tàu Trung quốc  bắn chết và bị thương vào năm 2007.

xem thêm:

Hàng trăm ngư dân từng bị giam giữ  phải nộp tiền chuộc

Thứ Sáu, 05/06/2009 ,

– Theo Sở Ngoại vụ Quảng Ngãi, hiện tỉnh này còn 15 tàu cá, 46 ngư dân đang bị nước ngoài giam giữ. Đặc biệt có một ngư dân đang bị giam 4 năm nay.

Trong số  15 tàu cá đang bị nước ngoài giam giữ  có 7 tàu (15 ngư dân) bị  giam tại Indonesia, số còn lại bị  giam ở Philippines.

Thông tin này được trích từ báo cáo của Sở Ngoại Vụ tỉnh Quảng Ngãi ban hành vào tháng 5/2009. Tuy nhiên, số liệu chỉ cập nhật đến hết quý 1/2009. Nếu tính đến tháng 4 và 5/2009, số ngư dân bị giam giữ ở 2 nước trên (ngoài ra còn có Malaysia) còn nhiều hơn nữa.

Đơn cử một xã như Bình Châu (huyện Bình Sơn), trong tháng 4 và 5 vừa qua có 3 chiếc tàu bị bắt giữ, gồm tàu của các ông Bùi Cam, Nguyễn Quýt (đều bị giam tại Malaysia), Nguyễn Tiến (bị giam tại Philippines). Cùng bị giam giữ với 3 chiếc tàu này là 36 ngư dân.

Nguyên nhân các tàu bị bắt giam là  do mê mải luồng cá nên đưa tàu qua hải phận nước ngoài, do đi tránh bão, do cần sửa chữa tàu thuyền, máy móc, và do thiếu kiến thức về lãnh hải.

Những ngư dân này đều còn sống, thỉnh thoảng được phép liên lạc về  nhà. Nhìn chung chịu cảnh giam cầm cực nhọc, ăn uống bữa đói bữa no. Tuy nhiên tình cảnh người thân của họ còn thê thảm hơn.

Tại Bình Châu có bà Bùi Thị  Mái (sinh năm 1957) vừa sắm một chiếc tàu cá 700 triệu đồng (chủ yếu từ vốn vay) mới đi chuyến biển đầu tiên thì bị Philippines bắt giữ tại đảo Patanest, cùng bị bắt với chiếc tàu còn có 3 con trai và 1 đứa cháu của bà.

Các con bà Mái điện về cho biết, họ bị bắt ngày 4/4/2009 vì đưa tàu vào đó tránh bão. Nghe tin tàu và các con bà bị bắt, nhiều chủ nợ đến đòi tiền, bà Mái và mấy cô con dâu không biết đường nào xoay sở.

Cạnh nhà  bà Mái là bà Nguyễn Thị  Phấn (sinh năm 1953). Bà có con trai là Huỳnh Văn Oanh đang bị giam giữ tại Philippines hơn 1 năm qua. Theo Oanh điện về, thì vào ngày 16/5/2008, Oanh cho tàu vào một làng của Philippines để lên bờ tìm chỗ sạc bình ắc quy điện. Khi Oanh và 2 ngư dân đang bê bình ắc quy vào làng thì bị bắt giữ, những người trên tàu thấy vậy chặt đứt dây neo cho tàu tháo chạy. Dù đưa được tàu về nhà nhưng do không có chủ tàu (Oanh), cũng như tâm trạng bất an nên chuyện đi biển bị tê liệt từ đó đến giờ. Đến tháng 5/2009, sợ tàu hư, bà Phấn đã kêu bán tàu với giá 140 triệu đồng, trong khi để sắm nó phải mất 670 triệu đồng. Gia đình bà Phấn cũng nợ nần chồng chất .Cũng theo báo cáo nói trên, tính từ 2005 đến quý I/2009, tổng số tàu thuyền và ngư dân Quảng Ngãi bị nước ngoài bắt là 74 chiếc, 714 ngư dân, trong đó 33 chiếc với 373 ngư dân là bị Trung Quốc bắt.

Khi bị  Trung Quốc bắt, người thân ngư  dân phải nộp tiền chuộc từ  5-7 vạn nhân dân tệ (150-180 triệu  đồng) mới đưa được ngư dân về nhà. Ngoài bị bắt ra, Quảng Ngãi cũng có 6 ngư dân bị nước ngoài bắn chết và bị thương (năm 2007).

Khải Minh

http://vietnamnet.vn/xahoi/2009/06/851529/

Ngư dân Quãng Ngãi bị vây bắt tại vùng biển Hoàng sa

(5)南沙諸島をめぐる石油資源争奪と対テロ戦争

米メジャー、中国抱き込みでつば迫り合い(Tạp chí Sekai tháng 9/2006)

”Cuộc tranh giành tài nguyên dầu mỏ chung quanh quần đảo Trường Sa và Chiến tranh chống khủng bố”

Bauvinal.info.free.fr

(6) xem Lê  Hoàng”Hợp tác chiến lược toàn diện” và chủ quyền lãnh hải trên Biển Đông”

http://bauxitevietnam.info/c/2896.html

(7)アジア戦略資源争奪とシーレーン確保問題 『南シナ海の資源』

« Vấn đề bảo đảm tuyến đường trên biển và tranh nhau nguồn tài nguyên chiến lược Châu Á” “Tài Nguyên ở biển Đông”

Tác giả  Ishimaru Yasuo cho rằng”Mặc dù TQ tỏ thái độ muốn hợp tác chung việc khai thác dầu và khí dốt chung quanh quần đảo Trường sa với các nước chung quanh và thảo luận về tương lai của quần đảo nầy nhưng chủ trương quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của TQ thì vẫn không thay đổi qua việc xây dựng căn cứ quân sự, có hành động vũ lức trên biển đông, cho phép các công ty dầu hỏa quốc tế thăm dò và khai thác ở vùng biển nầy. Cho biết nhu cầu về năng lượng của TQ vào năm 2020 sẽ tăng gấp 4 lần (400 %) hơn so với năm 1990.

Bauvinal.info.free.fr

(8)”Hành trình vạn dặm tìm dầu của Trung Quốc”

http://www.baovietnam.vn/the-gioi/45931/25/Hanh-trinh-van-dam-tim-dau-cua-Trung-Quoc

(9)Tổng kết Thống kê Năng lượng Thế giới, Tập đoàn Dầu khí Anh Quốc. ấn bản 2006. [có trên mạng]

http://www.bp.com/productlanding.do?categoryId=6842&contentId=7021390

(10)Theo Việt Long”Đường lưỡi bò của Trung Quốc trên biển Đông –  coi thường Luật Biển quốc tế “ Văn Chinh Net

http://vanchinh.net/index.php?option=com_content&view=article&id=517:ng-li-bo-ca-trung-quc-tren-bin-ong-s-coi-thng-lut-bin-quc-t

(11)Hoàng Việt“Đường ‘lưỡi bò’ có hợp pháp không ? http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2009/05/090515_china_sea_dispute.shtml

Năm 1948, chính quyền Cộng Hoà Trung Hoa đã cho in bản đồ chính thức lần đầu có “đường lưỡi bò” dựa theo bản đồ của Bai Meichu.Trong bản đồ này, “đường lưỡi bò” là một đường đứt khúc có 11 đoạn, được thể hiện bao trùm xung quanh các nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông, đó là các quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratlys) và Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa), bãi ngầm Macclesfield (Trung quốc gọi là Trung Sa) và bãi cạn Scaborough (Trung Quốc gọi là Hoàng Nham).

Mặt khác,Tuyên bố  năm 1958 về lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã nhấn mạnh rằng:

“Chiều rộng lãnh hải nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là  12 hải lý. Điều khoản này  áp dụng cho tất cả các lãnh thổ  của nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm lục  địa Trung Quốc và các  đảo ven bờ của lục  địa cũng như các đảo Đài Loan và xung quanh đó, quần đảo Bành Hồ, Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc bị phân cách với đất liền và các đảo ven bờ biển của nó bởi biển cả.” cho thấy sự nhất quán của TQ trong chủ trương sở hữu vùng lãnh hải ngay từ khi Nước Cộng Hòa Nhân dân TH ra đời.

(12) như  (10) tldd

(13)”Trước yêu sách của Trung Quốc đối với 80% diện tích biển đông: Không chấp nhận đường “lưỡi bò”  http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=332309&ChannelID=3

(14) như trên

(15) như trên

(16) Ðiều thứ 121 của Công Ước Montego Bay 10 tháng 12 năm 1982 định nghĩa về đảo :

1. Une île est une étendue naturelle de terre entourée d’eau qui reste découverte à marée haute. (Ðảo là một dải đất tự nhiên, có nước bao bọc chung quanh và không bị nước phủ lúc thủy triều lên)

2. Sous réserve du paragraphe 3, la mer territoriale, la zone contiguë, la zone économique exclusive et le plateau continental d’une île sont délimités conformément aux dispositions de la Convention applicables aux autres territoires terrestres. (Một đảo có lãnh địa hải phận, vùng tiếp cận, vùng kinh tế độc quyền và thêm lục địa riêng, ngoại trừ điều kiện ghi dưới phần 3)

3. Les rochers qui ne se prêtent pas à l’habitation humaine ou à une vie économique propre, n’ont pas de zone économique exclusive ni de plateau continental. (Những bãi  đá (cồn đá) mà người ta không thể  sinh sống, hoặc tạo một nền kinh tế  tự tại thì không có vùng kinh tế độc quyền cũng như không có thềm lục địa).

Theo Trương Nhân Tuấn

(http://fr.blog.360.yahoo.com/blog-EGs0TdElabNXphrx56VTXO2Qa8378w&#8211;?cq=1&p=124#comments)

(17) theo Trương Nhân Tuấn,tldd

xem thêm ”Lập trường của Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật quốc tế” của Đào Văn Thụy

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai11/200711_DaoVanThuy.htm#_edn1

(18)Vũ Tuyết Loan  “AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG Ở CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG: VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP” Tạp Chí Cộng Sản

http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=5&ID=4681

(19) “Tuyên bố chung Việt Nam-Trung quốc” http://www.mofa.gov.vn/vi/nr040807104143/nr040807105001/ns080602092528

Cũng trong bản Tuyên Bố Chung nầy, vấn đề khai thác bauxite được ghi rõ như sau:“Hai bên tăng cuờng hợp tác trong các dự án như: Bôxit Đắc Nông, các dự án trong khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” và các dự án lớn khác. Hai bên khẳng định tăng cường hợp tác trong các cơ chế kinh tế khu vực, liên khu vực và quốc tế như Tổ chức Thương mại thế giới…”

(20) http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2008/10/169311/

(21)http://www.asiasentinel.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1546&Itemid=188)

(22) Thứ Ba, 01/11/2005

“Việt – Trung đã ký 13 văn kiện hợp tác”

Sau lễ đón chính thức Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Hồ  Cẩm Ðào, với nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia, tại Văn phòng T.Ư Ðảng, Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh, Chủ tịch nước Trần Ðức Lương và Tổng Bí thư, Chủ tịch Hồ Cẩm Ðào đã tiến hành hội đàm và chứng kiến lễ ký 13 văn kiện hợp tác quan trọng.

Bảy văn kiện được ký, gồm: Hiệp định hợp tác kinh tế, kỹ thuật giữa Chính phủ hai nước về việc Chính phủ Trung Quốc cung cấp cho Chính phủ Việt Nam khoản viện trợ không hoàn lại 60 triệu nhân dân tệ; Hiệp định khung về việc Chính phủ Trung Quốc cung cấp cho Chính phủ Việt Nam khoản tín dụng ưu đãi 550 triệu nhân dân tệ cho Dự án Hiện đại hóa thông tin tín hiệu đường sắt đoạn Vinh – TPHCM, tuyến đường sắt Bắc – Nam; Thỏa thuận cho vay giữa Bộ Tài chính Việt Nam và Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc về sử dụng tín dụng ưu đãi cho Dự án Hiện đại hóa thông tin tín hiệu đường sắt “ba tuyến một đầu mối” (gồm Hà Nội – Thái Nguyên; Hà Nội – Đồng Đăng và Hà Nội – Lào Cai); Thỏa thuận cho vay giữa Bộ Tài chính Việt Nam và Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc về sử dụng tín dụng ưu đãi cho Dự án Hiện đại hóa thông tin tín hiệu đường sắt đoạn Vinh – TP Hồ Chí Minh, tuyến đường sắt Bắc – Nam; Hợp đồng giữa Tổng công ty Điện lực Việt Nam và Công ty Lưới điện miền nam Trung Quốc về việc Trung Quốc bán điện cho sáu tỉnh miền bắc Việt Nam; Thỏa thuận khung về hợp tác dầu khí giữa Tổng công ty Dầu khí Việt Nam và Tổng công ty Dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc trong khu vực thỏa thuận ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ; Thỏa thuận Hợp đồng EPC giữa Tổng công ty Hóa chất Việt Nam và Tổng công ty Xây dựng Công trình Hóa chất Trung Quốc về thiết kế, chuyển giao công nghệ, cung cấp thiết bị… cho Dự án đầu tư Nhà máy phân bón DAP tại khu kinh tế Đình Vũ, Hải Phòng.

Các doanh nghiệp hai nước ký sáu văn kiện, trong đó có Thỏa thuận cho vay về sử dụng tín dụng ưu đãi; Thỏa thuận khung về cung cấp tín dụng xuất khẩu bên mua cho Dự án nhiệt điện Sơn Động; Thỏa thuận cho vay về cung cấp tín dụng xuất khẩu bên mua cho Dự án nhiệt điện Hải Phòng 1; Thỏa thuận khung về cung cấp tín dụng xuất khẩu bên mua cho Dự án Nhiệt điện Quảng Ninh; Bản ghi nhớ về việc xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng 2; Hợp đồng về hợp tác triển khai Dự án nhiệt điện Quảng Ninh 1.

http://dantri.com.vn/c20/s20-85809/viet-trung-da-ky-13-van-kien-hop-tac.htm

(23)Vũ Tuyết Loan, tldd

“Chủ nghĩa khủng bố hiện đại ảnh hưởng tới nhiều mặt: Về chính trị, đe dọa an ninh và sự ổn định của cộng đồng quốc tế, cản trở tiến trình giải quyết hòa bình các xung đột khu vực. Về kinh tế, thông qua việc tấn công trực tiếp vào các mục tiêu kinh tế, gây tổn thất lớn, phá hoại trật tự kinh tế. Về quân sự, chủ nghĩa khủng bố hiện đại trở thành một trong những nguyên nhân dẫn tới những cuộc xung đột vũ trang, đặc biệt khi thế giới phát triển nhanh chóng trong điều kiện kỹ thuật và trữ lượng vật chất được sử dụng cho chiến tranh thông tin, chiến tranh hạt nhân, chiến tranh hóa học, chiến tranh sinh học đang ở mức cao như hiện nay. Điều này không chỉ làm tăng thêm tính cấp thiết của hợp tác an ninh toàn cầu mà còn tạo ra tiền đề mang tính lịch sử cho việc thiết lập cơ chế hợp tác an ninh quốc tế”.(Tạp chí Cộng sản, số 120/2006)

(24)Lê Minh Phiếu – Dương Danh Huy (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)     http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/12/817741/

Phần Biển  Đông mà họ đòi hỏi nằm trong các  đường gạch nối trên Biển  Đông, được đưa ra đầu tiên vào năm 1947, có  hình chữ U hay hình lưỡi bò  và do vậy thường được gọi là  “đường lưỡi bò” hay “ranh giới lưỡi bò”. Phần diện tích trong đường lưỡi bò này chiếm khoảng 75% diện tích trên Biển Đông, để lại khoảng 25% cho tất cả các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, và Việt Nam, tức mỗi nước được trung bình 5%.                     Các vạch đỏ là ranh giới lưỡi bò Trung Quốc đòi hỏi. Các đường xanh là một cách chia các vùng đặc quyền kinh tế dựa trên UNCLOS, nhưng không chia các đảo đang bị tranh chấp. Các vòng tròn xanh lá cây là lãnh hải 12 hải lý của các đảo này. (Click vào hình để xem bản đồ cỡ lớn)

(25)Tại cuộc họp báo thường kỳ chiều 27/11, ông Lê Dũng nói Việt Nam quan tâm và theo dõi chặt chẽ thông tin nói trên và tái khẳng định lập trường của Việt Nam về vấn đề Biển Đông.

“Chúng tôi có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền hợp pháp của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như những vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.

Mọi hoạt động tiến hành trên vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam mà không có sự đồng ý, chấp thuận của Việt Nam đều vi phạm chủ quyền, vi phạm lợi ích quốc gia của Việt Nam và hoàn toàn vô giá trị”, ông Lê Dũng nhấn mạnh.

Trên đây là một bài văn mẫu của người phát ngôn BNG VN, phát biểu ngày 27/11/2008

(26)ngày 4/6/2009 vừa qua, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã “giao thiệp” với Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường, lưu ý việc phía Trung Quốc gần đây thực hiện lệnh cấm đánh cá tại một số vùng biển trong đó có những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông và tăng cường tàu tuần tra, bắt, phạt tàu cá tại những vùng biển này

http://antg.cand.com.vn/vi-vn/sukien/2009/6/69614.cand

(27) xem chú thích (14)

và  “Mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đầy đe dọa 1991 – 2008”

http://vietchange.com/forum/showthread.php?t=63177

(28) ”Cán cân thương mại Việt – Trung quá chênh lệch”

http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/200927/20090705004047.aspx

“Việt Nam nhập siêu 11 tỷ đô la từ trung quốc”

http://www.thesaigontimes.vn/epaper/TB-KTSG/So12-2009(952)/23314/

Trong “Nhập siêu và một số  biện pháp hạn chế nhập siêu trong thời gian tới”  của Nguyễn Hoàng Giang(Văn phòng Trung ương Đảng) cảnh báo:

“Riêng nhập siêu từ Trung Quốc ở mức rất lớn: năm 2006 gần 4,4 tỉ USD (chiếm 86% tổng mức nhập siêu của cả nước); năm 2007 tăng lên 7,5 tỉ USD (chiếm 60% tổng mức nhập siêu của cả nước), và hàng nhập lại chủ yếu là hàng tiêu dùng và các thiết bị chưa phải thuộc công nghệ tiên tiến. Chính đặc điểm này đã đặt ra câu hỏi: vậy nhập siêu lớn trong thời gian qua đã thực sự hợp lý và lành mạnh chưa?”

http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=4&news_ID=23954692

(29) xem ”TÌNH TRẠNG AN NINH HIỆN TẠI VÀ CHÍNH SÁCH AN NINH CỦA CHND TRUNG HOA”

http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1862

(30)”Tình trạng an ninh hiện tại và chính sách an ninh của CHND Trung Hoa” cho Chuyên san An ninh và Quân sự của Học viện Quốc phòng Hungary http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6490/index.aspx

(31) như trên, tldd

(32)”Mỹ với những tham vọng an ninh toàn cầu của Trung Quốc”trong The Washington Quarterly – Số 7/2009

“The Military Implications of china’s economic go-global policy”Holslag et all

BICCS Asia paper Vol .3(8)

(33) như trên, tldd

(34) ”China and Long-range Asia Energy Security: An Analysis of the Political, Economic and Technological Factors Shaping Asian Energy Markets – Trung Quốc và An ninh Năng lượng dài hạn ở châu Á: Phân tích về chính trị, kinh tế và các yếu tố kỹ thuật hình thành nên các thị trường năng lượng châu Á”Dr. Evan A. Feigenbaum  http://bauxitevietnam.free.fr

(35)Michael Richardson”A Southward Thrust for China’s Energy Diplomacy in the South China Sea”  Trung Quốc đẩy mạnh xuống phía Nam trong chính sách Ngoại giao Năng lượng trên biển Nam Trung Hoa

http://www.japanfocus.org/_Michael_Richardson-A_Southward_Thrust_for_China___s_Energy_Diplomacy_in_the_South_China_Sea

Các mối liên hệ  về năng lượng Trung-Nhật: Triển vọng cạnh tranh chiến lược sâu sắc – Sino-Japanese energy relations: Prospects for deepening strategic competition  trên

http://bauvinal.info.free.fr

(36) như (32) tldd

(37) ngày 16/4/2009,kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống hải quân Trung QuốcTư lệnh hải quân Trung Quốc, đô đốc Wu Shengli(Ngô Thắng Lợi)phát biểu, rằng nước này cần những tàu ngầm có khả năng tàng hình mạnh hơn, ngư lôi tốc độ cao và thông minh hơn, các loại vũ khí điện tử, máy bay siêu thanh và tên lửa tầm xa có độ chính xác cao.

“Hải quân sẽ  đẩy nhanh việc nghiên cứu và xây dựng các loại vũ  khí thế hệ mới, nhằm tăng cường khả  năng chiến đấu trên biển trong khu vực, trong thời  đại của công nghệ thông tin”, ông Ngô nói.

http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=115488

xem thêm:”Hạm Đội Nam Hải của Trung Quốc (Nha Nho 26)”

http://www.vantholacviet.org/home/detail.php?module=news&iCat=5&iData=320&title=ham_doi_nam_hai_cua_trung_quoc_(nha_nho_26).html

(38) Biển Đông: một số động thái gần đây

Trung Quốc đã điều tàu tuần tra ngư trường lớn nhất tới Biển Đông (Ảnh: THX)

”Dân chúng Trung Quốc ngày càng quan tâm hơn, kể cả về quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc tranh chấp chủ quyền với Đài Loan, Việt Nam, Brunây, Philippinnes, Malaysia. Cho nên, có thể xem cuộc đọ sức với Mỹ đầu tháng 3 như là một tín hiệu của chính quyền Bắc Kinh, cho thấy họ không chỉ có quyết tâm mà còn có khả năng bảo vệ điều mà họ xem là quyền lợi của mình ở Biển Đông”.

http://www.baomoi.com/Home/ThoiSu/www.toquoc.gov.vn/Bien-Dong-mot-so-dong-thai-gan-day/2639623.epi

(39) http://www.vietbaoonline.com/?ppid=45&pid=4&nid=146837

(40) http://vitinfo.com.vn/Muctin/Quocte/LA62741/default.htm

(41)中国の海洋戦略―川村研究所代表/元海将補・ 川村純彦氏に聞く (Phỏng vấn Viện trưởng viện nghiên cứu Kawamura Sumihiko—Nguyên Phó Đô Đốc Hải quân NB– về chiến lược biển của TQ)

http://www.asahi-net.or.jp/~VB7Y-TD/k6/160826.htm đăng lại trên

http://bauvinal.info.free.fr

(42)调查显示92%中国网友赞同武力解决南海问题 –“92% tán thành dùng vũ lực để giải quyết vấn đề biển đông”

http://bauvinal.info.free.fr

(43) xem”Công ty TQ trúng thầu dự án đường cao tốc”

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/08/090808_china_build_highway.shtml

và ”Hàng Trung Quốc tràn ngập thị trường”

http://www.sggp.org.vn/thitruongkt/2009/7/196942/

(44)Hồng Lê Thọ “Nhập siêu từ thương mại đến văn hóa”

vietsciences.free.fr/vietnam/xahoi/nhapsieuthuongmaivanhoa.htm

(45)Theo ước tính của Bộ Địa chất và Tài nguyên Khoáng sản Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vùng quần đảo Trường Sa có chứa trữ lượng dầu và khí đốt tự nhiên rất lớn, lên đến 17,7 tỷ tấn (1,60 × 1010 kg), so với 13 tỷ tấn (1,17 × 1010 kg) của Kuwait, và họ xếp nó vào danh sách một trong bốn vùng có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới. Lê  Hoàng “Hợp tác chiến lược toàn diện” và chủ quyền lãnh hải trên Biển Đông”

http://bauxitevietnam.info/c/2896.html

(46) Dương Danh Huy ”Sức ép trên biển và trên bàn đàm phán”

http://www.minhbien.org/?p=1019

(47) xem “Chiến Lược Khoáng Sản của TQ” Tư liệu của Quốc Vụ Viện Trung Quốc

Bauvinal.info.free.fr

(48)xem”Le projet minier de Vedanta menace les moyens de subsistance et l’identité culturelle d’une communauté indigène en Inde”

Bauvinal.info.free.fr  9/7/2009

(49)”Xung quanh vấn đề hiệu quả kinh tế, báo cáo cho biết theo Tập Ðoàn Than – Khoáng Sản VN (TKV), hiệu quả kinh tế của hai dự án đã được tính toán. Theo đó, thời gian thu hồi vốn khoảng 13 năm. Những năm đầu của dự án có một số năm lỗ (lỗ kế hoạch), tuy nhiên đánh giá cả đời dự án là có hiệu quả kinh tế.” Bản tin của báo Tuổi Trẻ ngày Chủ nhật 24/5/2009 viết theo bản báo cáo của ‘chính phủ’ Nguyễn Tấn Dũng gửi quốc hội trước nhiều sự chỉ trích và ngăn cản kế hoạch khai thác bauxite và dành độc quyền trúng thầu cho nhà thầu Trung Quốc kiểu như ‘cho không’ (một quan chức TKV từng tiết lộ).

Bản tin này viết tiếp thêm rằng: “Báo cáo nhận định: giá nhôm trên thị trường hiện nay đang ở mức giá sàn rất thấp ($1,426 đô la/tấn), giảm khoảng 70% so với giá nhôm thời kỳ 2006-2007. Giá alumin cũng tương ứng giảm theo. Tuy nhiên, các dự án alumin Tây nguyên đều có tuổi đời trên 50 năm, vì vậy hiệu quả kinh tế của dự án được tính toán dựa trên cơ sở dự báo, phân tích và lựa chọn giá bán alumin bình quân cho ‘cả đời’ dự án là $362 đô la/tấn thì phù hợp”.

xem toàn văn “Báo Cáo của Chính Phủ” về vấn đề Bauxite trình Quốc Hội ở đây:

http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/849417/

http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/18821/

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=317743&ChannelID=3

http://www.diendan.org/viet-nam/mat-va-111uoc-trong-viec-khai-thac-bauxite-o-tay-nguyen/

http://leminhphieu.com/?p=533

(50)http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=0&article=155051

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/08/090819_vietpm_bauxite.shtml

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bài 23. Những động thái mới của Trung Quốc về vấn đề biển nam Trung Hoa

Posted by anhbahoa on November 26, 2009

Bài 23

Những động thái mới của Trung Quốc

về vấn đề biển nam Trung Hoa

南シナ海問題における中国の新動向

Lời giới thiệu

Dưới đây là bài viết của chuyên gia quốc phòng NB vào tháng 9/2007. Từ đó đến nay động thái về quân sự trên biển Đông đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là việc phô trương sức mạnh của Hải quân TQ và các lực lượng tuần tra của cảnh sát biển , tuần ngư, đã mở ra các chiến dịch bắt giữ ngư dân VN đánh cá một cách thô bạo xảy ra liên tục để chứng minh chủ quyền của mình trên biển Đông trong giữa năm 2008 đến nay cho thây tác giả đã quá chủ quan và lạc quan trong nhận định về những ý đồ của TQ trong vấn đề biển “Nam Trung Hoa”. Tuy nhiên bài viết cho thấy mối tương quan giữa ASEAN-TQ và các nước lớn chung quanh như Mỹ và Nhật Bản, trong đó hé lộ những ý tưởng gắn bó chiến lược giữa  NB và các nước ASEAN để đối phó với âm mưu bành trướng của TQ trên vùng biển nầy. Đó là phát hiện lý thú mà nhóm Chuyển ngữ Bauvinal muốn giới thiệu với bạn đọc gần xa.

Lê Hoàng

飯田 将史

IIda Masafumi

Lê Hoàng chuyển ngữ

Kỷ Yếu Nghiên Cứu Quốc Phòng, số 1 tập 10 (tháng 9/2007)

Tóm tắt

Cho đến giữa thập kỷ 1990, TQ mang ý đồ mở rộng sự thống trị bằng sức mạnh trên vùng biển Nam Trung Hoa, gây ra một mối đe dọa mới của TQ đối với Đông Nam Á. Nhưng kể từ sau hậu bán thập kỷ 90, TQ đã có thái độ hợp tác với các nước ASEAN về vấn đề nầy. Thí dụ, đối với VN là nước đối nghịch lớn nhất, TQ đã xúc tiến đường lối đối thoại để phân định đường biên giới của khu vực đặc quyền kinh tế EEZ lãnh hải trên vịnh Bắc Bộ cũng như trên đất liền. Trong vấn đề biển đông, TQ tỏ tư thế sẵn sàng giải quyết thông qua thương thảo như đã thấy qua việc thực hiện thăm dò tài nguyên tay ba với VN và Philippines. Bối cảnh của sự thay đổi nói trên phát xuất từ yêu cầu bảo đảm sự ổn định của khu vực chung quanh—là nhân tố không thể thiếu—đối với sự phát triển kinh tế của TQ, cần thiết phải ngăn ngừa sự tăng cường quan hệ giữa Đài Loan và các nước ASEAN về vấn đề chủ quyền trên biển đông, và sự can thiệp của các nước lớn nằm ngoài vòng tranh chấp  như Nhật bản hay Mỹ hoặc không để mối liên kết giữa các nước nầy với ASEAN ngày càng gắn bó hơn.

Mở đầu

Vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông mà chủ yếu là quần đảo Trường Sa (Nam Sa quần đảo) vốn là điểm đối đầu nghiêm trọng và ngấm ngầm từ xưa đến nay giữa TQ và các nước ASEAN và cũng là vấn đề bảo đảm an ninh cho eo biển Đài Loan và bán đảo Triều Tiên ở vùng Đông Bắc Á. Năm 1974, TQ đã dùng vũ lực chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa (Paracel) thuộc chủ quyền của Nam Việt Nam, năm 1988 giao chiến với hải quân VN, giết hại 80 binh sĩ để chiếm đóng rặng San hô Johnson thuộc quần đảo Trường Sa. Vào thập kỷ 90, TQ gia tăng việc chiếm giữ các đảo ở quần đảo Trường Sa, năm 1992 lập ra “Luật lãnh hải”, sẵn sàng dùng vũ lực để bảo vệ chủ quyền các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa, năm 1995 tiến chiếm rặng đá ngầm Mischief(Mỹ tế) thuộc chủ quyền của Philippines.

Tuy nhiên kể từ hậu bán thập kỷ 90, thái độ đối phó của TQ về vấn đề nầy đã  thay đối rõ rệt. Nghĩa là từ thái độ cứng rắn không từ nan việc sử dụng vũ lực chuyển sang tư thế hợp tác đối thoại với các nước liên quan để làm lắng dịu vấn đè tranh chấp. TQ đã đồng ý việc thương thảo đa phương như yêu cầu của các nước ASEAN, và đồng ý ký vào “Tuyên bố về hành động của các nước liên quan về vấn đề biển Nam Trung Hoa” vào năm 2002 (Qui tắc ứng xử trên biển đông—ND chú). Vào năm 2005 đã cùng với VN và Philippines bắt đầu điều tra về tài nguyên dưới đáy biển Đông. Với những hợp tác về vấn đề biển Nam Trung Hoa như trên, mối lo ngại về sự uy hiếp của TQ đối với các nước ASEAN dần được giảm bớt. Đến năm 2003 TQ và ASEAN đã kí kết hiệp ước xây dựng quan hệ đối tác chiến lược.

Sự thay đổi về cách đối phó của TQ đối với vấn đề biển Đông đã ảnh hưởng rất lớn đến chính sách đối với TQ của các nước ASEAN cũng như tình hình trên biển Đông vốn là đường thông thương quan trọng và là nhân tố không thể không xét đến khi nghiên cứu về chính sách an ninh quốc phòng và đối ngoại của Nhật Bản. Bài viết nầy một mặt xác nhận lập trường cơ bản của TQ đối với vấn đề biển Đông, rà soát lại những phương thức đối phó của TQ trong thương thảo đối với VN là nước đối đầu mạnh mẽ nhất trong vấn đề nầy (1). Cuối cùng là phân tích những nhân tố gây nên.

AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ (1838) bởi Linh Mục J.L.Taberd

TABULA GEOGRAPHICA EMPERII ANAMITICI (1838)

Trong họa đồ này, ngay điểm của quần đảo Hoàng Sa), linh mục Taberd có ghi chú: Đảo Cát Vàng. Linh mục là người đã viết trong cuốn sách “Univers, Histoire et Description de Tous Les Peuples, de Leurs Religions, Moeurs et Coutumes (1833)” là người Việt Nam gọi đảo Paracel là Cát Vàng (Hoàng Sa).

1. Căn cứ của chủ quyền lãnh hải(*phụ chú)

TQ cho rằng tất cả các quần đảo trên biển Đông như quần đảo Trường Sa (Pratlys—Nam Sa), Hoàng Sa (Paracel—Tây sa), Quần đảo san hô Maccle field(Trung Sa), Platas(Đông Sa) và cả các vùng đặc quyền kinh tế chung quanh đều thuộc lãnh hải của TQ. Về quần đảo TS là nơi xảy ra nhiều tranh chấp về chủ quyền với các nước ASEAN, TQ đã đưa ra 3 căn cứ như dưới đây khi chủ trương nó là của họ (2):

Một là, rằng TQ là nước phát hiện quần đảo Trường Sa sớm nhất. Theo chính phủ TQ, người TQ phát hiện quần đảo TS từ thời Hán, hơn 2000 năm trước. Thời Đông Hán(25-220 năm) Dương Phu đã ghi lại trong “Dị Vật Chí”『異物誌』”biển ở Kỳ Đầu Trương Hải cạn và có nhiều đá ngầm”. “Trương Hải”「張海」là tên gọi biển Nam Trung Hoa của người TQ thời bấy giờ, “Kỳ đầu”「崎頭」là các quần đảo ở biển Đông gồm cả HS và TS,và các rặng đá san hô, bãi cát, đá ngầm…Thời Đường (năm 618-907) hay Đời Tống (960-1279) các thư tịch về địa lí gọi TS và HS là “Cửu Nhủ Lỗ Châu”「九乳螺洲」, Thạch Đường「石塘」, “Trường Sa 「長沙」 、”Thiên lý Thạch Đường” 「千里石塘」 、”Thiên lý Trường Sa”「千里長沙」 、”Vạn lý Thạch Đường 「万里石塘」 、”Vạn Lý Trường sa” 「万里長沙」…

Trong bản đồ trong tập “Bản đồ họa quốc gia-thủ đô các triều đại của “Hỗn Nhất Cương Lịch Đại Quốc Đô Chi Đồ”『混一疆理歴代国都之図』 xuất bản vào thời Minh (1368-1644) có ghi “Thạch Đường”「石塘」 và “Trường Sa” 「長沙」, nhìn vào vị trí của bản đồ nầy thì “Thạch Đường” là đúng ở vị trí của Trường Sa ngày nay. Trong tập “Canh Lộ Mộ”『更路簿』 vào đời nhà Thanh (1636-1911), ngư dân có ghi lại tên gọi và vị trí của các đảo, đá san hô, bãi cát, Than, Châu, trong đó tên gọi số 83 là quần đảo TS(Pratlys).

Hai là, TQ là nước khai thác và kinh doanh đầu tiên quần đảo TS. Lịch sử của những hoạt động của người Hoa ở những quần đảo trên biển Nam Trung Hoa đã có hơn 1000 năm. Trong “Quãng Châu Ký”『広州記』 thời Phổ Đại (năm 265-420) ghi “Huyện San Hô Châu(Đông Viễn) cách 500 lý về phía Nam, người xưa đã bắt cá, san hô”. Trong hiện vật chôn cất tìm thấy ở quần đảo trên biển Đông có cả đồ gốm thời Nam Triều (năm 420-589). Dù muộn đi nữa thì những ngư dân đời nhà Minh đã đến quần đảo TS để đánh bắt hải sản. Trong cuốn “TQ Hải chỉ nam” xuất bản năm 1866 ghi rõ hàng năm vào tháng 12 hoặc tháng giêng, có khoảng 200 tàu đánh cá rời cảng Hải Nam  ra TS để mua hải sản với các ngư dân bản địa và xuôi gió mùa Tây Nam để trở về quê hương.

Ba là, TQ cho rằng họ là người hành xử quyền cai quản sớm nhất đối với quần đảo TS. Theo chủ trương nầy, TQ đã xác định khu hành chính của quần đảo trên biển Nam Trung Hoa từ đời nhà Đường, đặt các quần đảo nầy dưới quyền cai quản dưới chính phủ TQ. Trong “Nguyên Sử” và bản đồ trong “Nguyên Đại Cương Vực Đồ Tự[元代疆域図叙』 thì quần đảo TS thuộc lãnh thổ của nhà Nguyên và có ghi lại việc hải quân của nhà Nguyên đã ra tuần tra quần đảo TS. Trong nhiều bản đồ thời nhà Thanh, vẽ quần đảo TS là một phần nằm trong bản đồ của TQ.

Vào năm 1932 và 1935, Bộ tham mưu, Bộ Ngoại giao, Bộ Hải quân, Bộ Giáo dục và Ủy ban Mông-Tạng của Trung Hoa Dân Quốc xác định 132 tên gọi của các đảo ở biển Nam TH, những đảo nầy được đặt trong quản lý chung của các quần đảo TS, HS, Maccles field bank(Trung Sa), Pratas(Đông Sa) và theo TQ thì quần đảo TS là quần đảo bị NB chiếm đóng đã được trao trả. Trong thế chiến thứ hai, NB đã chiếm đóng quần đảo TS và đã đặt dưới sự cai quản của Đài Loan.  “Tuyên bố Cairo” giữa ba nước Mỹ-Anh-Nga Xô viết  vào năm 1943 qui định “phải trao trả cho TQ (Trung Hoa Dân Quốc) tất cả những khu vực mà NB đã cướp đoạt của nhà Thanh như đảo Bành Hồ, Đài Loan, Mãn Châu” một trong những mục đích chiếm đoạt của cuộc chiến, và“Tuyên bố Postdam” năm 1945 cũng đã xác nhận tương tự. Sau khi NB thua trận, TQ chủ trương rằng Đảo Đài Loan bao gồm cả vùng quản lý trước đây là quần đảo TS đã được trao trả về TQ, vì vậy từ đó chủ quyền của TQ về quần đảo TS nầy đã được khôi phục(3).

2. Mở rộng chiếm đóng bằng vũ lực

Nước CHNDTH cho rằng quyền cai quản quần đảo TS đã được trao trả cho TQ sau khi NB bại trận nhưng trên thực tế quân đội của Trung Hoa Dân Quốc(THDQ) là người đã đứng ra tiếp thu những hòn đảo nầy. Đảo Ba Bình (Itu Aba) là đảo lớn nhất trong quần đảo TS đã được hải quân THDQ tiếp quản từ quân đội NB, và Đài Loan vẫn  cai quản từ đó cho đến ngày nay(4). Sau khi tuyên bố độc lập, TQ không đủ lực lượng hải quân, chẳng có thể tiếp thu các quần đảo trên biển Nam TH. Muốn tiến ra các quần đảo trên biển Nam TH, TQ phải chờ cho đến khi  có một lực lượng hải quân đủ mạnh mới có thể thực hiện được.

TQ bắt đầu tiến quân ra biển Nam TH từ năm 1974 khi tiến hành chiếm đóng quần đảo HS. Sau khi quân Pháp rút lui vào giữa thập kỷ 1950, Nam Việt Nam chủ trương quần đảo HS và TS là của mình và đã chiếm đóng một phần quần đảo TS và một phần phía Tây quần đảo HS, còn TQ chỉ chiếm giữ phía Đông quần đảo HS. Tình huống nầy kéo dài gần 20 năm nhưng đến tháng 1/1974 thì Hải quân TQ đã tấn công vào quân Nam VN và chiếm đóng toàn bộ quần đảo HS (5).

Vào thời kì nầy sự thất trận của Nam Việt Nam đã trở nên rõ ràng, quân Nam VN trên quần đảo HS không đủ sức chống trả lại cuộc tấn công của quân đội TQ, hơn nữa là quân đội Mỹ cũng đã thu hẹp việc chi viện cho quân dội Nam VN vì vậy cho dù TQ có tấn công vào quần đảo HS thì khả năng can thiệp của nước Mỹ hầu như không  thể. Mặt khác TQ đang chi viện cho miền Bắc VN vì vậy miền Bắc cũng không thể phản đối việc quân đội TQ chiếm giữ quần đảo HS. Với bối cảnh quốc tế thuận lợi nói trên , TQ đã ra tay cưỡng đoạt quần đảo HS bẵng quân sự một cách dễ dàng.

Với chiến thắng (cuộc chiến chống Mỹ–ND chú) cuộc nội chiến, chính quyền Hà Nội ra tuyên bố chủ quyền của mình trên hai quần đảo HS-TS, phê phán việc TQ chiếm giữ HS, đặt quần đảo TS của chính quyền Sài gòn cũ dưới quyền kiểm soát của mình. Quan hệ giữa VN-TQ trở nên căng thẳng, chiến tranh Trung-Việt bùng nổ vì vấn đề Cămpuchia. Trong khi quan hệ hai nước dang căng thẳng, vào tháng 3/1988 một lần nữa TQ sử dụng sức mạnh quân sự tiến chiếm một số đảo VN đang trú đóng ở quần đảo TS. Quân VN đã đụng độ với quân TQ ở dãy san hô Johnson thuộc quần đảo TS mà VN đang chiếm giữ, khoảng 80 người bị phía TQ sát hại và bị thương. Với chiến thắng ở dãy san hô Johnson, TQ đã tiến chiếm thêm một số hòn đảo thuộc quần đảo TS. Đây cũng là thời điểm chính quyền Gorbachov ở LX đang xúc tiến chính sách hòa hoãn Đông-Tây theo thuyết ngoại giao mới, tích cực cải thiện quan hệ Xô-Trung. Mặt khác, LX cũng đã giảm bớt sự giúp đỡ cho VN dù vẫn giữ quân hệ đồng minh nhưng không có khả năng tích cực can thiệp vào sự xung đột Trung-Việt chung quanh vấn đề quần đảo TS. Có thể nói rằng TQ đã không có lý do gì để chần chừ trong việc sử dụng sức mạnh quân sự để tái chiếm các đảo nầy.

Bước vào thập ký 1990, TQ đã mở rộng việc lấn chiếm các đảo thuộc quần đảo TS. Ngày 25/2/1992 Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc TQ(quốc hội TQ—ND chú) quyết định “Luật lãnh hải và khu vực tiếp giáp”(gọi tắt là Luật lãnh hải), được ban bố rộng rãi theo chỉ thị của Chủ tịch Nước Dương Thượng Côn. Luật  lãnh hải nầy ghi rõ quần đảo TS là thuộc lãnh thổ của TQ, và rằng để ngăn ngừa tàu bè nước ngoài đi lại gây hại cho lãnh hải, “nước CHNDTH có quyền thực thi mọi biện pháp cần thiết”. Ra Qui định việc “truy đuổi khẩn cấp” những tàu bè nước ngoài vi phạm luật pháp của TQ, trong đó ghi rõ là TQ sẽ sẵn sàng sử dụng cả Tàu chiến lẫn máy bay để đối phó.(6)

Những qui định của Luật lãnh hải của TQ đã gây nên một sự lo lắng cho các nước ASEAN gồm các nước có yêu cầu về chủ quyền trên quần đảo TS. Việc tiến chiếm ở quần đảo trên biển Đông không chỉ nhắm vào VN mà còn có khả năng năng đối phó cả với các nước ASEAN.  Hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 25 ở Manila vào tháng 7/1992 đã ra tuyên bố ASEAN về vấn đề biển Nam TH ” nhấn mạnh đến việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông theo phương pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực, yêu cấu các nước liên quan tự kiềm chế và đề xuất việc cần xây dựng qui ước cho hành động quốc tế trên biển Đông (7).

Tiếp theo những qui định  vế luật lãnh hải của TQ, tháng 5 năm ấy VN đã kí hợp đồng cung cấp quyền thăm dò cho một công ty khai thác dầu mỏ của Mỹ trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình và cam kết sẽ bảo vệ những hoạt động của công ty nầy. Tháng 7 VN đã cho quân đổ bộ lên đảo Gaven(8).

Mối lo ngại của các nước ASEAN về việc TQ mở rộng tiến quân vào biển Đông đã trở thành hiện thực vào năm 1995. TQ đã xây dựng cơ sở kiên cố trên dãy Mischief thuộc chủ quyền của Philippines. Ngày 8/2/1995 Tổng thống Ramos họp báo xác nhận TQ  đã xây dựng nhiều dãy nhà kiên cố trên dãy Mischief và nhiều tàu chiến của TQ trú đóng chung quanh. Chính phủ Philippines đã phản đối thông qua đại sứ quán của TQ nhưng chính phủ cho rằng đó chỉ là những cơ sở tránh bão do ngư dân xây dựng theo chủ trương của chính quyền địa phương, bác bỏ kháng nghị của phía Philippines. Nhằm đối phó với những hành động nêu trên của TQ, hội nghị ngoại trưởng các nước ASEAN đã nhóm họp tại Singapore ra “tuyên bố ngoại trưởng về tình hình gần đây ở biển Nam Trung Hoa”. Trong tuyên bố nầy, các ngoại trưởng ASEAN đã bày tỏ mối “lo ngại sâu sắc” trước một loạt tình huống  gây ảnh hưởng hòa bình và an ninh trên biển Nam TH, yêu cầu nhanh chóng giải quyết vấn đề gần đây ”(9). Nhưng phía TQ không rút quân ra khỏi Mischief, cho quân đội đồn trú thường xuyên và tiếp tục chiếm cứ.

3. Đề xuất “Gác tranh cãi, cùng khai thác chung”

Kể từ thập niên 1970, TQ đã dùng sức mạnh quân sự, sử dụng như một thủ doạn để uy hiếp, để ngày càng mở rộng chi phối trên biển Đông, mặt khác đưa ra phương châm “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” như một chính sách chính thức. Theo giải thích của phía TQ chính sách “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” là phương châm để giải quyết vấn đề chủ quyền trên đảo Senkaku với Nhật Bản và đó là đề xuất của Đặng Tiểu Bình (10)

Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình sang thăm Nhật Bản vào tháng 10/1978, trong buổi hội đàm với Thủ tướng Fukuda Takeo, Ông nói rằng không cần phải gấp vội giải quyết vấn đề chủ quyền các đảo Senkaku, giao cho các thế hệ tương lai tìm ra được phương cách giải quyết. Tháng 5 năm sau (1979 Đặng Tiểu Bình lại phát biểu trong lần Nghị sĩ Suzuki Zenko sang thăm TQ rằng có thể tính đến việc  khai thác  chung nguồn tài nguyên chung quanh quần đảo Senkaku, không đụng đến vấn đề chủ quyền. Tháng 6 năm 1980, TQ chính thức đưa ra đề nghị cùng khai thác tài nguyên ở chung quanh quần dảo Senkaku thông qua con đường ngoại giao. Đây là lần đầu tiên TQ công bố lập trường muốn giải quyết việc tranh chấp lãnh thổ và quyền lợi trên biển với các nước chung quanh theo mô hình “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác”.

Năm 1986, TQ nói rằng cũng có thể áp dụng phương thức “Gác lại tranh cãi, cung nhau khai thác” trong vấn đề tranh chấp lãnh hãi ở biển Nam Trung Hoa. Phó tổng thống Raul của Philippines hội đàm với Đặng Tiểu Bình khi sang thăm TQ vào tháng 6/1986, ĐTB nói “Chúng ta phải gác lại vấn đề Nam Sa, không thể để cho vấn đề nầy cản trở quan hệ hữu nghị giữa TQ với Philippines hay các nước khác”, nhấn mạnh đến việc cần phải gác lại vấn đề chủ quyền. Tháng 4/1988 ĐTB còn nói với Tổng thống Akino lúc bà sang thăm TQ rằng “Khi nghĩ đến quan hệ hữu nghị giữa hai nước, chúng tôi thấy cần phải gác lại một thời gian vấn đề nầy để tìm con đường cùng khai thác”, chính thức đề nghị “gác lại những điểm khác nhau, cùng nhau khai thác”. Tuy nhiên cùng lúc ĐTB vẫn không quên nhấn mạnh chủ quyền của TQ đối với quần đảo TS.

Theo Bộ Ngoại Giao TQ, nội dung của chủ trương “gác lại tranh cãi, cung nhau khai thác” gồm 4 điểm như sau:

(1)Chủ quyền lãnh thổ của các khu vực liên quan là thuộc về TQ

(2)Khi chưa có đủ điều kiện để giải quyết toàn diện vấn đề tranh cãi về chủ quyền lãnh thổ, thì tạm ngưng tranh luận, gác lại vấn đề nhưng điều nầy không có nghĩa là TQ từ bỏ chủ quyền lãnh thổ.

(3)Có thể khai thác chung ở vùng có tranh chấp về chủ quyền.

(4)Mục đích của việc khai thác chung là nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau thông qua hợp tác, tạo điều kiện để giải quyết rốt ráo vấn về chủ quyền lãnh thổ.

Giải thích nầy cho thấy tiền đề lớn của phương châm “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” là thừa nhận  TQ vẫn có chủ quyền ở những quần đảo đang  tranh chấp. Nếu hiểu đúng thì phương châm “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” của TQ có nghĩa là  “chủ quyền là thuộc về TQ, không tranh cãi, cùng nhau khai thác”(Chủ quyền thuộc ngã, cách trí tranh luận, cộng đồng khai thác 主権属我、擱置争議、共同開発)(11)

Có thể nói, như vậy mục tiêu cuối cùng của “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác”nhằm tạo điều kiện để buộc các nước phải chấp nhận chủ quyền ở những đảo đang tranh chấp thông qua việc thực hiện “cùng nhau khai thác”. Chúng tôi không cho rằng mối quan tâm của TQ về thực chất là đặt nặng đến những lợi ích thực tế trong việc khai thác chung .

4.Thương thảo song phương Việt-Trung

Quan hệ Trung-Việt được bình thường hóa vào tháng 1/1991 mặc dù vào thời điểm nầy ngoài việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, còn tồn tại những mâu thuẩn về đường phân giới trên vịnh Bắc Bộ và trên đất liền. Trong bản thông cáo chung liên quan đến việc bình thường hóa quan hệ hai nước, bày tỏ ”Hai bên đông ý tiếp tục những biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và ổn định khu vực biên giới giữa hai nước, khôi phục sự qua lại hữu nghị truyền thống của nhân dân quanh vùng biên giới, thúc đẩy làm phát triển hơn nữa biến biên giới  Trung-Việt thành biên giới hòa bình và hữu nghị” đồng thời nhất trí rằng “ về vấn đề lãnh thổ tồn tại giữa hai nước, hai bên sẽ thông qua đàm phán để giải quyết một cách hòa bình”(12)

Trong bản tuyên bố chung không hề đề cập đến vấn đề cụ thể như vấn đề chủ quyền Quần đảo TS hay đường biên giới trên Vịnh Bắc Bộ, có thể cho rằng hai nước Trung-Việt đã không đạt đến một sự thỏa thuận nào cụ thể về vấn đề chủ quyền lãnh thổ-lãnh hải. Có thể nói điểm đột phá trong quan hệ Trung-Việt là chuyến đi thăm TQ của TBT Lê Khả Phiêu vào tháng 2/1999. TBT Giang Trạch Dân lúc hội đàm với TBT Lê Khả Phiêu sang thăm “hữu nghị chính thức” đã đánh giá cao ” Việc giao lưu và hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và quân sự đã phát triển không ngừng và ngày càng được củng cố”,  nói rằng ”TQ muốn xây dựng một quan hệ hợp tác toàn diện, láng giềng hữu nghị, ổn định lâu dài hướng tới tương lai”(16 chữ vàng—ND chú)

Về động thái mới của TQ trong vấn đề biển Nam TH, và những vấn đề còn tồn tại giữa hai nước “Việc giải quyết nhanh chóng vấn đề lãnh thổ và biên giới giữa hai nước là hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước. Sự phát triển sâu đậm của quan hệ hợp tác toàn diện láng giềng hữu nghị Trung-Việt và nhận thức chung của lãnh đạo hai nước sẽ tạo điều kiện tốt đẹp để hai nước giải quyết các vấn đề lịch sử  để lại. Nếu hai bên  xuất phát từ đại cuộc  theo quan điểm  chiến lược và hữu nghị để tăng tốc quá trình đàm phán trên tinh thần “hiệp thương hữu nghị, công bằng hợp lý, nhường nhịn lẫn nhau” thì có thể tin tưởng rằng chắc chắn sẽ hoàn thành sứ mệnh lịch sử to lớn và vinh quang”. TBT Lê Khả Phiêu đã đáp lại rằng hai nước sẽ xây dựng  một đường biên giới hòa bình, hữu nghị ổn định, giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước một cách nhanh chóng với sự nổ lực chung và trách nhiệm cao” (13).

Bàn thông cáo chung Trung-Việt được công bố sau cuộc hội đàm đánh giá chuyến đi thăm TQ của TBT Lê Khả Phiêu đã đóng góp quan trọng trong việc xây dựng một quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước và hai Đảng trong thế kỷ 21, tích cực đem lại hòa bình, ổn định và phát triển cho khu vực” và ghi rõ hai bên đã “nhất trí xây dựng quan hệ hợp tác toàn diện, láng giềng hữu nghị lâu dài và ổn định hướng đến tương lai trên cơ sở nhận thức chung của lãnh đạo hai Đảng và hai nước Trung –Việt”. Hơn thế nữa hai nước còn xác nhận việc giải quyết một cách hòa bình vấn đề biên giới, cho biết “sẽ kí kết hiệp ước về biên giới trên đất liền trong năm 1999 và trong năm 2000 sẽ giải quyết đường phân giới trên vịnh Bắc Bộ thể hiện quyết tâm xây dựng đường biên giới giữa hai nước thành đường biên giới hòa bình ổn định và phát triển  ”

Với sự thỏa thuận nầy của lãnh đạo hai nước, tháng 12/1999 TQ và VN đã lần lượt kí kết “Hiệp ước cắm mốc biên giới trên đất liền”, tháng 12/2000 “Hiệp định về đường phân chia ở thềm lục địa, vùng biển đặc quyền kinh tế và lãnh hải trên Vịnh Bắc Bộ” và “Hiệp định hợp tác về nghề cá trên Vịnh Bắc Bộ”. Như vậy các vấn đề cơ bản được gác lại lúc bình thường hóa quan hệ thì hai vấn đề liên quan đến chủ quyền đã được giải quyết, riêng tranh chấp về chủ quyền trên biển Đông thì chưa đạt được thỏa thuận, vẫn đang được hai nước thương thảo. Dù vậy có thể nói quan hệ hợp tác giữa hai nước phát triển rất nhanh trong những năm gần đây. Sự hợp tác trên vịnh Bắc Bộ là một thí dụ cụ thể.

Các quần đảo trên biển Đông

Hơn thế nữa, để tránh việc tàu đánh cá nhỏ vượt đường biên, đụng độ gây xung đột, hai bên còn lập ra “khu vực tranh xung đột tàu thuyền nhỏ” không dùng vũ lực bắt giam, xử phạt các tàu đánh cá cở nhỏ vi phạm. Từ tháng 1/2006 hai bên tiến hành điều tra chung về nguồn tài nguyên ngư nghiệp ngoại vi trên vịnh Bắc Bộ.

Vịnh Bắc bộ là vùng rất giàu tài nguyên ngư nghiệp, những cuộc đụng độ trên ngư trường nầy giữa ngư dân hai nước không lúc nào ngưng. Trong cuộc đàm phán về hiệp định phân chia ranh giới ở Vịnh Bắc Bộ, từ quan điểm bảo vệ lợi ích thiết thực cho ngư dân nước mình, phía TQ đòi hỏi phía VN phải cùng lúc kí kết hiệp định hợp tác về nghề cá và cuối cùng hai bên đã đạt đến việc kí kết hai hiệp ước xác định đường phân chia ranh giới trên Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác về nghề cá cùng lúc. Điểm chủ yếu của Hiệp định hợp tác về nghề cá việc đặt ra “khu đánh cá chung ngoài biên giới”. Hai nước đồng ý xác định vùng biển rộng 33,000 cây số vuông tiếp giáp vùng biển đặc quyền kinh tế (EEZ) theo qui định của Hiệp định đường ranh giới, là “khu đánh cá chung ngoài biên giới”. Khu đánh cá chung nầy có thời hiệu là 12 năm và sau thời hiệu nầy sẽ tự động gia hạn trong mỗi 3 năm. Ủy ban hỗn hợp Trung Việt về nghề cá trên Vịnh Bắc Bộ được thành lập hằng năm xác định số thuyền đánh bắt của hai bên trong vùng biển đánh cá chung. Hai nước đã có thể thực hiện việc giám sát, quản lý chung ở vùng biển thuộc lãnh hải của nhau tính từ đường ranh giới vào vùng biển nước mình. Phát xuất từ thực tế khó có thể đuổi ngư dân TQ ra khỏi vùng biển thuộc lãnh hải VN, ngoài khu đánh bắt chung nêu trên, hai nước còn đặt ra “vùng biển đệm trên đường biên giới” cho phép tàu đánh của TQ được phép khai thác trong 4 năm (**xem phụ chú).

Vấn đề hợp tác nghề cá trên vịnh Bắc Bộ giữa TQ-VN diến ra thuận lợi, việc hợp tác tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động trong khu vực nầy cũng diến ra tích cực. Vào tháng 9/2006 Hai nước Trung-Việt đã triển khai hoạt động điều tra chung lần đầu tiên về “khu đánh bắt chung”. Tại hoạt động kiểm tra chung nầy đội tàu kiểm soát của TQ và đội tàu cảnh sát biển của VN đã kết hợp thành một biên đội đi vào vùng đặc quyền kinh tế của nhau để kiểm tra hoạt động đánh bắt của tàu đánh cá nước mình. Tháng 4/2006 hải quân của hai nước cũng đã bắt đầu tuần tra chung trên biển  thuộc vịnh Bắc Bộ. Đây là hành động dựa trên đề xuất của phía VN.Hai nước đã kí kết ”Hiệp định tuần tra chung ở vịnh bắc Bộ của hải quân Trung-Việt” vào tháng 10/2005. Đây cũng là lần đầu tiên hải quân của TQ tiến hành tuần tra chung với hải quân của nước ngoài cho thấy quan hệ hữu nghị hợp tác hải quân của hai nước Trung-Việt ngày càng thắt chặt hơn. Hơn thế nữa TQ và VN bắt đầu tiến hành việc khai thác chung nguồn khí đốt thiên nhiên và dầu mỏ vắt ngang đường ranh giới giữa hai nước trên vịnh Bắc Bộ.

Bản đồ 1: Khu vực ngoài của Vịnh Bắc Bộ

Cuối năm 2005, Tổng công ty Dầu hỏa Hải dương TQ và Công ty Dầu hỏa Việt nam đã kí kết “hiệp định khung hợp tác khí đốt thiên nhiên và dầu hỏa trên Vịnh Bắc Bộ”. Việc hợp tác kinh tế giữa hai nước Trung-Việt đang phát triển theo những dự án có qui mô rộng lớn  hơn vịnh Bắc Bộ. “Một vòng đai hai hành lang” kinh tế là dự án hợp tác kinh tế có qui mô như vậy. Tháng 10/2004 Thủ tướng Ôn Gia Bảo sang thăm VN, đã hội đàm với TBT Nông Đức Mạnh. Bản tuyên bố chung Trung Việt ghi rõ rằng “Trong khuôn khổ của Ủy ban hợp tác mậu dịch và kinh tế của chính phủ hai nước,(lãnh đạo hai nước) đã đồng ý thiết lập nhóm chuyên gia để tích cực nghiên cứu  khả năng xây dựng  hai hành lang kinh tế một vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ, “Côn Minh-Lao Cai-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh” và “Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng- Quảng Ninh”(16)

Theo bản tuyên bố chung nầy hai con đường thông thương giữa Côn Minh (tỉnh Vân Nam) và Khu Dân tộc tự trị Choang ở Nam Ninh thuộc Tỉnh Quảng Tây với Quảng Ninh sẽ được nối kết là bước cụ thể hóa dự án xây dựng vòng đai kinh tế bao quanh Vịnh bắc Bộ. Một Ủy ban chỉ đạo hợp tác giữa hai nước Trung-Việt đã được thiết lập vào tháng 1/2006 để làm phát triển sâu đậm hơn nữa việc hợp tác kinh tế hai nước TQ-VN, Lần họp lần thứ nhất của Ủy ban nầy đã diến ra tại Hà Nội với sự chủ trì của Ủy viên quốc vụ viện Đường Gia của TQ và Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Gia Khiêm. Ủy ban chỉ đạo hợp tác nhắm tăng cường chỉ đạo vĩ mô của cơ chế hợp tác hiện có, thống nhất toàn thể chương trình hợp tác của các ngành, các cấp của hai nước, giải quyết các vấn đề nẩy sinh nghiêm trọng trong quá trình hợp tác và quyết định về nguyên tắc mỗi năm sẽ nhóm họp một lần. Về Ủy ban chỉ đạo hợp tác nầy, Ông Đường Gia đánh giá cao rằng “Việc lập ra Ủy ban chỉ đạo hợp tác ở cấp cao nầy là một quyết định chiến lược trong tầm nhìn xa vào tương lai của lãnh đạo hai nước, hai Đảng trong tình hình mới, làm tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác nhằm tiến tới một quan hệ hợp tác toàn diện mạnh mẽ và lâu dài, láng giềng thân thiện hữu nghị Trung Việt”(17)