Anhbaque’s Blog

Just another WordPress.com weblog

Archive for May, 2010

HCM-Một cuộc đời (Chương 5)

Posted by anhbahoa on May 3, 2010

HỒ CHÍ MINH-MỘT CUỘC ĐỜI

CHƯƠNG V

GƯƠM THẦN

Trên chuyến tau tới Hồng Công nhìn những cánh đồng lúa xuân xanh mơn mởn, Nguyễn Aí Quốc chắc đang có những suy nghĩ lẫn lộn về tình cảnh hiện tại của mình. Kết quả hai năm làm việc của ông tại Quảng Châu của ông là dáng hài lòng xét về một số mặt. Ông đã xây nên những nền tảng vững chắc cho một đảng Cộng sản tương lai ở Đông Dương và đã đào tạo gần một trăm chiến sĩ tận tâm, một số đã trở về ba kỳ của Việt Nam để xây đựng một mạng lưới cách mạng. Tuy nhiên, vụ tấn công phủ đầu của Tưởng Giới Thạch vào đảng Cộng sản Trung Quốc ở Quảng Châu là một bước thụt lùi nghiêm trọng cho tổ chức non trẻ này. Việc tiếp tục hoạt động của Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam ở miền nam Trung Quốc giờ rất khó khăn, và đại bản doanh cũng phải rời đi nơi khác. Bản thân ông cũng đã bắt đầu một cuộc hành trình vào nơi vô định, và các mối liên lạc của ông đối với các cộng sự chắc sẽ bị cắt đứt, có thể là trong nhiều năm.

Nguyễn Aí Quốc (vẫn hoạt động dưới cái tên Lý Thụy) ban đầu có thể hi vọng ở lại Hồng Công, thuộc địa của Anh, trong một thời gian dài để duy trì liên lạc với các thành viên khác của Hội và tìm một địa điểm mới để đặt đại bản doanh. Nhưng nhà chức trách địa phương nghi ngờ giấy tờ tùy thân của ông nên đã ra lệnh cho ông phải rời khỏi Hồng Công trong vòng 24 giờ. Ngày hôm sau, ông đi bằng tàu biển đến Thượng Hải. Thành phố thương mại khổng lồ này vẫn còn kinh hoàng sau vụ “khủng bố trắng” của Tưởng Giới Thạch tháng trước nhằm vào các phần tử cộng sản ở trong vùng. Để tránh bị phát hiện, Nguyễn Aí Quốc thuê một phòng ở một khách sạn đắt tiền và ăn mặc như một nhà tư sản giàu có. Tiền bạc cũng nhanh chóng cạn kiệt nhưng cuối cùng ông cũng lên được tàu đi Vơ-la-đi-vô-xtốc.

Tại Vơ-la-đi-vô-xtốc, đại bản doanh của các hoạt động cách mạng ở vùng Viễn Đông, Nguyễn Aí Quốc đã gặp lại người bạn cũ, Giắc-cơ Đô-ri-ô, một ngôi sao đang lên của Đảng Cộng sản Pháp. Ông cũng gặp Gri-gô-ry Voi-tin-xki, nhân viên Quốc tế Cộng sản III, người đã xúc tiến việc thành lập phong trào Cộng sản ở Trung Quốc. Đô-ri-ô đề nghị ông trở về châu Âu và sau đó về Xiêm để cố gắng gây dựng lại phong trào ở Đông Dương với sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Pháp và những nhà hoạt động của Hội tại đó. Voi-tin-xki gợi ý rằng ông trở lại Thượng Hải để làm việc với các binh lính Việt Nam đóng tại tô giới của Pháp tại thành phố này.

Nguyễn Aí Quốc lắng nghe Voi-tin-xki một cách lịch sự, nhưng ông nghiêng mạnh về đề nghị của Đô-ri-ô. Thực tế, trước khi rời khỏi Quảng Châu, ông đã kết luận rằng ông chỉ có hai sự lựa chọn – ở lại Trung Hoa với rủi ro bị bắt giữ hay sang Xiêm để khôi phục liên lạc với phong trào ở Đông Dương láng giềng. Ông đi tàu tới Mát-xcơ-va và tới nơi vào đầu tháng 6. Ở đó, ông gửi một yêu cầu đến Văn phòng Viễn Đông, lập luận rằng ông muốn sang Xiêm hơn là quay trở lại Trung Hoa. Ông nói, nhiệm vụ quan trọng nhất là củng cố phong trào bên trong Đông Dương vì tin tức về các sự kiện gần đây ở Trung Hoa rõ ràng đã làm người ta nản lòng. Ông thấy rằng mình có thể gây ảnh hưởng đến các sự kiện ở Đông Dương từ Xiêm hiệu quả hơn là từ Thượng Hải.

Trong yêu cầu gửi cho Văn phòng Viễn Đông, Nguyễn Ái Quốc nói rằng ông xin kinh phí cho chuyến đi Xiêm, và từ đó đến Đông Dương để “thời gian lưu lại ở thuộc địa này khoảng hai năm”. Trong khi chờ đợi quyết định của Quốc tế Cộng sản III, ông được chỉ định giữ một vị trí tạm thời ở đại bản doanh của Quốc tế Cộng sản III, và trong lúc nhàn rỗi, ông viết một số bài báo cho đăng trên tờ Inprecor về hoàn cảnh ở Đông Dương. Sau một thời gian nghỉ ở nhà điều dưỡng tại Ép-pa-to-ri-a, gần Cơ-rưm trên bờ biển Đen, nơi ông được điều trị một chứng bệnh chưa được biết đến, ông nhận được Trường Xta-lin chấp thuận lập một bộ phận riêng cho các sinh viên Việt  Nam, những người trước đó đã được sắp xếp để gửi đi học từ Quảng Châu. Trong số năm học viên hiện đang ở Mát-xcơ-va có Trần Phú, một chiến sĩ trẻ mạnh mẽ có nét mặt thanh người gốc Quảng Ngãi. Là con của một viên quan triều đình, Trần Phú theo học tại trường Quốc học Huế và gia nhập một trong những đảng quốc gia chủ nghĩa ở miền Trung Việt Nam. Được các đồng sự gửi sang Quảng Châu để đàm phán với Nguyễn Ái Quốc để lập một liên minh, ông quyết định gia nhập Hội và được cử đi Mát-xcơ-va năm 1927 và ở đó ông sớm tạo được ấn tượng với sự thông minh xuất chúng và tận tụy của mình.

Tháng 11 năm 1927, Nguyễn Ái Quốc nhận được hồi âm từ phía Quốc tế Cộng sản III đối với đề nghị đi công tác của mình. Thay vì đi Xiêm, ông được chỉ thị đi Pháp để giúp đỡ Đảng Cộng sản Pháp soạn thảo một chương trình hành động hữu hiệu để xây dựng một phong trào cách mạng ở Đông Dương, không những chỉ trong số những người Việt sống tại Pháp, mà còn bằng việc thiết lập một cơ sở ở Xiêm hoặc nơi khác trong khu vực. Tuy nhiên, không có khoản kinh phí nào dành cho việc ông trở về châu Á trong tương lai.

Trên đường trở về Pháp, ông dừng lại ít lâu ở Béc-lin, nơi ông giúp các đồng chí Đức tại đó thiết lập một chi nhánh Liên đoàn chống đế quốc, một tổ chức vỏ bọc cho các hoạt động của Liên Xô ở nước ngoài. Sau đó, ông tiếp tục sang Pa-ri bằng một tên giả, nơi ông báo cáo với đại bản doanh của Đảng Cộng sản Pháp ở Mông-mác-tơ. Đảng Cộng sản Pháp không dành cho ông việc gì cũng như không giúp đỡ ông về tài chính, điều đó rõ ràng làm ông bực mình. Trong thư gửi một đồng sự ở Mát-xcơ-va tháng 5 năm đó, ông bày tỏ sự thất vọng đối với việc Đảng Cộng sản Pháp tiếp tục không giải quyết các vấn đề thuộc địa. Mặc dù thừa nhận rằng Đảng Cộng sản Pháp đã dành một sự chú ý nào đó cho các vấn đề thuộc địa, ông phàn nàn rằng hầu hết các tiến bộ mới chỉ đạt được trên giấy. Để chứng minh cho quan điểm của mình, ông dẫn kinh nghiệm của bản thân: “Trong thời gian một tháng rưỡi tôi ở Pa-ri, Đô-ri-ô đang bị cầm tù và tôi không có cơ hội để nói chuyện với những người khác. Tôi thường xuyên đề nghị có một địa chỉ để tôi có thể liên lạc với họ sau khi tôi trở về Viễn Đông, nhưng họ từ chối. Họ nói rằng Ban Thuộc địa có ngân sách cho các hoạt động liên quan đến thuộc địa, nhưng tôi được biết là ngân sách đó trống rỗng. Tôi cho rằng các khoản tài chính của Ban Thuộc địa cần phải được điều tra và Ban này cần phải thường xuyên báo cáo cho các đồng chí khác về hoạt động và kế hoạch của mình. Hơn nữa, ủy ban phải tổ chức các phương tiện hữu hiệu hơn để liên lạc với người của chúng tôi ở Đông Dương để tôi có thể giữ liên lạc được với họ”.

Nguyễn Aí Quốc có thể có ý định ở lại pháp cho đến khi ông có được khoản tài chính cho việc trở về châu Á, nhưng những người quen cảnh báo ông rằng mật thám đã nghe được tin đồn ông đã trở về Pháp và đang tăng cường các nỗ lực để tìm ông. Vào đầu tháng 12, ông đi Bỉ để dự một cuộc họp của hội đồng chấp hành của Liên Đoàn chống đế quốc. Không có tư liệu nói về việc ông phát biểu công khai tại hội nghị, nhưng ông đã tận dụng cơ hội để làm quen với một số đại biểu tại hội nghị, trong đó có các nhân vật theo chủ nghĩa dân tộc như Su-ca-no của In-đô-nê-xi-a, Mô-ti-la-la Nê ru (bố đẻ của thủ tướng tương lai Gia-oa-hác-lơn Nê-ru) của Ấn-Độ và vợ góa của Tôn Dật Tiên, bà Tống Khánh Linh. Ông cũng nối lại tình bạn với nhà cộng sản Nhật Ka-ta-y-a-ma Sen, người ông biết tại Pa-ri và Mat-xcơ-va. Vào một thời điểm quan trọng sau này, bà Tống là người đặc biệt hữu ích đối với ông.

Sau khi hội nghị kết thúc vào giữa tháng 12, Nguyễn Aí Quốc về Pháp ở một thời gian ngắn, và sau đó đi tàu hỏa đến Béc-lin. Khi đến nơi, ông viết một bức thư cho Thô-mát Đôm-ban ở Mat-xcơ-va, giải thích rằng ông hi vọng được trở về Đông Dương trong vòng hai hoặc ba tuần và đề nghị Quốc tế nông dân cung cấp tài chính cho việc đi lại cũng như các kế hoạch hành động để giúp cho công việc tương lai của ông. Nhưng trong thư trả lời của Đôm-ban, lá thư mãi đến đầu tháng giêng mới tới nơi, lại không có cam kết gì về đề nghị giúp đỡ tài chính của ông, lấy lý do là ông ta không biết rõ về tình hình ở Đông Dương, Đôm-ban gợi ý với ông rằng trước tiên nên chuyển hướng sang nhiệm vụ huy động nông dân ở các tỉnh ở các tỉnh ở cả hai phía của biên giới Trung Hoa, tổ chức các hội nông dân và tiến hành tuyên truyền, nhưng ông ta không đả động gì đến khả năng trợ giúp tài chính.

Trong vòng vài tháng tiếp theo, Nguyễn Ái Quốc ở lại Béc-lin trong khi chờ đợi một câu trả lời rõ ràng cho đề nghị của ông. Để hạn chế chi tiêu đến mức tối đa, ông sống cùng với một người quen là đảng viên của Đảng Cộng sản Đức. Ông viết báo về nhiều chủ đề, trong đó có một bài về phong trào Xô-viết Ha Lu Feng của Peng Pai ở tỉnh Quảng Đông, và đưa ra kế hoạch viết một cuốn hồi ký về những kinh nghiệm của ông khi làm việc với phong trào nông dân ở Trung Hoa. Trong một bức thư gửi một đồng chí ở Mát-xcơ-va, ông ước tính rằng cuốn sách sẽ vào khoảng 120 trang và chia làm 5 phần. Tuy nhiên, vào tháng 4, tiền nong cạn kiệt, ông ngày càng trở nên sốt ruột và gửi thư khẩn cho Văn phòng Viễn Đông báo cáo về tình hình của mình. Lá thư có vẻ ngắn, nhưng diễn cảm:

“Do không thể làm việc ở Pháp, chẳng có ích gì ở Đức, nhưng ở Đông         Dương lại cần đến, nên tôi đã yêu cầu trơ về đó. Trong lúc bức thư gửi các đồng chí tôi đã đưa ra số tiền chi phí đi lại và làm việc. Khi Đô-ri-ô ghé qua Béc-lin, ông ta hứa sẽ chú ý đến tình hình của tôi. Tôi nói với ông ta rằng nếu không có kinh phí để hoạt động, tối thiểu cũng phải cấp cho tôi chi phí đi lại để tôi có thể đi, vì hơn một năm qua, tôi đã lang thang không mục đích từ nước này sang nước nọ trong khi ở Đông Dương  lại có rất nhiều việc phải làm. Nhưng cho đến bây giờ, tôi vẫn không nhận được chỉ thị nào từ các đồng chí hoặc trả lời tử Đô-ri-ô. Bây giờ tôi đang ở một tình thế khó khăn 1) chờ đợi vô thời hạn (chờ chỉ thị đã bốn tháng), 2) không có tiền để sống, nên tôi đã nói với MOPRE (cơ quan thuộc Quốc tế Công sản III được chỉ thị giúp đỡ các đồng chí cách mạng) nhưng họ nói rằng họ không thể cung cấp tài chính vô tận cho tôi, chỉ có mười tám mác một tuần (số tiền đó     không đủ để sống ). Vậy chỉ thị hãy cho tôi càng  sớm càng tốt tôi phải làm gì và khi nào tôi có thể đi.”

Hai tuần sau, cuốc cùng ông cũng nhận được một bức thư từ Mát-xcơ-va cho phép ông trở về Đông Dương, với tiền đi lại và ba tháng tiền thuê phòng và tiền ăn do Đảng Cộng sản Pháp cung cấp. Giữa tháng 5, ông viết thư cho Văn phòng Viễn Đông nói rằng ông đã được phép đi và sẽ đi vào cuối tháng.

Cuối tháng 6, Nguyễn Ái Quốc rời Béc- lin và đi bằng tàu hỏa sang Thụy Sĩ đến I-ta-li-a. Nhiều năm sau, ông nhớ lại chuyến đi:

“Khi (tôi) yêu cầu cấp giấy phép đi qua I-ta-li-a, chính phủ phát xit hỏi rất nhiều câu hỏi phức tạp. Tại biên giới, lính biên phòng tra cuốn từ điển Chống Quốc tế Cộng sản III gồm hai nghìn trang, trong đó cung cấp tên của các nhà cách mạng của tất cả các nước từ A đến Z, họ không thấy tên tôi ở đó nên cho phép tôi đi qua.”

Đi qua Mi-lan, ông tiếp tục hành trình đến Rô-ma, nơi ông bị đưa đến đồn cảnh sát, bị thẩm vẫn, và (theo chính ông kể lại) bị đánh đến gần như bất tỉnh. Sau đó, tên chỉ huy hỏi cung bắt tay ông và mời ông hút thuốc, sau đó tiếp tục hỏi cung. Với những người thiếu kinh nghiệm, Nguyễn Ái Quốc sau này cảnh báo người đọc, rất dễ rơi vào bẫy của bọn tư bản. Sau khi được thả, ông tiếp tục đến Napoli, nơi ông đáp một chuyến tàu biển Nhật Bản để đi Xiêm vào cuối tháng 6.

Nguyễn Ái Quốc đến Băng – cốc vào khoảng tháng 7 năm 1928. Bởi vì Xiêm không phải là thuộc địa của châu Âu và có một xã hội tương đối ổn định, chính phủ cho phép người nước ngoài đi lại khá tự do, kể cả nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc nổi tiếng Vương quốc này cũng có khá nhiều người Việt Nam sinh sống (người Việt Nam hải ngoại được người Việt Nam gọi là Việt kiều), hầu hết sống ở vùng đồng bằng khô ráo ở Khô-rát, miền Đông Bắc của nước này. Ở miền Đông Bắc, các đảng viên của Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam, theo mệnh lệnh của ông, đã bắt đầu thiết lập một chi nhánh hoạt động trong cộng đồng Việt kiều. Điều có ý nghĩa là chỉ đi bộ khoảng 2 tuần từ Đông Bắc Xiêm qua núi Trường Sơn là đến miền Trung Việt Nam.

Người Việt Nam chống thực dân đã sử dụng khu vực này như một thánh địa trong nhiều năm. Hầu hết trong số hơn hai mươi nghìn người Việt Nam sống ở Xiêm thời đó là người di cư đến Xiêm hồi đầu thế kỷ. Nhiều người đã ủng hộ phong trào Cần Vương và phong trào chống thuộc địa của Phan Bội Châu. Sau khi một số các môn đồ của mình bắt đầu định cư ở đó, ông Châu thăm Băng-cốc năm 1908 và đề nghị chính phủ hoàng gia cho phép họ được làm nghề nông. Nhiều quan chức Xiêm không tin người Pháp và có cảm tình với sự nghiệp của người Việt Nam, nên họ đã chấp thuận đề nghị của ông và một trang trại của người Việt Nam đã được lập nên ở Phi-chít, ở thung lũng Chao Phơ-rây-a phía Bắc Băng-cốc. Vài năm sau, Quang phục Hội của ông Châu đã thiết lạp một chi nhánh ở Xiêm, và một số người Việt Nam cấp tiến, trong đó có những thành viên tương lai của Hội như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái, đã qua đất Xiêm sang Trung Hoa. Sau khi đến Quảng Châu từ Mát-xcơ-va năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã bắt đầu các kế hoạch thiết lập một cơ sở của Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam tại khu vực này. Năm 1925, Hồ Tùng Mậu đã được cử sang đó để thiết lập bốn chi nhánh, tại Phi-chít và ở các cộng đồng người Việt tại Na-khôn Pha-nôm, U-đôn Tha-ni và Sa-côn Na-khôn ở vùng Đông Bắc. Ở đây, cộng đồng được tổ chức chặt chẽ, các hợp tác xã đã được thiết lập để tiến hành việc canh tác và sản xuất vì lợi ích chung.

Tháng 8 năm 1928, một người Việt Nam mặc bộ quần áo địa phương giản dị và tự nhận là cậu Chín đột nhiên tới Ban-đông, huyện Phi-chít, khoảng hai trăm dặm phía Bắc Băng-cốc. Làng này có khoảng hơn hai chục gia đình Việt Nam, và một chi nhánh của Hội đã được lập tại đó năm 1926. Người lạ mặt ở lại làng khoảng hai tuần, thăm từng gia đình một và thông báo cho họ tình hình thế giới và các điều kiện ở Đông Dương.

Tháng 12, sau khi đi đến kết luận rằng cộng đồng ở đó quá nhỏ, không thể làm căn cứ hoạt động được, Nguyễn Ái Quốc (vẫn đang mang tên Cậu Chín) rời Ban-đông và đi U-đôn Tha-ni ở Đông Bắc. Chuyến đi gian khổ đó mất mười lăm ngày, trong đó có mười ngày đi bộ theo đường rừng. Những người trong nhóm mang theo đồ dự phòng và hành lý riêng. Thoạt tiên, Cậu Chín gặp khó khăn và bị tụt lại sau những người khác, chân ông trầy da, thở gấp. Nhưng bằng nghị lực, ông vẫn quyết tâm đi, vào cuối chuyến đi, ông đã cho thấy bản lĩnh của mình và có những ngày đi được 70 cây số.

U-đôn là một thị trấn lớn hơn nhiều so với Ban-đông, và có cộng đồng người Việt lớn hơn và là đầu mối giao thông thuận tiện với các trung tâm đô thị khác ở vùng đồng bằng Khô-rát. Vì vậy, chi nhánh địa phương của Hội thiết lập năm 1926 trở thành đại bản doanh cho mọi hoạt động của Hội ở Xiêm. Vẫn mang tên Cậu Chín (chỉ một số nhỏ các thành viên của cộng đồng người Việt biết tên thật của ông), ông đã chỉ ra cho các cộng sự cần thiết phải mở rộng tổ chức và xây dựng một cơ sở quần chúng cho Hội bằng cách kêu gọi tập hợp toàn bộ dân cư địa phương chứ không chỉ các thanh niên cấp tiến.

Nguyễn Ái Quốc ở lại U-đôn vài tháng, đề xuất các thay đổi trong thói quen làm việc và sinh sống của các đồng bào mình. Hầu hết người Việt ở Đông Bắc Xiêm là tiểu thương và thợ thủ công, những người không quen lao động nặng nhọc. Ít ai có mối liên hệ với dân cư địa phương hoặc có học tiếng Thái. Ông đã rất nỗ lực để thay đổi những thói quen này, cố gắng làm gương bằng cách tham gia lao động nặng nhọc (khi chính phủ cho phép thành lập trường học địa phương, ông đã giúp xây trường bằng cách khuân gạch). Các buổi tối, ông nói chuyện với dân làng về các sự kiện trên thế giới và tình hình ở Đông Dương. Cộng đồng người Việt địa phương đã dần dần cải thiện mối quan hệ với cư dân Thái-lan ở các khu vực lân cận bằng cách đào giếng, đốn cây và xây trường học. Bản thân ông cũng cố gắng học tiếng Thái, đặt ra thời khóa biểu chặt chẽ phải nhớ được mười từ mỗi ngày và đã xây dựng các trường học cho cư dân Việt Nam để học tiếng Thái và đề cao các phong tục địa phương. Ông quả quyết với đồng bào mình rằng người Xiêm thông cảm với cuộc đấu tranh ở Đông Dương, vì Xiêm tồn tại được như là một quốc gia độc lập nhờ có có sự rộng lượng nhân từ của các nước thực dân trong khu vực.

Nguyễn Ái Quốc cũng bắt đầu có các bước để nâng cao nhận thức chính trị đồng bào mình, viết các bài thơ và vở kịch miêu tả một cách sống động việc Việt Nam bị mất độc lập vào tay người Pháp. Hoạt động dưới cái lốt Hiệp hội Thân ái, một tổ chức đã được các đảng viên của Hội lập ra trong khu vực, ông di chuyển liên tục, lập các chi bộ mới cho các hoạt động của Hội từ Mu-kha-han ở miền Đông đến Nông Khai, nơi chỉ vượt qua sông Mê-công là đến thủ đô hành chính Viêng Chăn của Lào. Để nâng cao hiệu quả tuyên truyền của Hội, ông tổ chức lại tạp chí tiếng Việt địa phương Đồng thanh, đặt tên mới là Thân ái, và đơn giản hóa văn phong để làm cho người đọc địa phương dễ đọc hơn.

Đầu năm 1929, Nguyễn Ái Quốc đi Sa-kon Na-khon, nơi có nhiều người Việt hơn ở U-đôn. Tuy nhiên, theo sự hồi tưởng của các thành viên của Hội sống tại khu vực, Việt kiều tại Sa-kon Na-khon có giác ngộ chính trị kém hơn ở U-đôn. Nhiều người theo Thiên Chúa giáo, những người khác theo Phật giáo hoặc thờ anh hùng quân sự Việt Nam truyền thống Trần Hưng Đạo.

Nhận thấy nhiều người vẫn còn đi cúng ở các đền địa phương để chữa bệnh, ông đã giới thiệu y học hiện đại với họ và mời các bác sĩ về khu vực này khám bệnh. Tuy nhiên, ông không ngần ngại sử dụng các tín ngưỡng địa phương cho các mục tiêu của mình và viết lời cho các bài hát về Trần Hưng Đạo: “Tại đền Diên Hồng và trước các thánh thần chúng tôi cầu khấn, Nhân dân, tất cả một lòng, tất cả quyết tâm, Và bất kỳ ai muốn cướp nước Việt Nam Phải giết hết chúng ta đến người cuối cùng Chừng nào chỉ còn một người Việt Nam còn lại trên mảnh đất này Non sông Việt Nam vẫn còn là tổ quốc của chúng ta.”

Các nhà chức trách Pháp không biết hành tung của Nguyễn Ái Quốc trong suốt hai năm sau khi ông rời Quảng Châu tháng 5 năm 1927. Tuy nhiên, các báo cáo phỏng đoán rằng ông đã ở Mát-xcơ-va, và cuối cùng mật vụ cũng khẳng định được rằng ông đã ở Pa-ri trong một thời gian ngắn cuối năm 1927. Nhưng họ mất dấu vết của ông sau khi ông rời khỏi Brúc-xen tháng 12 năm đó. Tuy nhiên, năm 1928 và 1929, họ có nghe tin đồn rằng ông đang có mặt ở Xiêm và về một người lạ mặt đi quanh các làng Việt kiều ở miền Đông của Xiêm. Ông phải rất thận trọng trong các hành động của mình; cả người Pháp và chính phủ triều đình Huế đều đang tìm kiếm ông. Ngày 10 tháng 10 năm 1929, một tòa án ở Vinh đã kết án tử hình vắng mặt ông về tội xúi giục bạo loạn ở An Nam. Trong hồi ký của mình, ông viết rằng người Pháp biết ông đang ở Xiêm, nhưng vì họ không biết chính xác ông ở đâu, họ đã phái cảnh sát đến để tìm kiếm ông. Có một dịp, ông đã bị đuổi gấp và phải trốn vào trong một ngôi chùa, cắt tóc ngắn để cải trang.

Trong khi Nguyễn Ái Quốc trên đường đến Xiêm, các cộng sự của ông ở nam Trung Hoa phải rất vất vả để duy trì được hoạt động của Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam. Hầu hết các thành viên của tổ chức đã bị bắt, nhưng lại nhanh chóng được thả và cố gắng nối lại các hoạt động của mình ở Quảng Châu dưới sự lãnh đạo của Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu. Tuy nhiên, họ đã chuyển đại bản doanh sang một thung lũng gần phố Ren Xing, gần cửa Da Dong và vị trí ban đầu của viện đào tạo. Tháng 12 năm 1927, các nhà hoạt động tuyệt vọng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tiến hành một cuộc nổi dậy ở thành phố. Một số thành viên của Hội đã tham gia cuộc nổi dậy này và một vài người đã bị lính Quốc dân Đảng giết khi chính phủ đến đàn áp. Những người khác, trong đó có Lê Hồng Sơn, bị bắt và bị bỏ tù vì tội lật đổ. Nhưng các nhà chức trách Quốc dân Đảng không thể chứng minh được tội của họ trước tòa, do vậy những người bị giam giữ cuối cùng cũng được thả, mặc dù họ bị buộc rời khỏi Trung Hoa. Trong khi đó, Hồ Tùng Mậu đã chuyển đại bản doanh của Hội sang Hồng Công, nơi Hội tạm thời bị mất liên lạc với Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc tế Cộng sản III ở Mát-xcơ-va.

Mặc dù có những thất bại đó, vào đầu năm 1928, Hội trở thành một cơ sở đã được định hình của phong trào kháng chiến Việt Nam. Hội đã mở rộng mạng lưới của mình ở trong nước, và tiếp tục đàm phán với các đảng dân tộc chủ nghĩa phi cộng sản để thành lập một mặt trận thống nhất chế độ thuộc địa của Pháp. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán với các nhóm dân tộc chủ nghĩa khác vẫn thường xuyên bị bao trùm bởi sự nghi ngờ lẫn nhau và các khó khăn  nảy sinh từ việc Hội luôn khăng khăng rằng tất cả các đảng phái khác đặt dưới sự lãnh đạo của Hội. Tháng 12 năm 1927, một đảng mới tên là Việt Nam Quốc dân Đảng (VNQDĐ) đã được những người dân tộc chủ nghĩa cấp tiến ở Hà Nội đã được thành lập. Mặc dù đảng mới có cùng tên với tổ chức lưu vong của Phan Bội Châu ở Trung Hoa, tổ chức hiện gần như không còn tồn tại, đảng này là một nhóm riêng biệt, bao gồm các giáo viên và nhà báo trẻ ở Bắc Kỳ và miền Bắc Trung Kỳ. Trong những tháng sau khi thành lập, VNQDĐ đã đàm phán với Hội. Một lần, đảng này thậm chí còn cử đại diện sang Xiêm để đàm phán với các đại diện của Hội, nhưng các đại diện của Hội đã không đến gặp. Tuy nhiên, cũng có những khác biệt lớn về ý thức hệ: các nhà lãnh đạo VNQDĐ đi theo hướng chủ nghĩa xã hội trung dung, lấy “ba nguyên tắc của nhân dân” của Tôn Dật Tiên làm cương lĩnh chính thức của mình, phản đối khái niệm đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác. Ở mức độ chiến thuật cũng có sự khác biệt, vì các nhà lãnh đạo của VNQDĐ khăng khăng giữ quyền lãnh đạo của tổ chức mình ở trong nước. Kết quả là sự cạnh tranh giữa hai nhóm này trở nên gay gắt.

Ngoài các khó khăn để đạt được một lập trường chung với các nhóm chống thực dân khác ở Việt Nam, Hội cũng bắt đầu gặp phải các rạn nứt nội bộ sâu sắc. Mặc dù Hội đã trở thành một lực lượng năng động nhất trong số các phong trào dân tộc chủ nghĩa Việt Nam, tuyển mộ được nhiều người từ cả ba kỳ cũng như trong số Việt kiều ở nước ngoài, phía sau vẻ bề ngoài đó đã bắt đầu có sự bất bình. Hội đã xây dựng với hai cương lĩnh cạnh tranh lẫn nhau, với các mâu thuẫn tiềm tàng do người này sáng lập đầy mưu mẹo, Nguyễn Ái Quốc khéo léo điều chỉnh. Mặc dù có nguồn động viên là khát vọng độc lập dân tộc, Hội dưới sự lãnh đạo của ông có cam kết thực hiện các mục tiêu quốc tế của chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít. Đối với một người Mác-xít, xung đột cơ bản của xã hội hiện đại bắt nguồn từ sự bất bình đẳng giữa các dân tộc bị áp bức và những nước bóc lột họ. Tuy nhiên, việc tuyên truyền của Hội lại tập trung chủ yếu vào vấn đề độc lập dân tộc, và đặc điểm của những người ủng hộ Hội cũng có xu hướng phản ánh một thực tế là nhiều thành viên của Hội từng là đảng viên của các đảng dân tộc chủ nghĩa khác chuyển sang.

Nguyện vọng của Nguyễn Ái Quốc vận dụng luận cương của Lê-nin kết hợp hai vấn đề về chủ nghĩa dân tộc và đấu tranh giai cấp trong điều kiện ở Đông Dương tiếp tục được phản ánh trong sự chỉ đạo ngay sau khi ông rời Quảng Châu mùa xuân năm 1927. Nhưng trong khi một số người kế cận của ông, như các thành viên cựu trào của Tâm Tâm Xã là Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn rõ ràng là đã say mê chủ nghĩa Mác, những thành viên cựu trào khác như Lâm Đức Thu lại theo xu hướng chủ nghĩa dân tộc. Rạn nứt trở nên rõ ràng vào mùa xuân năm 1928, khi Hội tổ chức một cuộc họp không chính thức tại nhà riêng của Lâm Đức Thu tại Hồng Công. Tại cuộc họp, ông Thu tiếp quản vị trí lãnh đạo của tổ chức và đã thông qua một cương lĩnh nhấn mạnh chủ nghĩa dân tộc hơn là cách mạng xã hội.

Trong ba năm tồn tại đầu tiên của Hội, đấu tranh giữa chủ nghĩa dân tộc và cách mạng xã hội đã được kiềm chế. Nhưng sau cuộc họp ở Hồng Công, mâu thuẫn đã nổ ra công khai, và cuối cùng dẫn đến sự phá hủy Hội. Trước tiên, sự bất bình tập trung quanh nhóm lãnh đạo của Ủy ban khu vực của Hội ở Bắc Kỳ; bí thư thứ nhất của Ủy ban Trần Văn Cung. Là một người gốc Nghệ An và là một đảng viên cũ của Đảng Cách mạng Tân Việt, người đã tham gia cuộc nổi dậy năm 1927 ở Quảng Châu và ngồi tù một thời gian ở nhà tù Trung Hoa, ông Cung đã dự cuộc họp tại nhà của Lâm Đức Thu và thất vọng với điều mà ông cho là sự ủy mị về ý thức hệ của đường lối mà ban lãnh đạo mới của Hội đưa ra. Ông không tin là chủ đề về độc lập dân tộc và lòng yêu nước sẽ nhận được sự ủng hộ của nông dân nghèo và công nhân. Ông thấy cần phải giải quyết các lợi ích kinh tế thiết thực của họ. Lập luận của ông Cung không được hoan nghênh lắm tại cuộc họp. Khi quay về Hà Nội, ông thuyết phục các đảng viên khác thuộc ủy ban khu vực Bắc Kỳ về tính đúng đắn của quan điểm của mình và họ bắt đầu lên kế hoạch ứng phó.

Mối lo ngại của họ là thành phần hội viên của tổ chức. Theo quan điểm của ông Cung, Hội không có những nỗ lực đúng mức để nhận vào hội viên thuộc giai cấp vô sản tuy còn ít ỏi nhưng đang gia tăng. Nhà tổ cwhcs công nhân Tôn Đức Thắng là một ngoại lệ. Sau khi làm thợ máy hải quân ở Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông quay về Đông Dương để lập nên một hội của những người bốc vác ở Sài Gòn, và một vài công đoàn “đỏ” đã được thành lập trong các nhà máy ở các thành phố công nghiệp miền Trung Việt Nam. Tuy nhiên, ở các nơi khác, rất ít công nhân được kết nạp vào Hội. Việc kết nạp tiếp tục chủ yếu là do các hoạt động của các học viên, những người thuộc tầng lớp gia đình trí thức trở về từ Trung Hoa. Họ đã nhân rộng sự ủng hộ đối với phong trào trong bạn bè và người thân.

Giống như vậy, hoạt động của các đảng viên của Hội tại các khu vực nông thôn tương đối ít, mặc dù một số hội nông dân đã được thành lập năm 1928. Thậm chí dù các cuộc bạo động chống Pháp đã nổ ra ở các khu vực nông thôn kể từ khi bị Pháp chiếm vào cuối thế kỷ trước, Hội cũng không có các nỗ lực lớn để xây dựng cơ sở ở ngoài các thành phố. Đa số các hội viên của Hội (mật vụ ước tính khoảng 90 phần trăm) xuất thân từ giai cấp tư sản thành thị.

Bất bình thứ hai đối với Trần Văn Cung và các cộng sự của ông là thái độ chậm trễ của giới lãnh đạo Hội trong việc hướng tới thành lập một Đảng Cộng sản, một quyết định mà họ thấy vô cùng cần thiết để củng cố  các nền tảng ý thức hệ của phong trào cách mạng Việt Nam. Theo ông Cung, khi ông đưa vấn đề này ra tại cuộc họp tháng 5 năm 1928 ở Hồng Công, Lâm Đức Thu đã né tránh bằng một câu đơn giản “để xem”.

Những bất bình cấp tiến như vậy rõ ràng đã xuất hiện trước khi triệu tập Đại hội lần thứ VI của Quốc tế Cộng sản III ở Mát-xcơ-va vào mùa hè năm 1928. Tuy nhiên, Đại hội tổ chức lần đầu tiên kể từ năm 1924 khi đó Nguyễn Ái QUốc cũng tham dự, rõ ràng đã tăng thêm sức nặng cho những lời bất bình trên, vì các quyết định đưa ra tại Mát-xcơ-va báo hiệu sự chuyển hướng lớn trong chiến lược toàn cầu của chủ nghĩa cộng sản. Thất vọng với những diễn biến tại Trung Hoa, nơi mà liên minh Lê-nin-nít giữa những người cộng sản và những người dân tộc chủ nghĩa đã chấm dứt bằng cuộc thảm sát đẫm máu các nhà hoạt động của Đảng Cộng sản Trung Quốc và do các cân nhắc chính trị trong nước phải áp dụng một đường lối tả khuynh hơn trong các vấn đề đối nội, Giô-sép Xta-lin (người đã tranh giành với Li-ông Tờ-rốt-xki quyền lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô) thúc ép các đại biểu tại Đại hội từ bỏ chiến lược một mặt trận thống nhất rộng lớn mà Đại hội II đưa ra tám năm về trước. Các Đảng Cộng sản ở các nước trong các khu vực thuộc địa được chỉ thị từ chối liên minh với các đảng tư sản dân tộc chủ nghĩa với lý do là những người tư sản bản địa đã quay lưng lại với cách mạng và không thể là liên minh đáng tin cậy của giai cấp vô sản. Thêm vào đó, bản thân các Đảng Cộng sản phải thanh lọc các phần tiểu tư sản và “bôn-sê-vích hóa”. Thực tế, điều này có nghĩa là cần phải tăng đại diện của giai cấp công nhân trong đó tất cả các tổ chức cộng sản và phải tiến hành các phong trào chỉnh đốn Đảng để loại bỏ những phần tử không trong sạch. Các đảng viên có nguồn gốc trung lưu cần phải qua một quá trình “vô sản hóa” (thông thường, điều đó có nghĩa khoác áo công nhân và tìm việc tại các nhà máy) để tăng nhận thức của họ về quan điểm của giai cấp vô sản.

Dưới sức ép của Xta-lin, Đại hội VI tuyên bố rằng một làn sóng cách mạng mới sắp trào dâng trong khi sự bất ổn kinh tế ngày càng tăng ở châu Âu cho thấy nguy cơ của một cuộc suy thoái mới trên thế giới. Các tổ chức cộng sản và ủng hộ cộng sản trên khắp thế giới được chỉ đạo phải làm hết sức mình không những để nâng cao khả năng đáp ứng với bất bình ngày càng tăng trong xã hội của mình mà còn khuyến khích nâng cao giác ngộ cách mạng bằng cách tổ chức các cuộc đình công và biểu tình quần chúng trong công nhân và nông dẫn nghèo và thành lập cơ sở Đảng tại các nhà máy, trường học và làng mạc, tất cả đều nhằm chuẩn bị cho một cao trào cách mạng trong tương lai.

Vì chưa phải là một Đảng Cộng sản chính thức nên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên không có đại diện chính thức tại Đại hội VI nhưng ba người Việt Nam đã dự Đại hội với tư cách là đại biểu của Đảng Cộng sản Pháp. Trong số đó có Nguyễn Văn Tạo, người gốc Nghệ An, bị đuổi học ở Sài Gòn vì tham gia các hoạt động cấp tiến thời kỳ giữa những năm 1920 và sau đó bí mật sang Pháp. Tại đại hội này, với tên gọi mới là An, ông đã trình bày một bài phát biểu chính. Ông lập luận rằng mặc dù có một số người cho rằng Việt Nam chưa sẵn sàng cho việc thành lập một Đảng Cộng sản nhưng trên thực tế trong nước hiện đã có một giai cấp vô sản, tuy ít ỏi nhưng đang trên đà gia tăng và rất cần có một Đảng Cộng sản, bởi tầng lớp tư sản trong nước không thể lãnh đạo cách mạng. Trên thực tế, những tổ chức “cách tân quốc gia” như Đảng Duy Tân và Đảng An Nam độc lập (do Nguyễn Thế Truyền, một thời là cộng sự của Nguyễn Ái Quốc thành lập tại Pa-ri) là “cực kỳ nguy hiểm” vì các tổ chức này ủng hộ việc người Pháp rút lui hòa bình khỏi Đông Dương, và điều đó có thể làm giảm sự ủng hộ rộng rãi cho một cuộc cách mạng xã hội chân chính. Sau khi Đại hội VI kết thúc, Quốc tế Cộng sản đã gửi một chỉ thị bí mật thông qua Đảng Cộng sản Pháp đến Hội để hướng dẫn hoạt động của Hội trong tương lai.

Những quyết định của Đại hội VI tới Việt Nam vào cuối năm đã làm gay gắt thên cuộc tranh luận và tăng quyết tâm của nhóm cấp tiến ở Bắc Kỳ chuyển Hội thành một Đảng Cộng sản đặt trọng tâm nhiều hơn vào ý thức hệ. Đứng đầu những người có tâm trạng bức xúc vẫn là Trần Văn Cung, người đã từng làm công nhân tại một nhà máy và kinh nghiệm của ông cho thấy nếu thiếu những khẩu hiệu yêu nước rõ ràng thì không thể thuyết phục những người công nhân thành thị ủng hộ Hội. Đảng phải chú trọng đến những vẫn đề quan trọng nhất đối với công nhân như tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc, giảm giờ làm để có sự ủng hộ mạnh mẽ của người lao động. Và ông có cảm giác là điều này sẽ không thực hiện được nếu không chuyển Hội thành một Đảng Cộng sản thực sự.

Vấn đề này đã trở thành vấn đề nổi bật tại Đại hội chính thức đầu tiên của Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng ở Hồng Công năm 1929. 17 đại biểu đã có mặt tại đại hội đại diện cho 1.200 thành viên trong đó có 800 của Bắc Kỳ, 200 của Trung Kỳ và 200 của Nam Kỳ. ngay sau khi đến nơi Nguyễn Văn Cung đã gặp ngay Lê Hồng Sơn yêu cầu giải tán Hội để thay bằng một Đảng Cộng sản. Lê Hồng Sơn không hoàn toàn bác bỏ đề nghị đó. Ngay từ đầu đã là một thành viên của nhóm cộng sản của Nguyễn Ái Quốc tại Việt Nam và là một trong những nhân vật gây ấn tượng nhất của phong trào, ông Sơn tất nhiên trung thành với việc nhất thiết phải chuyển Hội thành một tổ chức Mác- xít Lê-nin nít vững chắc. Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau, Đại hội này chưa phải là thời điểm thích hợp để đưa ra một quyết định như vậy. Thứ nhất, như ông đã nói chuyện riêng với Trần Văn Cung, nhiều đại biểu đến dự đại hội tại Hồng Công hoặc là không có sự tinh tế chính trị hoặc là không có đủ sự cấp tiến để có thể trở thành những đảng viên thực thụ của một đảng mới. Thứ hai, việc thành lập một Đảng Cộng sản tại Đại hội Hồng Công tất nhiên sẽ do chính quyền Trung Hoa tại tỉnh Quảng Đông bên cạnh chú ý và khuyến khích họ gia tăng các biện pháp trấn áp Hội. Lê Hồng Sơn khuyên là nên thận trọng và nên bắt đầu một quá trình chuyển đổi dần dần và kín đáo để biến Hội thành một tổ chức có thể thực hiện hiệu quả hơn những chỉ đạo của Đại Hội VI của Quốc tế Cộng sản.

Tuy nhiên, ông Cung cứng rắn vẫn kiên quyết đưa vấn đề ra thảo luận tại Đại hội. Khi ông và những đại biểu khác của Bắc Kỳ chính thức đưa vấn đề ra trước đại hội, họ thấy người phản đối chủ yếu là Chủ tịch Lâm Đức Thu, người tiếp tục phản đối việc thành lập một Đảng Cộng sản và nói rằng đề nghị này là không thể thực hiện được. Trong lúc tức giận, Trần Văn Cung và tất cả đại biểu Bắc Kỳ, trừ một người đã rời đại hội, tuyên bố họ sẽ quyết tâm thành lập một đảng gồm những người cùng lý tưởng với họ khi trở lại Việt Nam. Ngay khi về đến Hà Nội, họ đã thành lập một tổ chức mới có tên là Đông Dương Cộng sản Đảng và bắt đầu đấu tranh với Hội trong việc thu hút đảng viên mới và nói rằng Hội chỉ gồm toàn những người “cách mạng giả hiệu” không bao giờ nỗ lực vì các tầng lớp vô sản hoặc tuân thủ Quốc tế Cộng sản.

Trong khi đó, những đại biểu còn lại cố giải quyết rạn nứt đó. Hầu hết đều thông cảm với lập trường của Trần Văn Cung về mặt nguyên tắc nhưng lại ngần ngại lên tiếng chống lại người đồng sự cao niên Lâm Đức Thu. Sau việc ra đi của các đại biểu Bắc Kỳ, đại hội đã dự thảo một chương trình hành động và nghị quyết trong đó nêu rõ Đông Dương cần có một Đảng Cộng sản nhưng thời gian chưa chín muồi bởi tầng lớp lao động của Việt Nam chưa có sự tinh tế về chính trị và thiếu hiểu biết về lý luận cách mạng. Sau khi thông qua nghị quyết, các đại biểu chính thức yêu cầu Quốc tế Cộng sản công nhận và sau đó bế mạc Đại hội.

Tranh chấp nhanh chóng chuyển từ một cuộc khủng hoảng thành một sự lố bịch. Trong những tháng sau Đại hội, Đông Dương Cộng sản Đảng (CPI) bắt đầu thuyết phục các thành viên của Hội rút khỏi Hội, buộc lãnh đạo ở Hồng Công phải nhận ra rằng họ đã gây ra một sai lầm chiến thuật nghiêm trọng khi không nhận ra được mức độ ủng hộ việc cần có một Đảng Cộng sản trong hàng ngũ của Hội và ở Việt Nam. Vào tháng 8 khi được trả tự do ở Quảng Châu, Hồ Tùng Mậu và Lê Quang Đạt đã trở về Hồng Công và được sự đồng ý của Lê Quang Sơn họ đã quyết định thành lập một Đảng Cộng sản bí mật của riêng mình nằm trong khuôn khổ của Hội gọi là An Nam Cộng sản Đảng (ACP) bao gồm những thành viên tiến bộ nhất của Hội. Ban chấp hành là một “chi nhánh đặc biệt” bao gồm Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Quang Đạt và hai người khác. Vì nhóm đó không tin tưởng Lâm Đức Thu nên ông không được tham khảo ý kiến trong vấn đề này.

Tại Nam Kỳ, những cơ sở đầu tiên của Đảng mới đã được thành lập vào tháng tám năm 1929 và chính tại đây, dù mang tên An Nam Cộng sản Đảng, Đảng vẫn thu hút đảng viên mới một cách có hiệu quả. Nhưng sự rạn nứt trong nội bộ phong trào vẫn chưa được hàn gắn. Cùng tháng đó, Hồ Tùng Mậu đã gửi một bức thư cho Trần Văn Cung và lãnh đạo Đông Dương Cộng sản Đảng gợi ý rằng những đại biểu của hai Đảng nên gặp nhau tại Quảng Châu để thảo luận việc hợp nhất lại. Nhưng những nhà lãnh đạo của Đông Dương Cộng sản Đảng trả lời một cách khinh khỉnh rằng họ không thể dự được vì “quá bận”. Thất vọng, Hồ Tùng Mậu đã đề nghị Quốc tế Cộng sản hỗ trợ thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất: “Nếu chúng ta không chú ý đến việc thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất ngay lập tức tôi sợ rằng chúng ta sẽ rơi vào tình trạng có hai đảng riêng biệt, một ở miền Bắc và một ở miền Nam. Một khi cùng có hai đảng được thành lập ở Việt Nam thì rất khó có thể thống nhất được. Đến lúc đó làm thế nào chúng tao có thể dựa vào Quốc tế Cộng sản III để giải quyết vấn đề? Chúng ta tự giải quyết vấn đề này có tốt hơn không?”

Những đảng viên cấp tiến của Tân Việt Cách mạng Đảng tại miền Trung Việt Nam đã làm cho tình hình phức tạp hơn khi họ vào cuộc. Trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm giữ chân những đảng viên của mình, nhiều người đã đi theo những Đảng đối địch, họ đã đổi tên tổ chức của mình thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Vì vậy, ngoài Hội lúc đó gần như đã không còn tồn tại, ở Đông Dương thuộc Pháp có ba Đảng Cộng sản. Chính vào lúc này, Lê Hồng Sơn vẫn còn ở Hồng Công và biết được Nguyễn Ái Quốc đang ở Phi-chít. Là người sáng lập ra Hội và là người lãnh đạo của Hội được tất cả mọi người kính trọng, Nguyễn Ái Quốc có thể sử dụng tài đàm phán xuất chúng của mình để tìm ra một con đường giải quyết vấn đề. Ông Sơn đã chỉ thị cho một cộng sự, ông Lê Huy Diệm, sang Xiêm tìm Nguyễn Ái Quốc và đề nghị ông trở về Hồng Công giúp gỡ rối tình hình mà không báo cho Lâm Đức Thu. Cuối tháng tám, ông Diệm rời Hồng Công.

Phản ứng của Mát-xcơ-va đối với những sự kiện rắc rối diễn ra tại Việt Nam là có thể dự đoán được. Ngày 27 tháng 10, Quốc tế Cộng sản đã gửi một chỉ thị nghiêm khắc cho ban lãnh đạo An Nam Cộng sản Đảng chỉ trích tổ chức đã không ngăn chặn được sự chia rẽ giữa các lực lượng cách mạng ở Việt Nam thành ba phe đối lập. Theo Quốc tế Cộng sản việc thiếu một đảng thống nhất vào thời điểm đầy hứa hẹn này đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản và là “hoàn toàn sai lầm”. Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản đã công khai ủng hộ nhóm của Trần Văn Cung ở Hà Nội và khẳng định rằng những điều kiện khách quan cho một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã hiện hữu ở Việt Nam và rằng “việc không có một Đảng Cộng sản trong khi phong trào công nhân và nhân dân đang phát triển là rất nguy hiểm đối với tương lai trước mắt của cách mạng Đông Dương”. Hội đã bị phê bình vì đã tỏ ra “thiếu quyết đoán và hờ hững” và vì không cố gắng nhiều hơn nữa để kết nạp thêm công nhân Việt Nam. Cuối cùng, Mát-xcơ-va kết luận rằng “nhiệm vụ quan trọng và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản tại Đông Dương là việc thành lập một đảng cách mạng mang những đặc trưng giai cấp của những người vô sản, đó chính là một Đảng Cộng sản của quảng đại quần chúng ở Đông Dương”. Để tháo gỡ những khó khăn trước mắt, Quốc tế Cộng sản đề nghị triệu tập một cuộc họp dưới sự chủ tọa của một đại diện của Quốc tế Cộng sản được cử đến với tư cách là người trung gian hòa giải.

Lời kêu gọi cấp thiết phát đi từ Mát-xcơ-va rõ ràng đã mạnh mẽ hơn do những sự kiện xảy ra tại thế giới tư bản, khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ sự thất bại trong ngành ngân hàng Áo ngày càng trầm trọng. Khi tin tức về sự sụp đổ đột ngột cảu thị trường chứng khoán Nưu Ước lan đến Liên Xô, ban lãnh đạo Xô-viết chắc hẳn đã tin rằng sự tan rã được dự đoán từ lâu của hệ thống tư bản chủ nghĩa cuối cùng đã tới.

Trong suốt thời gian còn lại của nwam 1929, ba nhóm tiếp tục tranh chấp với nhau từ việc cạnh tranh thu hút thêm đảng viên mới đến việc chỉ trích lẫn nhau (từ hay được dùng nhất là “Men-sê-vích”, trước đây được dùng để chỉ những đối thủ tương đối cấp tiến của Lê-nin trong phong trào cách mạng của Nga trước cách mạng Bôn-sê-vích). Một bức thư của nhóm ông Cung tố cáo An Nam Cộng sản Đảng và Hội là phản cách mạng và phải bị giải tán và sáp nhập vào Đông Dương Cộng sản Đảng. Nếu Quốc tế cộng sản nhất quyết đòi thống nhất phong trào thì các nhà lãnh đạo Đông Dương Cộng sản Đảng sẽ đồng ý nhưng chỉ rõ những khó khăn có thể nảy sinh. Từ Hồng Công, Hồ Tùng Mậu, đại diện của An Nam Cộng sản Đảng, cố gắng xoa dịu các đối thủ của mình, lập luận rằng thành phần của Hội vào mùa xuân năm 1929 còn quá hỗn tạp, khó có thể thành lập một Đảng Cộng sản chính thức; vì nhiều thành viên của Hội còn thiếu những phẩm chất cách mạng của một người cộng sản, việc gợi ý thành lập Đảng Cộng sản vào thời điểm đó sẽ là một việc làm dại dột. Ông cũng cảnh báo rằng nếu đơn giản chỉ thành lập một Đảng Cộng sản bí mật được người ta dán cho mác “bôn-sê-vích” thì về nguyên tắc đó cũng chỉ là bình mới rượu cũ.

Nhưng Đông Dương Cộng sản Đảng không sẵn sàng thỏa hiệp. Đầu tháng 10, Đảng này nhắc lại yêu cầu đòi Hồ Tùng Mậu phải giải tán hoàn toàn Hội. Ông Cung cho rằng ông và những cộng sự của mình đã nhận thấy rằng tại hội nghị tháng năm, chỉ có họ là muốn thành lập một đảng bí mật. Họ đã đề nghị “ghi vào lịch sử cách mạng rằng Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên không phải là cộng sản, và làm cho nhân dân thấy được sự khác nhau giữa Hội và những người cộng sản thực sự”. Khi Hội nghị bác bỏ đề nghị của họ, họ quyết định ra khỏi Hội và thành lập một tổ chức của riêng mình. Nhằm tìm kiếm một giải pháp cho sự chia rẽ này, ông Cung đề nghị rằng bất kỳ cá nhân nào với đầy đủ phẩm chất cách mạng đều có thể gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng. Những người khác có thể đợi và gia nhập sau. Ông cũng nói rằng Đông Dương Cộng sản Đảng sẵn sàng hợp tác với Việt Nam Quốc dân Đảng trên cơ sở tạm thời nhưng vẫn coi Việt Nam Quốc dân Đảng là tổ chức dân tộc chủ nghĩa đơn thuần. Hợp tác chỉ có thể có nếu Việt Nam Quốc dân Đảng chấp nhận không phản đối việc Đông Dương Cộng sản Đảng tìm cách lôi kéo các đảng viên của Đảng này về với Đông Dương Cộng sản Đảng. Đối với khả năng Nguyễn Ái Quốc có thể trở về Hồng Công tìm cách hợp nhất, ông Cung tuyên bố một cách khó hiểu rằng “nếu ông ấy trở về, chúng tôi sẽ theo ông ấy cũng như theo các ông”.

Cuối tháng 10, Đông Dương Cộng sản Đảng cử một đại diện là ông Đỗ Ngọc Du đến Hồng Công theo yêu cầu của ông Hồ Tùng Mậu để gặp lãnh đạo An Nam Cộng sản Đảng nhằm đạt một giải pháp không có sự can thiệp từ bên ngoài. Nhưng ông Du, có lẽ theo lệnh cấp trên, vẫn khăng khăng cho rằng có thể hợp nhất An Nam Cộng sản Đảng trước tiên phải giải tán, và các đảng viên sau đó có thể gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng với tư cách cá nhân. Chẳng có gì ngạc nhiên khi các đại biểu An Nam Cộng sản Đảng từ chối đề nghị này.

Trong khi tranh chấp vẫn tiếp tục, lãnh đạo An Nam Cộng sản Đảng ở Hồng Công chờ đợi chuyến thăm của thanh tra viên mà Quốc tế Cộng sản đã nhắc tới trong bức thư ngày 27-10. Họ đã được một đồng sự ở Mát-xcơ-va thông báo qua thư rằng họ chưa thể gia nhập Quốc tế Cộng sản chứng nào việc thanh tra chưa được hoàn tất. Thực ra, Văn phòng Viễn Đông (còn gọi là Văn phòng Viễn Đông, FED) mới mở một văn phòng chi nhánh ở Thượng Hải mùa thu năm 1928, vừa quyết định thành lập một cơ cấu mới để điều phối mối quan hệ với các tổ chức cộng sản trong khu vực. Kế hoạch này kêu gọi thành lập một tổ chức mới có tên là Liên đoàn các nhóm cộng sản Insulinde đóng trụ sở tại Xin-ga-po. Tất cả các tổ chức Cộng sản ở châu Á hiện chưa thuộc một đảng quốc gia (thí dụ như những tổ chức còn non nớt ở Đông Nam Á, bao gồm cả Đông Dương) sẽ được đặt dưới sự kiểm soát của tổ chức này, còn bản thân tổ chức này sẽ chịu sự kiểm soát trực tiếp của một “ban thư ký của các dân tộc bị áp bức ở phương Đông” thuộc Văn phòng Viễn Đông ở Thượng Hải. Rõ ràng, lãnh đạo An Nam Cộng sản Đảng được biết về kế hoạch này vào khoảng mùa thu; một bức thư do Hồ Tùng Mậu viết vào giữa tháng cho thấy một đại biểu Trung Hoa trên đường từ Xin-ga-po tới Thượng Hải để thảo luận về kế hoạch này đã dừng chân ở Hồng Công ngày 2-11 và cho họ biết về dự án đó. Tuy nhiên, những người Việt Nam lại không thích ý tưởng này. Đảng Cộng sản Nam Dương được thành lập ở Xin-ga-po vào giữa những năm 1920 và được cho rằng sẽ chỉ đạo văn phòng khu vực mới ở đó, chủ yếu bao gồm những Hoa kiều từ Xin-ga-po và chịu sự giám sát của trụ sở Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Thượng Hải. Như vậy, trên thực tế, phong trào cách mạng Việt Nam sẽ bị đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong con mắt nhiều đồng chí Việt Nam, các nhà cách mạng Trung Hoa có xu hướng tập trung chủ yếu vào những mục tiêu của riêng họ và thường có thái độ trịch thượng đối với các hoạt động các dân tộc khác. Lê Hồng Sơn cử Lê Quang Đạt tới Thượng Hải để lập luận cho việc An Nam Cộng sản Đảng phải là một đảng quốc gia đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Văn phòng Viễn Đông.

Ngày 16-12-1929, ông Hồ Tùng Mậu cùng một cộng sự đã gặp một đại diện  Quốc tế Cộng sản đang ở Hồng Công trong chuyến đi thanh tra tất cả các tổ chức cộng sản trong khu vực. Vị đại diện này đã nói với hai ông rằng cả Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (hay sau này là An Nam Cộng sản Đảng), Đông Dương Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đều chưa được xem là “cộng sản” và không thể được Quốc tế Cộng sản chính thức công nhận. Chừng nào một đảng hợp nhất chưa được thành lập thì mọi chỉ thị cho tất cả các nhóm mácxít ở Đông Dương đều do Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra.

Tại Xiêm, Nguyễn Ái Quốc đã được nghe về sự chia rẽ trong nội bộ Hội do hai đại biểu dự Đại hội tháng 5-1929 kể lại, và vào tháng 9, ông đã viết một bức thư gửi các nhà lãnh đạo của Đông Dương Cộng sản Đảng, trong đó ông tuyên bố thẳng thừng rằng ông không thể tin tưởng ai ngoại trừ những người cộng sản thực sự. Ông viết rằng họ có thể thể hiện sự trung thành của mình bằng cách liên kết với Quốc tế Cộng sản, và ông đã mời họ cử một đại diện tới dự một cuộc họp dự kiến được tổ chức trong năm 1930 tại Vla-đi-vốt-xtoocs. Nhưng những nhà lãnh đạo Đông Dương Cộng sản Đảng nhận bức thư từ một Việt kiều gửi từ Xiêm và đọc bức thư đó trước một cuộc họp Đảng tại Hà Nội, đã không đưa ra quyết định nào về vấn đề này. Nguyễn Ái Quốc đã hai lần cố vào Việt Nam nhưng không qua được biên giới do có cảnh sát canh giữ cẩn mật. Ông đang chuẩn bị thử lần thứ ba thì một cộng sự mới đến từ Hồng Công (có lẽ là Lê Duy Diệm) thông báo cho ông biết về tính khẩn cấp của tình hình. Ngay lập tức Nguyễn Ái Quốc đi Băng-cốc để rồi từ đó lên tàu tới Quảng Châu.

Ngày 20-1-1930, Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu, vào ở tại một khách sạn và viết thư cho các cộng sự ở Hồng Công, yêu cầu họ tới gặp ông tại Quảng Châu. Có lẽ ông sợ bị cảnh sát Anh luôn cảnh giác phát hiện tại biên giới. Tuy nhiên, cuối cùng thì họ đã thuyết phục ông rằng gặp gỡ ở Hồng Công sẽ an toàn fhown vì ở đó chính quyền Anh khá khoan dung đối với các hoạt động của người nước ngoài trên lãnh thổ của họ nếu những hành động đó không trực tiếp đe dọa sự ổn định láng giềng, và dân số chủ yếu là người Trung Hoa ở đây cũng tở ra khá im hơi lặng tiếng mặc dù trong những năm 1920 cũng đã nổ ra một vài cuộc đình công. Hồ Tùng Mậu cử một cộng sự của mình tháp tùng Nguyễn Ái Quốc trở lại Hồng Công bằng xe lửa, tại đó ông vào ở tại một khách sạn tại Cửu Long.

Sau khi tới Hồng Công, Nguyễn Ái Quốc tới ngay căn hộ của Lê Hồng Sơn, tại đó ông làm quen với tình hình và thảo luận với ông Mậu và những thành viên khác của Hội. Ông phê bình họ vì đã xa rời quần chúng và vì họ không dự đoán  trước được sự chia rẽ mà theo ông là “trẻ con”. Ông cũng liên lạc với trụ sở của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại đây. Sau đó, ông mời các thành viên của ba phái tranh chấp ở Đông Dương tới Hồng Công để chuẩn bị hợp nhất ba nhóm thành một Đảng mới.

Cuối tháng 1-1930, đại diện An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Đảng từ Đông Dương đã tới Hồng Công. Các đại biểu Đông Dương Cộng sản liên đoàn đã rời Đông Dương trên một chuyến tàu nhưng bị bắt trên đường do bị quân của những người lao động ở Cửu Long. Sau đó, hội nghị đã phải di chuyển tới một số địa điểm khác, trong đó có một phiên họp được diễn ra dưới một sân vận động ở Cửu Long. An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Đảng đều có hai đại biểu mỗi đảng. Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu dự hội nghị với tư cách là đại diện cho đại bản doanh của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cũ ở Hồng Công.

Theo một số người tham dự kể lại hội nghị dễ dàng đi đến thống nhất một cách đáng ngạc nhiên. Nguyễn Ái Quốc đã khai mạc hội nghị bằng cách tự giới thiệu mình và sau đó phê bình nhẹ nhàng các đại biểu vì đã để xảy ra sự chia rẽ. Ông cho rằng cả hai bên đều phải chịu trách nhiệm, và nhấn mạnh rằng vấn đề chủ yếu lúc này là khôi phục sự thống nhất của phong trào. Hội nghị cũng nhanh chóng nhận thấy rằng những mâu thuẫn tồn tại giữa các thành viên của hai phái là do mâu thuẫn cá nhân và những vấn đề nhạy cảm mang tính khu vực hơn là ý thức hệ. Các đại biểu Bắc Kỳ và Nam Kỳ nghi ngờ về tư chất cách mạng thực sự của nhau (người miền Bắc thường cho rằng người miền Nam lười biếng và dễ dãi, trong khi người miền Nam lại cho rằng người miền Bắc quá nghiêm khắc và ngoan cố) và đều không bằng lòng vì những đảng viên gốc Nghệ An quê của Nguyễn Ái Quốc lại nắm giữ những vị trí chủ chốt trong lãnh đạo phong trào. Đối với lãnh đạo An Nam Cộng sản Đảng, do tác động của bức thư chỉ trích của Mát-xcơ-va hồi tháng 10, họ đã thấy được sự cần thiết của việc thành lập một Đảng Cộng sản chính thức. Vấn đề lớn duy nhất còn lại cần giải quyết là làm thế nào chấm dứt sự chia rẽ và hợp nhất các phái, bao gồm cả Đông Dương Cộng sản Liên đoàn hiện đang vắng mặt, vào thành một đảng duy nhất với những điều khoản thỏa mãn tất cả các bên. Lúc này, tư cách đại diện Quốc tế Cộng sản của Nguyễn Ái Quốc rất có lợi cho ông. Ông gợi ý rằng giải pháp đơn giản nhất không phải là nhập đảng này vào đảng khác hay sáp nhập các đảng lại mà là giản tán cả hai và thành lập một tổ chức mới, với các chương trình và điều lệ mới, và tất cả những ai ủng hộ mục tiêu và đáp ứng các tiêu chuẩn cần thiết đều có thể trở thành thành viên của tổ chức này. Tất cả các đại biểu đều chấp nhận đề nghị này một cách nhanh chóng và có thể mọi người đều thấy thoải mái.

Vấn đề duy nhất còn gây tranh cãi là tên của đảng hợp nhất mới. Nguyễn Ái Quốc đã suy nghĩ đến vấn đề này trước khi triệu tập hội nghị. Trong một ghi chép cá nhân ngày 6-1, ông đã liệt kê năm điểm chính cần đưa ra trước hội nghị; một trong những vấn đề đó là thống nhất tên gọi mới của đảng. Tại hội nghị, ông đưa ra ý kiến của mình, cho rằng tên của các đảng hiện nay đều là chưa đủ, vì “Đông Dương” hàm ý chỉ toàn bộ Đông Nam Á, trong khi “An Nam”, một từ Hán có nghĩa là “miền nam yên bình”, giờ đây lại được người Pháp sử dụng để chỉ vùng đất họ bảo hộ ở miền trung Việt Nam. Ông gợi ý rằng đảng mới phải có tên mới, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông gợi ý rằng đảng mới phải có tên mới, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước khi triệu tập hội nghị, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định rằng của tên gọi này là thích hợp. Việt Nam không chỉ là tên gọi chính thức của đất nước dưới triều Nguyễn độc lập trong thế kỷ 19, mà Việt Nam còn gợi lại hình ảnh đất nước Nam Việt đầu tiên được hình thành ở đồng bằng sông Hồng trước khi quân Trung Hoa sang xâm chiếm vào thế kỷ thứ hai trước Công nguyên. Các đại biểu ngay lập tức chấp nhận cái tên này.

Sau khi giải quyết được những vấn đề gai góc nhất, những vấn đề còn lại được dàn xếp một cách dễ dàng. Những phiên họp sau, được cho là tiến hành trong “không khí đoàn kết và thân ái”, đã thảo ra chương trình hành động, các quy định và điều lệ của đảng mới. Nguyễn Ái Quốc đã xem một báo cáo tóm tắt về kết quả Đại hội lần thứ 6 của Quốc tế Cộng sản và ít ra là cũng đã biết chút ít về những thay đổi trong đường lối chung của phong trào vào thời điểm đó. Nhưng rõ ràng là ông chưa nhận được văn bản chỉ trích chương trình hành động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên mới được thảo tại trụ sở Quốc tế Cộng sản ở Mát-xcơ-va. “Những nhiệm vụ cấp bách của những người cộng sản Đông Dương”, rõ ràng được viết vào khoảng tháng 12 và gửi tới trụ sở Đảng Cộng sản Pháp tại Pa-ri, nhưng vì lý do nào đó lại không được gửi tới trụ sở của Hội ở Hồng Công.  Lê Hồng Phong, một trong những người đồng sáng lập Hội, đang được đào tạo ở Liên Xô, đã có được một bản ở Mát-xcơ-va và gửi văn bản này cho một cộng sự ở Nam Kỳ. Nhưng không may là tài liệu này đã tới nơi sau khi kết thúc hội nghị hợp nhất.

Quốc tế Cộng sản chỉ trích chương trình của Hội vì tính mập mờ trong một số vấn đề. Mặc dù Quốc tế Cộng sản thừa nhận rằng cuộc cách mạng duy nhất có khả năng nổ ra lúc này ở VIệt Nam là cách mạng dân chủ tư sản, nhưng việc giai cấp công nhân đóng vai trò lãnh đạo trong cuộc đấu tranh này là vấn đề sống còn. Để đóng vai trò bao trùm trong phong trào, Đảng Cộng sản tương lai phải ra sức đấu tranh chống lại sự ảnh hưởng của “chủ nghĩa cải lương dân tộc” (thí dụ như Đảng hợp hiến) và tìm cách tận dụng sự chia rẽ của giai cấp tư sản địa phương. Tài liệu này cũng chỉ trích các giải thích về chương trình cách mạng hai giai đoạn của Lê-nin. Về thuyết giành quyền lực trong nhiều giai đoạn, tài liệu này cho rằng thuyết này “là một hình thức của chủ nghĩa cải lương chứ không pahir của chủ nghĩa cộng sản, vì không thể dự đoán trước sự tồn tại của các  giai đoạn trong phong trào cách mạng để có thể chuyển phong trào từ một thành công nhỏ nhất sang tấn công trực tiếp vào chế độ”. Tài liệu này cảnh báo rằng cách tiếp cận như vậy sẽ “trên thực tế chỉ kìm hãm hành động của quần chúng nhân dân và làm suy yếu họ thay vì phải động viên họ”. Bản chỉ trích này còn cho rằng trong bất kỳ trường hợp nào thuyết về một cách mạng nhiều giai đoạn sẽ cho phép một nhóm nhỏ trí thức cộng sản lãnh đạo cuộc đấu tranh, một kết cục trái ngược với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác. Mát-xcơ-va nhấn mạnh rằng “nhân dân là những người làm cách mạng và những người cộng sản chỉ có nhiệm vụ hướng dẫn, tổ chức và chỉ đạo nhân dân”. Cuối cùng, Mát-xcơ-va kết luận rằng không cần phải đợi đến khi An Nam Cộng sản Đảng được tổ chức hoàn chỉnh mới khuấy động một cuộc khởi nghĩa cách mạng.

Lời kêu gọi được thảo ra tại hội nghị tháng 2-1930 cho thấy sự chuyển hướng chiến lược được thông qua trước đó tại Đại hội lần thứ 6 tháng 7-1928 cũng đã tác động đến suy nghĩ của Nguyễn Ái Quốc. Trong khi lời kêu gọi này nhằm mục tiêu là đa số dân chúng Việt Nam (công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh, “các anh chị em” bị áp bức bóc lột), nó cũng xóa bỏ quan điểm cũ của Nguyễn Ái Quốc về một đội tiên phong của giai cấp vô sản và nông dân (ám chỉ một cuộc cách mạng giai cấp rộng lớn hơn) và tuyên bố một cách công khai rằng tổ chức mới này là “đảng của giai cấp vô sản” sẽ đấu tranh lật đổ thực dân Pháp, chế độ phong kiến cũng như giai cấp tư sản phản cách mạng, và thành lập một “chính quyền công-nông-binh”. Chính quyền đó sẽ dần nhường bước cho giai đoạn thứ hai, giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, rõ ràng là Nguyễn Ái Quốc chưa sẵn sàng từ bỏ hoàn toàn cách tiếp cận của Lê-nin về một mặt trận thống nhất rộng rãi mà ông đã chủ trương trong suốt thời gian tồn tại của Hội. Một văn kiện chiến lược được thông qua tại hội nghị kêu gọi cần có những nỗ lực giành sự ủng hộ của trí thức, trung nông (thuật ngữ của Đảng chỉ những người nông dân có đủ đất để sống nhưng không thuê nhân công), tiểu tư sản, cũng như những nhóm dân tộc chủ nghĩa như Đảng Thanh niên Hy vọng của Nguyễn An Ninh. Ngay cả những phú nông và địa chủ nhỏ cũng có thể được tập hợp nếu họ không phản cách mạng. Chỉ có Đảng Hợp hiên do nhà cải lương ôn hòa Bùi Quang Chiêu lãnh đạo bị coi là phản động.

Từ những nhận xét trong bức thư ngày 18-2 gửi Văn phòng Viễn Đông được viết sau khi hội nghị kết thúc, có thể thấy rõ là Nguyễn Ái Quốc đã tin rằng những văn kiện soạn thảo ra tại hội nghị hợp nhất đều phù hợp với đường lối của Quốc tế Cộng sản. Tuy nhiên, trên thực tế họ đã xa rời chiến lược mới của Mát-xcơ-va trong một số điểm; mặc dù Nguyễn Ái Quốc vẫn là một người trung thành với chiến lược của Lê-nin về các khu vực thuộc địa, nhưng Mát-xcơ-va trước đó đã có sự thay đổi. Chính sự chệch hướng đó đã gây khó khăn đối với ông trong những năm sau này.

Cuối hội nghị, các đại biểu đã bầu ra ban chấp hành trung ương lâm thời và sau đó họ chuẩn bị trở lại Đông Dương để thành lập bộ máy ở đại phương cho đảng mới này. Một vài ngày sau, Nguyễn Ái Quốc đến Thượng Hải. Trước khi đi, ông viết thư gửi Lê Quang Đạt, nói với ông này rằng ông dự định giải quyết vấn đề quan hệ của đảng mới ở Đông Dương với Văn phòng Viễn Đông. Sau đó, trong bức thư ngày 18-2, ông thông báo kết quả hội nghị hợp nhất với I-la-rê Nu-lăng-xơ, người đứng đầu mới của Văn phòng Viễn Đông tại Thượng Hải. Hội – tổ chức mà ông miêu tả như “một vỏ trứng mà từ đó nở ra một chú chim non cộng sản” – lúc này đã chính thức bị xóa bỏ và một đảng mới đã được thành lập. Đảng có 204 đảng viên ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, 51 đảng viên ở Nam Kỳ và 40 đảng viên ở Xiêm. Các tổ chức quần chúng của sinh viên, nông dân và công nhân do Hội và những đảng kế nhiệm của Hội lập ra cuối những năm 1920 vào thời điểm đó đã có 3.500 hội viên.

Với việc thành lập một đảng mới vào tháng 2 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc sẵn sàng chuyển cách mạng Việt Nam sang một giai đoạn mới. Như ông đã miêu tả trong thư gửi cho Nu-lăng-xơ, đảng này chỉ là một trong số các đảng và phe phái chính trị ở Việt Nam bao gồm Đảng Hợp hiên, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (đảng sẽ sớm bị giải thể và hầu hết các đảng viên gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam), Việt Nam Quốc dân Đảng ở Hà Nội, và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên không còn tồn tại. Mặc dù Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn nhỏ bé và non trẻ, nhưng ông nói rằng đó là “một đảng có tổ chức tốt nhất và năng động nhất trong tất cả các đảng”. Giờ đây, khi cuộc chiến giữa hai phái cộng sản nổi bật nhất đã chấm dứt, ông tin tưởng rằng Đảng Cộng sản Việt Nam được trang bị bằng một chính sách đúng đắn và tinh thần đoàn kết nội bộ mới sẽ nhanh chóng phát triển. Cuối cùng, Nguyễn Ái Quốc đã cầm thanh gươm thần, vũ khí mà Lê Lợi, nhà yêu nước hồi thế kỷ thứ 15 sử dụng, để giành lại tự do cho đồng bào mình từ tay kẻ thù.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »