Anhbaque’s Blog

Just another WordPress.com weblog

HCM-Một cuộc đời (Chương 4)

Posted by anhbahoa on January 1, 2010

HỒ CHÍ MINH-MỘT CUỘC ĐỜI

CHƯƠNG IV

NGƯỜI CON CỦA RỒNG

Châu Á ngày Nguyễn Ái Quốc quay trở về vào cuối năm 1924 khác so với châu Á mà ông đã từ đó ra đi 13 năm trước. Trong khi hệ thống thuộc địa ở Nam và Đông Nam Á vẫn không thay đổi sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), tình hình ở Trung Hoa đã thay đổi mạnh mẽ. Vào mùa thu năm 1911, một biến động lớn đã gây ra sự tan rã của hệ thống phong kiến cũ ở Bắc Kinh. Bốn tháng sau khi Nguyễn Ái Quốc rời cảng Nhà Rồng vào tháng 6, một cuộc nổi dậy của các thành viên của đảng cách mạng của Tôn Dật Tiên đã nhanh chóng dẫn đến sự sụp đổ của triều đại Mãn Châu và sự xuất hiện của một chính phủ mới ở Trung Hoa. Nhưng những đảng viên của Tôn Dật Tiên đã không tận dụng được tình thế. Tướng Viên Thế Khải, chỉ huy trưởng các lực lượng vũ trang Mãn Châu, khéo léo và khôn ngoan hơn cả về chính trị lẫn quân sự, nên vào tháng 2 năm 1912, ông Tôn bị buộc phải nhường cho tướng Viên chức Chủ tịch nước cộng hoà mới sẽ được thiết lập ở Bắc Kinh.

Tướng Viên, với hy vọng sẽ tuyên bố một triều đại mới mang tên mình, đã cố gắng khôi phục luật pháp và trật tự dựa vào các phương pháp cai trị chuyên quyền truyền thống. Điều này đã gây xung đột với đảng của ông Tôn, đảng viên của đảng này chiếm gần một nửa số ghế của Quốc hội mới được thành lập. Tháng 1 năm 1914, Viên đã giải tán quốc hội và cố gắng cai trị bằng sắc lệnh. Đảng của ông Tôn bị tuyên bố là bất hợp pháp và ông Tôn trốn đi Nhật Bản. Nhưng sau khi Viên chết đột ngột vì bị ốm năm 1916, Trung Hoa lại bắt đầu tan rã, vì các chỉ huy quân sự của các vùng, thường được gọi là tư lệnh, đã nắm quyền kiểm soát ở nhiều tỉnh khác nhau trên toàn đất nước. Mặc dù một chính phủ suy yếu vẫn tiếp tục nắm quyền ở Bắc Kinh, một làn sóng bất an trong xã hội và giới trí thức bắt đầu bùng nổ trên khắp đất nước; năm 1919, các cuộc biểu tình lớn của sinh viên đã nổ ra ở thủ đô và các thành phố lớn khác. Cùng năm đó, Tôn Dật Tiên đã thiết lập thành công cơ sở cho đảng Cách mạng của mình, nay được đặt tên là Quốc dân đảng ở Quảng Đông, thủ phủ của tỉnh Quảng Đông, đặt dưới sự bảo hộ của ông Trần là tư lệnh ở vùng đó. Tháng 4 năm 1921, ông Tôn chính thức tuyên bố thành lập một chính phủ quốc gia mới do ông làm chủ tịch.

Trong hai năm sau cuộc cách mạng Bôn-sê-vích, chính phủ Xô-viết mới ở Mát-xcơ-va không thể tận dụng được những sự kiện đang diễn ra ở Trung Hoa và chính phủ quan tâm hơn đến việc thiết lập quyền kiểm soát ở nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn của đất nước một thời là đế chế Nga ở Xi-bê-ri, lúc đó tạm thời bị các lực lượng chống cộng sản chiếm giữ. Nhưng đến mùa xuân năm 1920, sự thống trị của Liên Xô đối với vùng này đã được củng cố và một Ban thư ký Viễn Đông đã được thành lập ở I-cút-xcơ để chỉ đạo các hoạt động của cộng sản ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương rộng lớn. Tháng 4 năm đó, Gri-gô-ri Vôi-tin-xki, lúc đó là một nhân viên của Quốc tế cộng sản đóng ở I-cút-xcơ đã đi Bắc Kinh. Sau khi dừng lại ở Bắc Kinh một thời gian ngắn, ông đi tiếp đến Thượng Hải, nơi ông đã giúp thành lập một tổ chức lâm thời gồm những nhà cách mạng đang hoạt động ở vùng đó. Mùa hè sau, những người theo đường lối cấp tiến trên mọi miền của Trung Hoa đã tập trung tại Thượng Hải và chính thức thành lập đảng Cộng sản Trung Quốc.

Một trong những quyết định đầu tiên mà đảng mới phải đưa ra là liệu có hợp tác với chế độ cách mạng mới của Tôn Dật Tiên ở Quảng Đông không. Một số đản viên, do tin rằng các thành viên chủ chốt của đảng của ông Tôn về cơ bản là phản cách mạng, đã không muốn hợp tác với lực lượng Quốc dân đảng. Nhưng nhà cộng sản người Hà Lan, ông Ma-rinh, người kế nhiệm Vôi-tin-xki làm trưởng đại diện của Quốc tế cộng sản ở Trung Hoa lại rất cương quyết. Tháng 1 năm 1923, Tôn Dật Tiên và đại diện Liên Xô là An-đốp Giô-phơ đã ký một thoả thuận ở Thượng Hải nhằm thiết lập một mặt trận thống nhất giữa hai đảng và dàn xếp để Liên Xô hỗ trợ cho việc hoàn thành thống nhất Trung Hoa. Thoả thuận đó, được mô tả là “liên minh bên trong”, đã kêu gọi các đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc gia nhập Quốc dân đảng, là lực lượng chính trị chủ chốt ở Quảng Đông.

Bắt đầu từ cuối năm 1923, hai đảng này với sự giúp đỡ của phái bộ mới của Quốc tế cộng sản của Mi-khai-in Bô-rô-đin đã bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc hành trình về phương bắc để hạ bệ các chế độ tư lệnh tham tàn đã tồn tại ở Trung Hoa kể từ sau cái chết của Viên Thế Khải. Tuy là một đối tác ở cấp thấp hơn trong liên minh và không có người ủng hộ cũng như uy tín của Quốc dân đảng, rõ ràng rằng đảng Cộng sản Trung Quốc là một lực lượng mới và năng động trong nền chính trị Trung Hoa, một đảng của tương lai chứ không phải là quá khứ.

Ở Đông Dương thuộc Pháp cũng đang có những thay đổi, mặc dù cùng tốc độ với Trung Hoa. Dân số của ba vùng này gia tăng nhanh chóng. Từ bảy triệu năm 1880 đã lên đến khoảng 16 triệu năm 1926, với sáu triệu ở Bắc Kỳ, năm triệu ở Trung Kỳ và khoảng bốn triệu ở Nam Kỳ. Mặc dù hơn ba phần tư dân số vẫn sống ở nông thôn, dân số thành thị đã tăng mạnh, lên đến gần 1 triệu người vào giữa những năm 1920. Hầu hết trong số này sống ở các thành phố lớn là Sài Gòn và Hà Nội.

Trong mười ba năm kể từ khi Nguyễn Ái Quốc rời Sài Gòn, phong trào khôi phục nền độc lập của Việt Nam đã mất chỗ đứng. Với việc Phan Châu Trinh đã bị bắt và đày sang Pháp, người chủ trương cải cách phi bạo lực đã có uy tín nhất đã tạm thời im lặng. Trong khi đó, tổ chức một thời đầy hứa hẹn của Phan Bội Châu, được sự ủng hộ của nhiều nhà yêu nước có uy tín nhất Việt Nam, đã dần dần không còn quan trọng như trước nữa sau nhiều lần nổi dậy không thành công và tiếp đó là việc chính nhà lãnh đạo phong trào dân tộc chủ nghĩa bị bắt và bỏ tù ở Nam Trung Hoa.

Khi nghe tin về cuộc cách mạng năm 1911 ở Trung Hoa, Phan Bội Châu đã bỏ kế hoạch thành lập một chế độ quân chủ lập hiến và thay vào đó thành lập một chính đảng mới, gọi là Quang Phục Hội nhằm thiết lập một nền cộng hoà độc lập theo mô hình của Tôn Dật Tiên. Rõ ràng là Phan Bội Châu đã hy vọng có được sự giúp đỡ của Trung Hoa để lật đổ người Pháp; trong một cuộc họp với Tôn Dật Tiên ở Quảng Đông đầu năm 1912, ông Tôn đã hứa với Phan Bội Châu rằng Việt Nam sẽ là nước đầu tiên được Trung Hoa giúp đỡ một khi các nhà cách mạng củng cố quyền lực của mình ở Trung Hoa. Tuy nhiên, ít lâu sau, Phan Bộ Châu bị một tư lệnh địa phương bắt vì tội thực hiện các hoạt động lật đổ. Đến khi Phan Bộ Châu ra tù năm 1917, đảng của Tôn Dật Tiên đã mất quyền và bản thân ông Tôn đang ở Nhật Bản. Hy vọng được sự giúp đỡ của nước ngoài lại một lần nữa tiêu tan, Phan Bội Châu có vẻ như đã mất phương hướng. Trong lúc tuyệt vọng, ông thậm chí đã đề xuất hợp tác với người Pháp miễn là họ giữ lời hứa thực hiện các cuộc cải cách kinh tế chính trị ở Đông Dương. Cho đến đầu những năm 1920, tổ chức cách mạng ở Việt Nam hầu như đã tan rã. Ông vẫn bị đày ở Trung Hoa, xung quanh là một nhóm môn đệ trung thành, một nhân vật đã ngày càng trở nên không hợp thời. Rõ ràng là Phan Bội Châu đã hết thời.

Sự sụp đổ phong trào của Phan Bội Châu và việc Phan Châu Trinh bị đi đày cho thấy có những thay đổi lớn hơn diễn ra trong xã hội Việt Nam; dấu chấm hết thời của hai người họ Phan trùng với sự đi xuống của giới học giả truyền thống đã từng có ảnh hưởng lớn đối với nền chính trị Việt Nam trong nhiều thế kỷ. Mặc dù được hối thúc bởi các nhân vật yêu nước như Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, nhiều nhà Nho đã bỏ niềm tin trước kia của họ và cố gắng tham gia vào chính trị quần chúng, với tư cách một giai cấp họ chưa bao giờ cảm thấy thoải mái thực sự trong vai trò mới này; nhiều người thấy khó có thể thích nghi với những điều kiện đang thay đổi dưới sự thống trị  của thực dân Pháp. Phan Bội Châu rất thích phong trào gồm “mười nghìn anh hùng vô danh” chỉ tồn tại trên sách báo. Họ là những người sẽ đuổi người Pháp ra biển, nhưng xét cho cùng đảng, của ông chủ yếu bao gồm những người thuộc giới thượng lưu và được giáo dục tốt trong xã hội và hầu như không có nông dân tham gia. Mặc dù phong trào của ông đã cố gắng thúc đẩy thương mại và công nghiệp làm phương tiện để làm giàu cho xã hội Việt Nam, các thành viên có thâm niên của phong trào là đại diện của giới quý tộc địa chủ. Các nhà Nho yêu nước có thiện chí mặc áo thụng mở cửa hàng để gây quỹ và khuyến khích thương mại ở địa phương và sau đó đã làm khách hàng xa lánh mình do thái độ kẻ cả của họ.

Vào cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất, ảnh hưởng của các nhà Nho (khoảng 20.000 người vào cuối thế kỷ trước) trong xã hội Việt Nam đã bắt đầu suy yếu. Các kỳ thi Nho giáo đã bị loại bỏ trên cả ba vùng lãnh thổ và được thay thế bằng một hệ thống giáo dục mới do người Pháp đặt ra. Quốc ngữ, chuyển tự từ tiếng Việt sang hệ chữ cái La-tinh, lúc đó được thúc đẩy mạnh mẽ bởi cả các nhà truyền giáo đạo Cơ đốc ở Nam Kỳ và các trí thức theo đường lối cải cách ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ và ngày càng được thừa nhận là hệ thống thay thế hữu ích cho hệ thống chữ Nôm phức tạp. Trong khi hầu hết người Việt Nam trẻ tuổi tiếp tục được hưởng giáo dục truyền thống ở làng quê của họ thì con em của nhiều người trong giới Nho học, giờ đây đã không còn được hưởng hệ thống giáo dục Nho giáo để tiến bộ , được đào tạo ở các trường Pháp Việt mới như trường Quốc học Huế, nơi mà các bài giảng là bằng tiếng Pháp. Nhiều người sang Pháp để học tiếp.

Trong khi đó, một tầng lớp trung lưu người Việt mới và Tây hoá hơn đã xuất hiện. Một số đã thành lập các công ty thương mại và sản xuất để đáp ứng như cầu và nguyện vọng của các gia đình khá giả sống ở các thành phố lớn. Những người khác làm cho các công ty của châu Âu, theo các nghề khác nhau hoặc giữ một vị trí trong bộ máy hành chính quan liêu. Mặc dù nhiều thành viên của giới thành thị mới này ngưỡng mộ Phan Bội Châu và các môn đệ của ông về lòng yêu nước của họ, họ kín đáo chế nhạo các bậc đàn anh về thái độ bảo thủ và cổ hủ. Những người thuộc thế hệ mới này cũng cam kết đối với sự nghiệp độc lập dân tộc, đã từ bỏ quá khứ và có kiến thức tinh tế hơn về phương Tây. Nhiều người mặc đồ Tây, uống rượu Pháp và nói chuyện bằng tiếng Pháp. Như nhà báo Pháp Pôn Mô-nê đã viết, những người thuộc thế hệ mới này là “hình mẫu của nền văn hoá (Pháp) của chúng ta, không còn niềm tin truyền thống và rời bỏ mảnh đất của tổ tiên, hoàn toàn không quan tâm đến đạo Khổng, đạo đức mà họ không thích bởi vì họ không hiểu về nó”. Các quan chức Pháp thường coi những bước phát triển này như là một dấu hiệu về sự thành công của sứ mệnh văn minh hoá, nhưng họ cũng sớm nhận ra rằng thế hệ này sẽ là một thách thức lớn hơn so với các cha ông của họ.

Các quan chức cao cấp của Pháp đã vô tình làm người Việt Nam càng bực tức hơn đối với những hậu quả của chế độ thực dân. Năm 1919, kẻ thù tương lai của Nguyễn Ái Quốc là An-be Xa-rô, lúc đó là toàn quyền Đông Dương, đã làm cho những trái tim Việt Nam cảm động vì lời hứa của ông về một kỷ nguyên cải cách mới. Ông nói với những người cấp dưới của mình: “Tôi sẽ đối xử với các bạn như một người anh đối với một người em và sẽ dần dần cho các bạn chân giá trị của một con người”. Những lời lẽ đó đã làm loé lên hy vọng ở Việt Nam và thậm chí Nguyễn Ái Quốc đã khâm phục lời lẽ đó. Ông vẫn là người luôn ngưỡng mộ nền văn hoá đã sản sinh ra khẩu hiệu cách mạng “tự do, bình đẳng và bác ái”.

Tuy nhiên, sau khi Xa-rô rời Hà Nội đi Pa-ri để làm Bộ trưởng Thuộc địa, những lời hứa của ông về cải cách vẫn chưa được thực hiện. Thí dụ, hệ thống giáo dục mới hầu như không nhận được nguồn tài trợ từ chính quyền thực dân và kết quả là chỉ có ảnh hưởng nhất định đối với dân chúng địa phương.  Các trường làng đặc biệt thiếu kinh phí và đa số trẻ Việt Nam được đi học không đến bốn năm. Vào giữa những năm 1920, chỉ có khoảng 5.000 học sinh trên toàn đất nước được học đến cấp tương đương trung học. Những thống kê đó cho thấy đạo đức giả của người Pháp khi họ nói rằng họ đang thực hiện sứ mệnh khai hoá văn minh ở Đông Dương; trong khi đó theo hệ thống truyền thống, khoảng một phần tư dân số có thể đọc được các bài viết bằng chữ Hán, trong thập kỷ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tỷ lệ biết chữ quốc ngữ và chữ Nôm ước tính chỉ khoảng 5% dân số.

Trong suốt khi đó, mặc dù nhiều người Việt Nam đã đóng góp cho sự nghiệp của Pháp trong suốt Chiến tranh thế giới thứ nhất, các nhà cầm quyền thực dân vẫn từ chối cho các thần dân của mình quyền đóng một vai trò tích cực trong nền chính trị trên đất nước của mình. Khoảng 10.000 viên chức thực dân ở Đông Dương được trả lương nhiều hơn so với người Việt Nam làm cùng một công việc. Nhiều người trong số 40.000 người châu Âu sống và làm việc ở Đông Dương, một số khi đến hầu như không có gì ngoài một chiếc áo sơ-mi khoác trên người, đều thường xuyên đối xử thô bạo và có thái độ trịch thượng đối với dân bản địa. Người nước ngoài, trong đó có hơn 200.000 Hoa kiều sống chủ yếu ở các thành phố và thị trấn tiếp tục chi phối nền kinh tế đô thị. Ghê thay, một nhà văn Pháp đã cho các chính sách cải cách của Xa-rô, những chính sách đôi khi được mô tả là “nền chính trị hợp tác”, lá sự gian dối, trong khi Tổng thống Pháp Ray-mông Pôn-ca-rê thừa nhận rằng các chính sách đó chỉ được thực hiện về mặt hình thức.

Trong khi đó, đa số dân chúng phải chịu các mức thuế gia tăng và sự độc quyền của chính phủ đối với việc sản xuất và buôn bán thuốc phiện, muối và đồ uống có cồn , điều này làm tăng giá bán lẻ tất cả ba loại sản phẩm này. Ở Nam Kỳ, các chủ đất vắng mặt mua đất trống ở châu thổ sông Cửu Long đã đòi lãi suất quá cao đối với người thuê mới, đôi khi chiếm tới hơn 50% tổng giá trị mùa màng trên mảnh đất đó, trong khi các chủ đát này vẫn có dinh cơ ở Sài Gòn. Trên khắp đất nước có khoảng hơn nửa triệu nông dân không có đất, so với khoảng 50 nghìn địa chủ. Trong một cuốn sách có tựa đề Forceries humaines được viết vào giữa thập kỷ, tác giả Gioóc-giơ Ga-rốt đã nhận xét rằng nếu bị khiêu khích như vậy thì chắc hẳn người Pháp đã nổi dậy rồi. Thực ra, như Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét một cách giận dữ với nhà báo Ô-síp Man-de-xtam trong cuộc phỏng vấn năm 1923 ở Mát-xcơ-va thì Việt Nam là một “dân tộc chìm trong bóng tối”.

Nỗi thất vọng về tình hình đó đã dấy lên một làn sóng chính trị mạnh mẽ mới vào giữa những năm 1920. Đứng đầu là một thế hệ các trí thức trẻ thuộc tầng lớp trung lưu được giáo dục theo hệ thống của Pháp. Giống như những người cùng cảnh ngộ ở thế giới thuộc địa, nhiều người có tình cảm phức tạp với nền văn hoá phương Tây, họ ngưỡng mộ nhưng lại không chấp nhận nền văn hoá đó. Nhiều người trong số họ đọc tiểu thuyết và tạp chí bằng tiếng Pháp, trong đó có các tạp chí viết bằng chữ quốc ngữ như Phụ nữ Tân Văn phục vụ thị hiếu phương Tây và các nhìn nhận thanh niên có học thức. Nhưng họ lại phẫn nộ về việc người Pháp đối xử với dân thuộc địa của mình bằng một thái độ trịch thượng và nghi ngờ, tại sao các quan niệm của Pháp được quảng cáo nhiều như tự do, bình đẳng và bác ái mà họ được học ở trường lại không thể áp dụng được ở Đông Dương.

Những dấu hiệu thay đổi đầu tiên xuất hiện ở Sài Gòn, thành phố mà so với tất cả các thành phố khác ở Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất bởi sự có mặt của thực dân Pháp. Một tỷ lệ lớn người châu Âu ở Đông Dương đã đến định cư ở đây vì Nam Kỳ là một thuộc địa và do đó trực thuộc chính quyền Pháp, và vì cơ hội thu lợi nhuận từ các đồn điền cao-su, chè và cà-phê được dựng ở các khu vực lân cận. Ở Sài Gòn, có nhiều công nhân nhà máy hơn bất cứ vùng nào ở Việt Nam. Ở Sài Gòn, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, người bản xứ và người nước ngoài rõ ràng nhất. Tại đây, ngay cả người Việt Nam giàu có nhất cũng có lý do bất bình về việc người nước ngoài thâu tóm toàn bộ nền kinh tế. Các thương nhân Hoa kiều quản lý các nhà máy sản xuất gạo, các ngân hàng và các tiệm cầm đồ, trong khi người châu Âu sở hữu hầu hết các nhà máy lớn và chi phố xuất nhập khẩu. Nhà nông học giàu có Bùi Quang Chiểu, người mà Nguyễn Ái Quốc đã gặp trước khi đi sang châu Âu, đã đi đầu trong việc thổi bùng lên thái độ bất bình này. Là một chủ đất nhưng ở Sài Gòn, ông Chiểu cũng tham gia nhiều hoạt động kinh doanh và sáng lập ra tờ báo Diễn đàn người bản xứ đại diện cho lợi ích của thương nhân địa phương. Vài năm sau, ông cùng với người quen thành lập đảng Hiến pháp, đảng chính trị chính thức đầu tiên ở Đông Dương thuộc Pháp. Trong khi Bùi Quang Chiểu và các cộng sự của mình hy vọng ép người Pháp dành cho người Việt Nam một vị trí cao hơn trong tiến trình chính trị thì một mục tiêu nữa là giảm sự chi phối của các thương nhân Trung Hoa đối với nền kinh tế ở Nam Kỳ.

Cũng như ở nhiều xã hội ở Đông Nam Á, các thương nhân Trung Hoa từ lâu đã là lực lượng chi phối các nền kinh tế đô thị ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Con cháu của những người nhập cư trong các thế kỷ trước đến vùng này từ các vùng duyên hải ở Nam Trung Hoa thường được những người sản xuất và thương mại trong khi không khuyến khích người dân bản địa làm như vậy. Thường thì họ sống trong các khu nhà ổ chuột ở đô thị và tiếp tục duy trì văn hoá Trung Hoa, trong đó có đạo Khổng và tiếng Hán. Khi Bùi Quang Chiểu và các cộng sự của ông chú trọng đến việc giảm ảnh hưởng của Hoa kiều hơn là các nhà cầm quyền thực dân, họ có thái độ tương tự như thái độ ở một số thuộc địa khác trong khu vực.

Một đối thủ nguy hiểm hơn ông Chiểu, theo người Pháp,  là nhà trí thức được đào tạo ở Pa-ri tên là Nguyễn An Ninh. Là con của một nhà Nho Nam Kỳ có liên hệ với Trường Đông kinh Nghĩa thục Hà Nội, và sau đó phục vụ trong phong trào của Phan Bội Châu, ông Ninh học luật ở Pháp, nơi mà ông nói là đã gặp Nguyễn Ái Quốc và từ đó có say mê chính trị. Khi trở về Sài Gòn vào đầu những năm 1920, ông sáng lập một tờ báo có tên là Cái chuông nứt, nhằm nâng cao tinh thần yêu nước của người Việt Nam và thúc giục người Pháp tiến hành cải cách chính trị. Giống như Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh cũng là người ngưỡng mộ cuồng nhiệt văn hoá phương Tây và tin rằng nó là chuẩn mức để điều chỉnh hệ thống Nho giáo truyền thống mà ông tin là đã bóp nghẹt khả năng sáng tạo của đồng bào mình và giúp Pháp chinh phục họ.

Vào đầu và giữa những năm 1920, nhà báo trẻ theo trường phái châm biếm này đã trở nên nổi tiếng trong giới thanh niên Nam Kỳ. Các bài phát biểu không thường xuyên của ông được người đọc mong đợi. Trong một bài phát biểu tháng 10 năm 1923 tại Nha học chính ở Sài Gòn, ông đã kêu gọi mọi người hưởng ứng một nền văn hoá mới không bị ảnh hưởng bởi các ý tưởng du nhập của Khổng Tử, Mạnh Tử và Lão Tử. Giống như Ma-hát-ma Gan-di ở Ấn Độ, ông Ninh lập luận rằng giải pháp cho các vấn đề của Việt Nam cơ bản là tinh thần và câu trả lời chỉ có thể do người dân tìm ra.

Ảnh hưởng của các hoạt động của Nguyễn An Ninh đối với thanh niên Nam Kỳ ngày càng làm cho các nhà chức trách Pháp lo ngại, cuối cùng ông được triệu tập đến nói chuyện với Phó Toàn quyền Mô-rít-xơ Cô-nhắc, người đã cảnh báo ông rằng các hoạt động của ông bị các nhà chức trách kiểm soát chặt chẽ và rằng nếu ông quyết định thực hiện các hoạt động của mình thì họ sẽ dùng các biện pháp cần thiết để buộc ông chấm dứt. Cô-nhắc cho rằng người Việt Nam quá chất phác để có thể hiểu thông điệp của ông Ninh. Ông nói thêm một cách châm biếm, nếu ông Ninh muốn kêu gọi các trí thức thì hãy đến Mát-xcơ-va. Tuy nhiên, lời cảnh báo của Cô-nhắc bị bỏ qua và Nguyên An Ninh lại thực hiện chiến dịch của mình.

Và ngày Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Đông bằng tàu từ Vla-đi-vốt-xtốc giữa tháng 11 năm 1924, thành phố bị xáo động, với hàng ngàn người chen lấn trên đường phố gần bến cảng để bày tỏ sự ủng hộ của họ đối với chính phủ của Tôn Dật Tiên và tiễn vị chủ tịch đi Bắc Kinh. Từ tháng 2 năm 1923, ông Tôn đã thực hiện chiến lược “khối liên minh bên trong” đã được thương lượng với nhân viên Ma-rinh của Quốc tế cộng sản vài tháng trước đó. Ông Tôn đã chuyển Quốc dân đảng sang cánh tả bằng cách đưa thêm một số đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc vào các vị trí có trách nhiệm. Sau khi nhân viên Quốc tế cộng sản Mi-khai-in Bô-rô-đin đến từ Mát-xcơ-va vào tháng 10, đảng đã được tổ chức lại theo đường lối của chủ nghĩa Lê-nin và một học viện quân sự mới được thành lập ở đảo Hoàng Phố để cung cấp các sĩ quan được đào tạo. Tưởng Giới Thạch, một trong những sĩ quan trẻ tin cậy của Tôn Dật Tiên, được coi là sĩ quan chỉ huy của trường, trường nằm cách thành phố vài dặm xuôi theo sông. Chu Ân Lai trở thành chính uỷ của trường.

Tuy nhiên, việc Tôn Dật Tiên chuyển sang cánh tả không phải là không phải trả giá; quan hệ giữa chính phủ ông với các đại diện quyền lợi châu Âu ở Quảng Đông đã bắt đầu xấu đi. Đối với nhiều thương gia và nhà ngoại giao phương Tây ở thành phố, quyết định của ông Tôn thiết lập một quan hệ chính thức với nước Nga Xô-viết và đảng Cộng sản Trung Quốc đã cung cấp chứng cứ cho phép kết luận rằng ông và đảng của ông về cơ bản là chống phương Tây và đã trở thành tay sai của Mát-xcơ-va.

Trong những tháng sau, tình hình càng trở nên căng thẳng hơn, Mùa hè năm 1924, các cuộc đình công phản đối các công ty của Anh ở Quảng Đông đã nổ ra trước một sự cố do các nhà chức trách Anh khiêu khích. Người Anh đã áp đặt sự kiểm soát của cảnh sát để trấn áp các cuộc biểu tình trên đường phố ở đảo Sa Diện, một nhượng tô của người Pháp dọc bờ sống phía Tây. Chính phủ của ông Tôn đã tuyên bố ủng hộ những người đình công. Mùa thu năm đó, Hiệp hội các thương nhân Quảng Đông, bị chi phối bởi những lợi ích thương mại của châu Âu, đã thiết lập một lực lượng quân sự của ông Tôn và các vụ xô xát đã xảy ra giữa các đơn vị dân quân và quân đội của chính phủ.

Trong khi đó, tình hình bên ngoài Quảng Đông thay đổi đột ngột, U Pê-phu, một tư lệnh đã nhiều năm kiểm soát các vùng ở phía bắc Trung Hoa, bị lật đổ bởi “vị tướng đạo Thiên chúa” là Pheng I-ung-xi-ang. Mặc dù Pheng cũng là một tư lệnh, ở Quảng Đông ông được coi là thấu hiểu công cuộc cách mạng Trung Hoa hơn là U Pê-phu; khi Pheng mời Tôn Dật Tiên đến Bắc Kinh để đàm phán một dàn xếp hoà bình, ông Tôn đã đồng ý.

Mặc dù Nguyễn Ái Quốc không được cử đi Trung Hoa với tư cách chính thức nhưng không phải là ông không có liên lạc với ai. Ngay lập tức ông đã liên hệ với Mi-khai-in Bô-rô-đin. Mi-khai-in Bô-rô-đin đã mời Nguyễn Ái Quốc đến ở căn hộ của ông ở Bao-gông Guan, một biệt thự kiểu Tây rộng rãi bao quanh là một khu vườn trải dài từ các trụ sở của Quốc tế cộng sản đến trung tâm thành phố. Ở tầng trệt của toà nhà là văn phòng của 20 đại diện của Quốc tế cộng sản được cử từ Mát-xcơ-va đến. Trên tầng hai là căn hộ riêng của Bô-rô-đin, nơi Nguyễn Ái Quốc làm thành phòng nghỉ riêng của mình. Để tự vệ trước sự giám sát của Pháp hay khỏi bị các nhà chức trách bắt giữ vì nhập cư trái phép, Nguyễn Ái Quốc tự xưng là người Trung Hoa có tên là Lý Thuỵ. Chỉ có Bô-rô-đin có thể sẽ giúp ích rất nhiều cho người đồng nghiệp trẻ của mình.

Sau khi dọn đến ở nơi ở mới, Nguyễn Ái Quốc được cử làm tại văn phòng của thông tấn xẽ Xô-viết ROSTA nằm ở tầng trệt của trụ sở của Quốc tế cộng sản ở Bao-gông Guan. Nguyễn Ái Quốc đã viết bài cho thông tấn xã này, những bài báo này được gửi về Mát-xcơ-va và in với bút danh Ni-lốp-xki, ông cũng làm phiên dịch và đại diện địa phương không chính thức của Quốc tế Nông dân. Tuy nhiên, mục tiêu chính của ông là gây dựng hạt nhân cho đảng cách mạng Việt Nam mới được xây dựng theo mô hình của Lê-nin. Sau đó có thể ông bắt đầu theo đuổi mục tiêu dài hạn hơn là lập trật tự cho phong trào kháng chiến của Việt Nam và biến nó thành một lực lượng đáp ứng những mong ước của ông.

Chiến lược cách mạng do Quốc tế cộng sản đưa ra tại Đại hội lần thứ hai ở Mát-xcơ-va đã cho ông đường lối chung để khởi động tiến trình cách mạng. Một trong những chỉ dẫn đó là cần phải có biện pháp hợp tác với các nhóm chủ nghĩa dân tộc phi cộng sản hiện đang hoạt động, một mục tiêu mà ông đã đưa ra trong các báo cáo của mình gửi lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản ở Mát-xcơ-va. Nhưng Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức được rằng những chỉ dẫn đó không đáp ứng hoàn toàn đầy đủ nhu cầu của ông. Tại một cuộc họp nhằm thảo luận vấn đề thuộc địa tại Đại hội của Quốc tế Cộng sản lần thứ năm mùa hè năm 1924, ông đã hỏi Đi-mi-tơ-ri Ma-nu-in-xki, chuyên gia vè thuộc địa của Quốc tế cộng sản, rằng những người công nhân cộng sản châu Á cần phải làm gì khi không có đảng dân tộc nhân dân. Không rõ Ma-nuyn-xki, một người ít có kinh nghiệm về các vấn đề châu Á, đã bao giờ nghĩ đến câu hỏi này chưa. Tuy nhiên, ông vẫn cố gắng giải thích chiến lược “mặt trận thống nhất” của Lê-nin theo lối ứng khẩu, cho rằng khi không có phong trào dân tộc quần chúng thì đảng cộng sản trong nước cần phải có sáng kiến thành lập một phong trào dưới sự lãnh đạo của đảng.

Thực hiện gợi ý của Ma-nuyn-xki ở Đông Dương không dễ dàng chút nào. Như Nguyễn Ái Quốc đã báo cá cho các đồng nghiệp của Quốc tế Cộng sản trong khi ông vẫn sống ở Mát-xcơ-va, giai cấp công nhân Việt Nam, có thể là lực lượng đầu đàn trong đảng Mác Lê-nin sau này, vẫn còn trong giai đoạn phôi thai, chỉ chiếm khoảng 20% dân số, bao gồm công nhân mỏ, những người sống rải rác ở cả ba miền là Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Về nhận thức chính trị thì công nhân Việt Nam xếp sau các đồng nghiệp của mình ở nước Trung Hoa láng giềng và thiếu nhiều khả năng lãnh đạo phát động một cuộc khởi nghĩa của dân chống thực dân Pháp.

Ở Mát-xcơ-va, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy rằng chính các trí thức yêu nước đã lãnh đạo cuộc kháng chiến đầu tiên của người Việt Nam chống lại hệ thống thuộc địa. Thật không may ở Pháp chẳng mấy người hiểu biết tư tưởng Mác-xít. Quan điểm cấp tiến về xã hội trong giới trí thức đã có ít nhất từ cuộc cách mạng năm 1789; ở Nga, những quan điểm này đã nảy sinh vào giữa thế kỷ 19 với Na-rốt-nic-xơ; ngay ở Trung Hoa, các tư tưởng cấp tiến từ phương Tây như chủ nghĩa vô chính phủ và chủ nghĩa cộng sản đã trở nên quen thuộc với các thành viên hàng đầu của phong trào tiến bộ vào đầu thế kỷ 20. Nhưng ỏ Việt Nam, những tư tưởng cách mạng nước ngoài bị cấm đoán vì chỉ bắt đầu du nhập trong những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Ngay cả khi các trí thức Việt Nam bắt đầu biết về cuộc cách mạng Bôn-sê-vích thì những tin tức về cuộc cách mạng chủ yếu là tin tiêu cực hoặc các tin tức bị kiểm duyệt của Pháp bóp méo nghiệm trọng. Sách về Các Mác hay nước Nga Xô-viết bị cấm ở Đông Dương trong khi các bài báo trên những tờ báo và tạp chí địa phương nói đến các đề tài đó bị các quan chức Pháp thường xuyên tịch thu. Chỉ một số người có đủ may mắn để có được các bản sao về các tác phẩm của Các Mác hoặc tờ Người cùng khổ của Nguyễn Ái Quốc được chuyền cho nhau một cách lén lút đọc được về mặt sau của vấn đề.

Người Việt Nam bình thường do không có kiến thức sâu sắc về chủ nghĩa Mác nên không thể hiểu biết về cách mạng Bôn-sê-vích. Thành phần xã hội và quan điểm thế giới của giới cách mạng của Việt Nam làm cho các tư tưởng Mác-xít khó có thể được chấp nhận một cách thực sự một khi những tư tưởng này trở nên phổ biến hơn. Đối với đa số trí thức Việt Nam, cuộc sống đô thị là một kinh nghiệm tương đối mới. Được nhắc đén trong tư tưởng Nho giáo, tư tưởng có thành kiến sâu sắc chống lại việc chạy theo lối sống đô thị như thương mại và công nghiệp, những trí thức này không chắc đã thấy được sự liên quan của học thuyết Mác với những vấn đề của một nước Việt Nam đa số là ở nông thôn. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác đã được những người đang chờ đợi một sự thay thế mang tính thuyết phục cho thế giới quan Nho giáo chấp nhận; việc những người theo chủ nghĩa Mác có ác cảm sâu sắc đối với chủ nghĩa đế quốc phương Tây chẳng gây hại cho ai. Như một người theo chủ nghĩa dân tộc Việt Nam đã nói: “Chúng tôi sẽ không đi theo chủ nghĩa cộng sản mà đén với những người theo chủ nghĩa cộng sản, vì ở đây, như ở các nước khác, khi những người cộng sản hứa đem lại cho mọi người dân quyền tự quyết, họ sẽ được chờ đợi như những vị cứu tinh”. Nhưng như lẽ thường, thái độ của họ là ngây thơ. Một người Việt yêu nước có nói: “Nếu bị phương Tây ghét thì hẳn người Nga và những người cộng sản phải là những người tốt”.

Nguyễn Ái Quốc ý thức được điều này. Năm 1922, trong một bài báo viết ở Pa-ri, ông đã nhận xét rằng chỉ có một số trí thức ở các thuộc địa như Việt Nam hiểu được ý nghĩa của chủ nghĩa cộng sản, và hầu hết trong số những người hiểu được thì lại thuộc giới tư sản trong nước và thích “mặc áo có mác và chỉ quan tâm đến quyền lợi của mình”. Ông nhận thấy, đối với hầu hết những người dân ở các thuộc địa, chủ nghĩa Bôn-sê-vích “có nghĩa là tiêu huỷ tất cả hoặc giải phóng khỏi ách áp bức của nước ngoài”. Nghĩa thứ nhất đưa dân chúng ngu dốt và nhút nhát rời xa chúng ta; nghĩa thứ hai đưa họ lại gần với chủ nghĩa dân tộc. Cả hai nghĩa này đều nguy hiểm như nhau.

Hàm ý của nó là Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng cho sự thành lập một đảng cộng sản. Dân chúng “tỏ ra sẵn sàng nổi dậy nhưng hoàn toàn không có học thức. Họ muốn tự giải phóng nhưng lại không biết làm như thế nào”. Giới có học thức bồn chồn không biết phải làm gì nhưng không sẵn sàng chấp nhận luận thuyết Mác. Cần phải có thời gian để người Việt Nam dần dần nhận thấy rằng cách mạng xã hội chính là câu trả lời cho các vấn đề của họ. Trong khi đó, một chính đảng cần được thành lập để có thể đại diện cho các ý tưởng của Mác và Lê-nin tuy ở dạng phôi thai nhưng có thể tập hợp quần chúng xoay quanh một vấn đề chính: độc lập dân tộc.

Một người Việt bất đồng ý kiến nổi tiếng nhất lúc đó sống ở Trung Hoa là Phan Bội Châu. Sau khi ra khỏi tù năm 1917 và sau một thời gian thử nghiệm tư tưởng thoả hiệp với người Pháp, Phan Bội Châu đã quay lại với quan điểm chống Pháp trước khi ông bị bắt. Tuy già nhưng vẫn khoẻ mạnh, với bộ râu màu nâu và cặp kính, người chiến binh 55 tuổi đến ở Hàng Châu, một khu nghỉ có quang cảnh đẹp ở tây nam Thượng Hải, nhà của Hồ Học Lâm, một người ủng hộ sau này đóng vai trò quan trọng trong phong trào suốt Chiến tranh thế giới thứ hai. Mặc dù Phan Bội Châu không còn các hạt nhân của tổ chức chống thực dân yêu nước ở Đông Dương, tên của ông vẫn có sức lôi cuốn quần chúng; đầu những năm 1920, một số người Việt Nam yêu nước đầy nhiệt huyết đã đến nam Trung Hoa để gia nhập đội ngũ những môn đệ của ông. Trong số này nổi bật nhất có Lê Hồng Phong, Lê Văn Phan (trong phong trào cách mạng được biết đến nhiều hơn với tên Lê Hồng Sơn), Lê Quang Đạt và Trương Văn Lệnh. Tất cả những người này cuối cùng đã trở thành thành viên sáng lập của tổ chức cách mạng đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc.

Khi ở Nam Trung Hoa, những thành viên đầy nhiệt huyết này trở nên mất kiên nhẫn trước hoạt động không hiệu quả của tổ chức của Phan Bội Châu; tháng 3 năm 1924, tám tháng trước khi Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Đông, họ quyết định tự tách ra, thành lập một đảng mới gọi là Tâm Tâm Xã (Hiệp hội những người cùng chí hướng, dịch sát nghĩa là Hội những trái tim cùng nhịp đập). Cũng như hầu hết các tổ chức yêu nước được thành lập ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20, lãnh đạo của đảng mới là thành viên của giai cấp trí thức truyền thống. Các cuộc biểu tình của sinh viên nổ ra vào giữa những năm 1920 làm họ có tư tưởng cấp tiến, họ quyết định bỏ học để tham gia các hoạt động chống thực dân. Một vài người trong số họ làm lao động chân tay trước khi quyết định di cư ra nước ngoài. Hầu hết tất cả đều cùng quê Nghệ An với Nguyễn Ái Quốc.

Các thành viên của tổ chức mới, với tính hoạt động sôi nổi và dễ nghiêng ngả về thiên hướng chính trị, đã cho rằng hệ tư tưởng không phù hợp với nhu cầu cách mạng trước mắt. Triết lý của họ tương tự như triêt lý trong phong trào nổi dậy của Au-gút-xtê Bờ-lanh-qui ở châu Âu ở thế kỷ 19. Phong trào khuyến khích nổi dậy, tuy không thành công ở Pháp, I-ta-li-a và Tây Ban Nha. Mục tiêu cuối cùng của họ là dùng tuyên truyền và các hành động khủng bố để làm dấy lên một biến động của dân chúng nhằm lật đổ chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương.

Một trong những việc đầu tiên mà đảng mới dự định thực hiện là việc ám sát toàn quyền Đông Dương người Pháp, ông Mác-xi-an Méc-lanh, nhân chuyến thăm Quảng Đông của ông sau một chuyến đi thăm chính thức một số thành phố ở Đông Á giữa tháng 6 năm 1924. Với sự cố vấn và hỗ trợ về tài chính của Lâm Đức Thứ, một công dân 36 tuổi từ Bắc Bộ, người trước đó đã đến Quảng Đông để gặp Phan Bội Châu cách đó vài năm, nhóm này đã đưa ra những kế hoạch giết Méc-lanh bằng cách nổ bom trong các lễ kỷ niệm ở tô giới châu Âu là đảo Sa Diện. Mặc dù lấy một người vợ giàu có và bản thân ông già hơn nhiều so với các đồng sự của mình, ông Thứ (tên thật là Nguyễn Công Viên) được xem là một thành viên tích cực của tổ chức vì có khả năng gây quỹ và liên hệ với người Pháp. Do xuất thân từ một gia đình phản đối sự xâm chiếm của Pháp, không ai nghi ngờ sự trung thành của ông đối với công cuộc chống chủ nghĩa thực dân. Trụ sở của tổ chức được đặt ở tiệm thuốc tây do ông Thứ và vợ quản lý trong một ngõ nhỏ trên đường De Zheng và cách các trụ sở của Quốc tế cộng sản không xa.

Lúc đầu, người ta quyết định rằng nhà cách mạng trẻ tuổi đẹp trai có nước da sẫm Lê Hồng Sơn sẽ được chọn để thực hiện hoạt động đó, bởi vì ông đã ám sát một gián điệp hai mang trong nội bộ đảng; do cách biểu lộ tình cảm mạnh mẽ của ông nên thậm chí các đồng sự của ông cũng sợ ông như sợ một “kẻ giết thuê” của tổ chức. Nhưng Lê Hồng Sơn cũng bị các nhà chức trách biết rõ tung tích, do đó việc này cuối cùng được giao cho Phạm Hồng Thái, một người Việt Nam trẻ tuổi vừa mới đến từ Đông Dương để gia nhập tổ chức khủng bố. Thái là con trai của một công chức tỉnh Nghệ An, tham gia phong trào Cần Vương của Phan Đình Phùng, thời thanh niên. Thái đã học tại trường Pháp Việt ở Hà Nội và sớm say mê các lý tưởng cách mạng. Sau khi học xong, ông xin làm thợ cơ khí ở ga-ra ôtô và sau đó làm việc ở mỏ than. Đầu năm 1924, ông đến Trung Hoa với bạn là Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Phong và trở thành thành viên của Tâm Tâm Xã.

Rõ ràng là do khao khát được hy sinh vì sự nghiệp, Phạm Hồng Thái đã đồng ý nhận trách nhiệm đưa quả bom đến mục tiêu định trước. Tối ngày 19 tháng 6, các quan chức Pháp đã thu xếp một bữa tiệc ở khách sạn Víc-to-ri-a ở đảo Sa Diện để chào mừng Toàn quyền Méc-lanh và giới thiệu ông với các thành viên có uy tín của cộng đồng doanh nghiệp địa phương. Bữa tiệc sẽ được tổ chức ở một phòng ăn lớn cạnh khu phố đó. Vào khoảng 8 giờ 30 tối, ngay khi xúp được đem ra, ông Thái đã ném quả bom qua cửa sổ vào phòng tiệc. Quang cảnh được một tờ báo địa phương mô tả như sau: “Tiếng nổ kinh hoàng vang khắp đảo Sa Diện; sức của nó mạnh đến nỗi tất cả dao dĩa trên bàn tiệc văng vào các nhân viên, gây ra những vết thương khủng khiếp… Một nhân chứng ở gần khách sạn vào thời điểm xảy ra vụ việc và đến giúp mô tả cảnh tượng cho chúng tôi bằng những từ đơn giản: kinh hoàng, rất kinh hoàng. Khách nằm trên ghế hoặc trên đất vưói những vết thương khủng khiếp”.

Năm người khách đã chết vì vụ nổ đó (ba người chết tại chỗ và những người khác chết do bị thương nặng) và hàng chục người bị thương. Tuy nhiên, thật kỳ lạ là Toàn quyền Mác-xi-an Méc-lanh đã sống sót. Trong khi tìm cách chạy vào đất liền, Phạm Hồng Thái đã nhảy từ trên cầu xuống Châu Giang và chết đuối. Méc-lanh đã đi Hà Nội trên một tàu chở khách của Pháp ngày hôm sau để tránh có thể lại bị tấn công trong lễ tang của kẻ ám sát trẻ tuổi.

Méc-lanh đã thoát chết vì ông có ngoại hình rất giống một trong số những người khách, người đã chết vì trúng bom. Nhưng những người chủ mưu nghi ngờ về việc một kẻ phản bội trong hàng ngũ của họ đã chuyển thông tin về kế hoạch ám sát cho Pháp. Những nghi ngờ dồn về Lâm Đức Thứ, những thói quen và mối liên hệ với các quan chức Pháp của ông ta đã làm ông ta trở thành kẻ bị tình nghi. Lê Quang Đạt, một trong những thành viên của Tâm Tâm Xã đã kể cho Lê Hồng Sơn về mối lo sợ của mình, nhưng Sơn trả lời rằng Lâm Đức Thứ đã liên hệ với người Pháp để gây các quỹ cho các hoạt động bí mật của tổ chức. Quan hệ của Thứ với tổ chức vẫn tạm được duy trì.

Vụ nổ bom ở khách sạn Vích-to-ri-a là cố gắng đầu tiên của các nhà cách mạng châu Á nhằm ám sát một quan chức cao cấp thực dân Pháp và việc này đã làm cho cộng đồng người Pháp ở Đông Dương bị sốc. Ở Hà Nội, báo chí thực dân đã đổ lỗi về vụ tấn công cho các cán bộ phong trào Xô-viết. Nhưng vụ ám sát này đã làm cho Phạm Hồng Thái thành người hy sinh vì sự nghiệp chống chủ nghĩa đế quốc. Chính phủ của Tôn Dật Tiên đã dựng một ngôi mộ cho người thanh niên Việt Nam yêu nước tại nghĩa trang ở Quảng Đông, nghĩa trang dành riêng cho các liệt sĩ hy sinh vì cách mạng Trung Hoa; Phan Bội Châu đã có tuyên bố gián tiếp nói rằng ông Thái là một thành viên của tổ chức của ông và tuyên bố rằng kế hoạch ám sát là nhằm trả đũa các hoạt động tàn ác của người Pháp ở Đông Dương. Phan Bội Châu đặt một câu hỏi cường điệu, việc giết và áp bức thì việc nào tồi hơn? Sau đó ông viết một bài miêu tả đầy chi tiết không đúng sự thật về cuộc đời của ông Thái.

Phan Bội Châu cũng nhân sự kiện Sa Diện được biết đến rộng rãi để khôi phục tổ chức chính trị của mình ở Nam Trung Hoa, tổ chức này đã trở nên suy yếu trong những năm ông ở trong tù. Tháng 7 năm 1924, ông đến Quảng Đông để tham dự một lễ xây mộ cho Phạm Hồng Thái. Ở đó ông nói chuyện với một số môn đệ của mình về việc thay thế Việt Nam Quang Phục hội của ông bằng một số tổ chức chính trị mới có tên là Việt Nam Quốc dân đảng, theo Quốc dân đảng của Tôn Dật Tiên. Phan Bội Châu trở lại Hàng Châu vào tháng 9.

Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Đông năm tháng sau vụ ám sát hụt ở đảo Sa Diện. Vài ngày sau đó, trong vai một nhà báo Trung Hoa tên là Oang San-y, ông đã liên lạc với các thành viên của Tâm Tâm Xã. Hoạt động cấp tiến của họ rõ ràng là đã làm nhà cách mạng trẻ tuổi đồng cảm. Tất nhiên, việc họ thiếu lý tưởng chủ đạo sẽ thuận tiện vì như vậy Mác và Lê-nin sẽ lấp lỗ hổng đó. Và việc nhiều thành viên hàng đầu của nhóm là đồng hương với ông không gây phiền phức gì cả. Rõ ràng là Nguyễn Ái Quốc đã có ấn tượng với Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu, nhưng đặc biệt là với Lê Hồng Phong, người thấp, chắc nịch, có đôi vai rộng và con của một gia đình gia giáo ở Nghệ An mà Phan Bội Châu đã tuyển để đi học nước ngoài.

Nguyễn Ái Quốc đã không mất nhiều thời gian để thuyết phục những người này theo quan điểm của ông. Trong một bức thư gửi trụ sở của Quốc tế cộng sản ở Mát-xcơ-va đề ngày 18 tháng 12 năm 1924, ông báo cáo rằng ông đã liên lạc với một số “nhà cách mạng dân tộc” Việt Nam và bắt đầu hợp tác với họ. Cho đến tháng hai năm sau, ông đã thành lập một nhóm bí mật gồm 9 thành viên, lấy tên là Quốc dân đảng Đông Dương. Một số người đã trở về Đông Dương để tuyển thêm người, trong khi những người khác gia nhập quân đội của Tôn Dật Tiên hoặc xin gia nhập đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm người trong số này được ông mô tả là ứng cử viên của một đảng cộng sản tương lai. Mặc dù vậy, ông nhấn mạnh rằng ông rất cần có thêm kinh phí và tài liệu tuyên truyền để thực hiện các hoạt động bổ sung.

Rất có thể là qua các thành viên của Tâm Tâm Xã mà Nguyễn Ái Quốc đã liên lạc được với Phan Bội Châu. Mặc dù Nguyễn Ái Quốc không đồng tình với các phương pháp của nhà hoạt động cao tuổi này, có thể ông đã coi Phan Bội Châu là một công cụ hữu ích để xây dựng một tổ chức cho riêng mình. Về phần mình, Phan Bội Châu rõ ràng là đã nghe nói về những kỳ công của một con người bí ẩn là Nguyễn Ái Quốc khi ông còn sống ở Hàng Châu, mặc dù có thể ông chưa nhận ra ngay được lai lịch thực của Nguyễn Ái Quốc vốn là con trai của người bạn cũ của ông là Nguyễn Sinh Sắc. Hơn nữa, Phan Bội Châu đã quan tâm hơn đến chủ nghĩa xã hội và tư tưởng Các Mác, mặc dù theo ý kiến chung thì sự hiểu biết của ông về hệ tư tưởng Mác còn rất sơ sài.

Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Đông hai tháng sau khi Phan Bội Châu đi Hàng Châu vào tháng 9, nhưng rõ ràng là ông đã biết đến bài phát biểu của ông từ các thành viên của Tâm Tâm Xã. Theo các nguồn tin tình báo Pháp, Nguyễn Ái Quốc đến Thượng Hải vào tháng 1 năm 1925 để gặp Phan Bội Châu. Tuy nhiên, mật thám Pháp đã tường thuật rằng không có sự liên hệ nào giữa hai người vào thời điểm đó.

Cho đến lúc đó, Phan Bội Châu đã biết được lai lịch thật của Lý Thuỵ, vì vào khoảng tháng 2 hay tháng 3, ông đã viết thư cho Nguyễn Ái Quốc từ Hàng Châu, ca ngợi công việc của Nguyễn Ái Quốc và nhắc ông nhớ về cuộc gặp trước đó của họ ở làng Kim Liên hai thập kỷ trước đó. Phan Bội Châu cũng bày tỏ mong muốn cộng tác với người đồng hương trẻ và muốn đến Quảng Đông để gặp anh ta. Đáp lại, Nguyễn Ái Quốc đã cố gắng giải thích về sự cần thiết phải tổ chức lại đảng của Phan Bội Châu và nói về chiến lược của ông và học thuyết Lê-nin đằng sau chiến lược đó. Phan Bội Châu đã đồng ý hợp tác và cung cấp cho người thanh niên danh sách các thành viên trong tổ chức của mình.

Nhưng Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng nhận ra rằng Phan Bội Châu và nhiều đồng sự nhiều tuổi của ông không thể làm cơ sở cho phong trào cách mạng mới mà ông đã thấy trước. Ông nhanh chóng tập trung mọi sức lực để chuyển Tâm Tâm Xã thành một tổ chức cách mạng Mác-Lê-nin mới. Bước đầu tiên của ông là thành lập một hạt nhân gồm những môn đệ tận tâm thành một cộng sản Đoàn mới, hoạt động dưới danh nghĩa một tổ chức lớn hơn mà ông vừa thành lập. Trong số những thành viên sáng lập này là năm nhân vật chủ chốt của Quốc dân đảng Đông Dương, gồm có Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong và Hồ Tùng Mậu. Họ cùng lập một danh sách các cá nhân từ năm tỉnh khác nhau ở Đông Dương làm cơ sở cho một tổ chức cách mạng trong nước. Các đặc phái viên được cử từ Quảng Đông đến hộ tống họ sang  Trung Hoa để đào tạo các phương pháp tổ chức; sau đó, những người được tuyển dụng sẽ quay về các tỉnh nhà. Các thành viên nhiều hứa hẹn khác của phong trào sẽ được cử đến Mát-xcơ-va để được truyền bá học thuyết và thực tiễn cách mạng ở Trường Xta-lin. Nguyễn Ái Quốc cũng đã thực hiện các bước để thiết lập một cơ sở cách mạng ở Xiêm cũng như ở một số thành phố khác ở Nam Trung Hoa, nơi một trụ sở tạm thời có thể sẽ được đặt ở đó trong trường hợp các hoạt động ở Quảng Đông bị làm gián đoạn. Cuối cùng, ông có kế hoạch tuyển dụng các đảng viên trong số những thuỷ thủ Việt Nam phục vụ trên tàu dọc theo bờ biển Nam Trung Hoa để làm đầu mối liên lạc đáng tin cậy giữa các trụ sở và nhiều cơ sở đảng ở Đông Dương.

Sự xuất hiện đột ngột của người thanh niên lạ mặt đầy nhiệt huyết ở trụ sở của Quốc tế cộng sản đã gây sự chú ý của các nhà chức trách Pháp ở Quảng Đông và cả ở Đông Dương. Trung tuần tháng 2 năm 1925, theo các báo cáo thì người mới đến tự xưng là Lý Thuỵ đã liên lạc với các thành phần cấp tiến trong cộng đồng người Việt lưu vong ở Nam Trung Hoa dẫn đến việc các nhà chức trách Pháp ở Hà Nội và Quảng Đông lo lắng kêu gọi Bộ Thuộc địa làm rõ nơi ở hiện tại của Nguyễn Ái Quốc. Lúc đầu, Pa-ri báo là Nguyễn Ái Quốc vẫn đang ở Mát-xcơ-va, nhưng sau vài tuần các nhà chức trách Pháp bắt đầu nghi ngờ ông Lý Thuỵ đầy bí ẩn thực ra là Nguyễn Ái Quốc. Ở Quảng Đông, một sĩ quan cảnh sát người Pháp mới đến với tên hiệu là “Nô-en” đã thúc điệp viên của mình xác minh lai lịch của người lạ đó.

Điệp viên được việc nhất của Nô-en là đồng sự của Nguyễn Ái Quốc tên là Lâm Đức Thứ, người mà dù có phẩm chất yêu nước đã đồng ý làm người cung cấp tin tức cho Pháp. Với bí danh “Pi-nốt”, Thứ đã cung cấp cho Pháp thông tin hữu ích về các hoạt động của phong trào cách mạng Việt Nam cho đến cuối thập kỷ. Lúc đầu, Thứ tức giận khi phải cố sức thu thập thông tin để xác minh lai lịch của người mới đến. Ông cho biết là Lý Thuỵ rất thận trọng và từ chối không chụp ảnh. Nhưng ông đã chụp được ảnh của Lý Thuỵ cùng với một nhóm đông người trước trụ sở của Quốc dân đảng vào tháng 3. Từ bức ảnh đó, các điệp viên của Sở Mật thám khẳng định rằng Lý Thuỵ chính là Nguyễn Ái Quốc.

Cuối mùa xuân, nỗ lực của Nguyễn Ái Quốc nhằm thiết lập một tổ chức cách mạng hoạt động theo các nguyên tắc Mác-Lê-nin và với sự hướng dẫn của Quốc tế cộng sản đã tiến triển tốt đẹp. Theo một trong những thành viên chính nhớ lại, quyết định chính thức về việc thành lập một đảng cách mạng mới đã được đưa ra vào khoảng đầu tháng 6. Vài ngày sau đó, cuộc họp đầu tiên đã được tổ chức tại nhà của Lâm Đức Thứ ở trung tâm Quảng Đông. Các thành viên chủ chốt của Nhóm cộng sản của Nguyễn Ái Quốc cũng được tham gia với tư cách là các thành viên sáng lập. Mặc dù tên chính thức của tổ chức mới này vẫn còn chưa ngã ngũ, chẳng bao lâu sau nó được biết đến với cái tên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

Nguyễn Ái Quốc cũng bắt đầu xuất bản tờ báo Thanh Niên, để tuyên truyền tư tưởng của nhóm, một trường đào tạo đã được thành lập ở trung tâm Quảng Đông để tuyên truyền cho những người mới được tuyển. Nguyễn Ái Quốc vẫn áp dụng chiến thuật mà ông đã sử dụng thành công ở Pa-ri bằng cách thiết lập một liên minh rộng mở hơn gồm các nhà hoạt động cấp tiến từ một số nước thuộc địa và bán thuộc địa ở châu Á. Vào cuối tháng 6, ông đã phối hợp với nhân viên người Ấn Độ của Quốc tế cộng sản M.N.Roi và nhà lãnh đạo cánh tả Quốc dân đảng Li-ao Dông-cai thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức. Li-ao Dông-cai lãnh đạo tổ chức này và Nguyễn Ái Quốc làm tổng thư ký kiêm thủ quỹ. Hội bao gồm các thành viên từ Triều Tiên, Ấn Độ, Trung Hoa và Đông Ấn thuộc Hà Lan (nhiều người trong số đó đã bị cuốn hút bởi Quảng Đông, được biết đến với cái tên “Đông Mát-xcơ-va” do quan hệ giữa Tôn Dật Tiên với Quốc tế cộng sản), cũng như từ Đông Dương. Hội đã tổ chức cuộc họp đầu tiên ở Quảng Đông vào giữa tháng 7. Một tuyên bố được đưa ra nhân dịp đó lên án nghiêm khắc những hành động tàn ác của chủ nghĩa đế quốc và kêu gọi nhân dân bị áp bức ủng hộ phong trào cách mạng thế giới.

Trong thời gian ngắn lưu lại ở Quảng Đông, Nguyễn Ái Quốc chủ yếu dành thời gian cho hoạt động của hội. Hội được thành lập một cách khôn khéo để thể hiện những đánh giá của ông về tình hình đang nổi lên ở Đông Dương. Nhu cầu trước mắt là thu hút các trí thức yêu nước và các thành phần cách mạng dân tộc khác tham gia sự nghiệp chung để cung cấp những nhân vật chủ chốt cho việc thành lập một đảng cộng sản chính thức. Vì những lý do thực tiễn, cơ sở chính cho lời kêu gọi đó là cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc. Tuy nhiên, điều cần thiết là giành được sự ủng hộ của công nhân và nông dân bị áp bức, những người mà đối với họ độc lập dân tộc không thiết thực bằng cuộc đấu tranh cùng cực vì miếng cơm manh áo hằng ngày. Hội cũng cần đặt nền móng cho giai đoạn hai của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Những bài báo của tờ Thanh Niên, nhiều mục trong đó do chính Nguyễn Ái Quốc viết, đã cẩn thận đặt nền móng cho một tầm nhìn mới vượt qua vấn đề độc lập dân tộc và bao gồm cả mục tiêu cách mạng thế giới rộng lớn hơn.

Do đó, chương trình của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã tập trung vào hai trụ cột là chủ nghĩa dân tộc và cách mạng xã hội. Khi gắn kết hai vấn đề này, Nguyễn Ái Quốc trung thành với mô hình của Lê-nin mà trước đó đã được Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ hai thông qua năm 1920. Nhưng khi Lê-nin coi tình cảm dân tộc chủ yếu là một thủ đoạn mang tính chiến thuật để giành được sự ủng hộ của các thành phần theo chủ nghĩa dân tộc chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc thế giới, chương trình của Hội và nhiều bài viết trong tờ báo của Hội dường như coi trọng vấn đề chủ nghĩa dân tộc không kém, nếu không muốn nói là hơn so với vấn đề cách mạng thế giới.

Việc nhấn mạnh chủ nghĩa dân tộc trong chương của Hội, một đặc điểm sau này trở thành một phần không thể thiếu được của hình ảnh Nguyễn Ái Quốc với tư cách là một người yêu nước và một nhà cách mạng, là một trong các yếu tố mà qua thời gian, một số nhà quan sát đã đặt dấu hỏi về sự gắn bó của ông đối với ý thức hệ Mác-xít và cuộc đấu tranh để xây dựng xã hội cộng sản không tưởng. Thực ra, trong những năm 1920, nghi ngờ về sự trung thành của ông với học thuyết Mác-xít thậm chí đã xuất hiện ở Mát-xcơ-va và một số thành viên của chính tổ chức đảng của ông; như chúng ta thấy, vài năm sau, sự chỉ trích đó đã xuất hiện trên các ấn phẩm.

Có các lý do xác đáng để lập luận rằng Nguyễn Ái Quốc trước hết là một nhà yêu nước. Năm 1961, chính ông đã thừa nhận trong một bài báo ngắn “Con đường đưa tôi đến chủ nghĩa Lê-nin” rằng chính khát vọng giành độc lập cho Việt Nam trước tiên đã đưa ông đến với chủ nghĩa Mác. Và  trong khi người thầy của ông, Lê-nin dường như xem mối quan hệ giữa những người cộng sản và những người tư sản dân tộc như một thủ đoạ chiến thuật để tăng cường các đảng cộng sản ở các xã hội có giai cấp công nhân còn bé nhỏ thì Nguyễn Ái Quốc lại nhìn nhận vấn đề độc lập dân tộc như là mục tiêu cuối cùng và chế độ cộng sản không tưởng chỉ là một ý tưởng đến sau và có thể trì hoãn đến một tương lai vô định. Ông thường nói rằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam sẽ được tiến hành vào thời điểm thích hợp.

Tuy nhiên, cũng có các bằng chứng thuyết phục chứng tỏ rằng Nguyễn Ái Quốc thời trẻ nhìn nhận chủ nghĩa Mác-Lê-nin không chỉ là một công cụ để đánh đuổi người Pháp. Dù ông hiếm khi đề cập học thuyết Mác-xít trong các bài viết của mình, trong những năm ông ở Pa-ri và trong thời gian học tập sau này ở Mát-xcơ-va, ông luôn nói về tương lai của cách mạng thế giới với sự nhiệt thành ngày càng tăng rằng, theo suy nghĩ của ông, cách mạng thế giới nhất định sẽ chấm dứt hệ thống bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Ông cho rằng cuộc đấu tranh chống lại các lực lượng đế quốc ở châu Á sẽ lên đến đỉnh cao là một cuộc cách mạng toàn cầu. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn một phóng viên Xô-viết trước khi qua đời, Hồ Chí Minh thừa nhận rằng nhiệt tình cách mạng tuổi trẻ của ông có thể đã hơi thái quá và buồn bã nói rằng khi sống ở Liên Xô, ông đã mắng mỏ một phụ nữ trẻ vì đã mặc váy lụa dài và đi giày cao gót. Ông nhớ lại rằng cô này đã đáp lại đầy phẫn uất rằng tự tay cô đã làm tất cả những thứ đó. Cô hỏi: “Giới trẻ ngày nay có cơ hội để ăn ngon mặc đẹp có phải là điều tồi tệ không?”. Nhiều thập kỷ sau, lời nói của cô vẫn còn đọng lại trong tâm trí ông.

Nếu nói hồi đó ông vừa là người dân tộc chủ nghĩa, vừa là nhà Mác-xít là đúng thì làm thế nào ông có thể kết hợp hài hoà giữa chủ nghĩa yêu nước và những đòi hỏi của chủ nghĩa Mác-xít quốc tế? Câu trả lời có thể tìm thấy ở Lê-nin. Khi định nghĩa về khái niệm cuộc cách mạng hai giai đoạn trong “Luận cương về các vấn đề Dân tộc và Thuộc địa” của mình, Lê-nin đã đưa ra khái niệm một “liên bang” đóng vai trò như một giai đoạn chuyển tiếp giữa độc lập dân tộc và giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản, khi có sự “thống nhất hoàn toàn của nhân dân lao động thuộc các quốc gia khác nhau”. Lê-nin xem các liên bang được lập ra vào đầu những năm 1920 giữa nước Nga cách mạng và Phần Lan, Hung-ga-ri và Lát-vi-a, giữa A-déc-bai-dan và Ác-mê-ni-a như là các mô hình có thể cho các nước liên kết các quốc gia độc lập và “các liên minh liên bang” như các thí dụ làm thế nào các liên minh có thể được thiết lập trong giai đoạn quá độ chuyển sang chủ nghĩa cộng sản toàn cầu trong một tương lai lâu dài. Nguyễn Ái Quốc rõ ràng là đã tiếp thụ được các học thuyết đó khi ông sống tại Liên Xô năm 1923-1924, và ông đã đề cập khái niệm này trong một bức thư gửi Ban Chấp hành Quốc tế cộng sản III vào tháng 5 năm 1934 khi ông cố gắng biện minh cho đề xuất tuyển thêm các nhà cách mạng châu Á vào Trường Xta-lin như là một bước tạo “nền tảng mà trên đó Liên bang cộng sản của phương Đông có thể được xây dựng”.

Lần thứ hai Nguyễn Ái Quốc đề cập vấn đề một liên bang quá độ là trong một văn bản được phát hiện mới đây trong kho lưu trữ của Mát-xcơ-va. Trong khi tác giả chỉ được nêu là “Nguyễn” thì gần như chắc chắn là tài liệu này được Nguyễn Ái Quốc viết vào khoảng thời gian năm 1924. Trong báo cáo, “Nguyễn” bàn về ý tưởng một đảng cộng sản Việt Nam tương lai và tuyên bố rằng, với tầm quan trọng của vấn đề quốc gia tại đó, điều tối quan trọng là phải “giương cao ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc bản địa dưới danh nghĩa Quốc tế Cộng sản III”. Theo như nhận xét của một người quan sát tư sản thì đây là một “nghịch lý táo bạo”, nhưng lại là một “thực tế tuyệt vời”. Ông lập luận rằng hiện tại, không thể nào giúp nhân dân Việt Nam mà lại không tôn trọng thực tế cơ bản về tình hình xã hội đặc trưng của họ. Ông tiên đoán rằng vào thời điểm cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của họ thắng lợi “phần lớn thế giới đã được Xô-viết hoá, và như vậy, chủ nghĩa quốc gia tất yếu sẽ trở thành chủ nghĩa quốc tế”.

Sau khi đến Quảng Đông, Nguyễn Ái Quốc một lần nữa đề cập khái niệm này trong một dự thảo Cương lĩnh cho tương lai của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được viết vào tháng 2 năm 1925. Bản thảo hứa hẹn dành cho tất cả những ai muốn gia nhập tổ chức mới: thứ nhất, tham gia cuộc đấu tranh lật đổ chủ nghĩa đế quốc và tái thiết lập độc lập dân tộc, sau đó chuyển sự chú ý sang cuộc đấu tranh xoá bỏ phân biệt giai cấp và tham gia cách mạng thế giới, “mục tiêu cuối cùng của cuộc đấu tranh của chúng ta”. Lời cam kết xuất hiện trong chương trình của Hội và cuối cùng được đưa ra vào tháng 6 và được đề cập trong một bài báo phát hành tháng 7 trên tờ Thanh Niên: “Sau cuộc cách mạng chính trị và xã hội vẫn còn có những dân tộc bị áp bức. Vẫn còn có sự khác biệt giữa các quốc gia. Khi đó điều cần thiết là phải có một cuộc cách mạng thế giới. Sau đó, các dân tộc ở khắp bốn phương trên trái đất sẽ là bè bạn của nhau. Đó sẽ là kỷ nguyên của tình anh em trên toàn thế giới”

Tại sao Nguyễn Ái Quốc lại tin rằng cần phải có cuộc cách mạng thế giới? Tại sao một cách tiếp cận phi bạo lực để giành độc lập dân tộc lại không đủ? Suy nghĩ của ông về các vấn đề này thường không xuất hiện trên các ấn phẩm, nhưng một bức thư ông viết từ Quảng Đông cho Nguyễn Thượng Huyền, một học trò của Phan Bội Châu đang sống cùng với nhà yêu nước lớn tuổi này ở Hàng Châu đã cho thấy một số điểm  thú vị về những quan điểm của ông. Ông Huyền là cháu của Nguyễn Thượng Hiền, một học giả yêu nước, từng là hiệu trưởng của Trường Đông kinh Nghĩa thục Hà Nội. Mùa xuân năm 1925, ông Huyền đã gửi cho ông Nguyễn Ái Quốc một bản sao bài báo về cách mạng mà ông vừa viết dự định sẽ cho xuất bản và hỏi ý kiến của ông Nguyễn. Trong bài viết, đó ông Huyền lấy nguồn gốc của khái niệm cách mạng từ cuốn sách Trung Hoa cổ Kinh Dịch trong đó nói rằng cách mạng tương đương với thay đổi triều đại. Sau đó, ông kết luận rằng cuộc đấu tranh chống lại chế độ thuộc địa đã thất bại bởi sự tàn bạo của người Pháp và rằng cách tốt nhất để giành độc lập là bằng các chiến thuật phi bạo lực tương tự phong trào tẩy chay mà Ma-hát-ma Gan-di phát động ở Ấn Độ thuộc Anh.

Trong thư trả lời, Nguyễn Ái Quốc nêu lên sự hoài nghi về nguồn gốc Trung Hoa của khái niệm này (Nguyễn Ái Quốc cho rằng cách mạng có nguồn gốc văn hoá phương Tây) và đưa ra định nghĩa riêng của mình, trong đó đối lập cách mạng với cải cách. Cải cách, theo như Nguyễn Ái Quốc, liên quan đến những thay đổi về thể chế của một nước cụ thể nào đó. Cho dù cải cách có hay không đi kèm bạo lực thì một số trật tự cũ vẫn luôn tồn tại. Thay đổi triều đại, mặt khác hoàn toàn xoá bỏ một hệ thống và thay bằng một hệ thống khác. Vì vậy, thay đổi triều đại không tương đương với cách mạng, vì những người chiến thắng vẫn giữ lại hệ thống quân chủ. Đối với trường hợp của Gan-di, Nguyễn Ái Quốc nói thêm, vị lãnh đạo tinh thần của Ấn Độ rõ ràng là một người cải cách hơn là nhà cách mạng, vì ông chỉ đòi hỏi người Anh cải cách các thể chế của Ấn Độ mà không kêu gọi người Ấn Độ nổi dậy giành độc lập, và ông cũng không đòi hỏi người Anh tiến hành các thay đổi toàn diện trong chính phủ Ấn Độ. Nguyễn Ái Quốc nhận xét rằng chỉ sau khi Anh từ chối các yêu sách của mình, Gan-di mới kêu gọi tẩy chay.

Đối với nhận xét của ông Huyền rằng cách mạng đã thất bại ở Việt Nam vì sự tàn ác của người Pháp, Nguyễn Ái Quốc đáp lại với đôi chút bực bội: “Anh trông đợi điều gì? Anh nghĩ rằng họ sẽ cho chúng ta tự do muốn làm gì thì làm, để chúng ta làm mọi cách để đuổi họ đi ư? Anh nghĩ rằng họ sẽ khoanh tay ngồi nhìn chúng ta tấn công vào lợi ích của chính họ ư? Thay vì trách cứ người khác, tôi cho rằng tốt hơn hết là tự trách mình. Chúng ta phải tự hỏi rằng “Tại sao người Pháp lại có thể đàn áp chúng ta? Tại sao nhân dân chúng ta lại ngu muội như vậy? Tại sao cách mạng của chúng ta chưa thành công? Bây giờ chúng ta phải làm gì?” Anh so sánh chúng ta với những kinh nghiệm thành công của Ai Cập và Ấn Độ, nhưng họ thì giống như cái ô tô có bánh xe và lái xe, còn chúng ta chỉ như cái khung gầm xe. Ấn Độ và Ai Cập có các đảng chính trị, có các đảng viên, các nhóm nghiên cứu, các hội nông dân. Và tất cả họ đều biết phải yêu nước như thế nào. Gan-di đã thực hiện chính sách tẩy chay, liệu chúng ta có làm được như vậy không? Các đảng của chúng ta đâu? Chúng ta chưa có đảng, không có tuyên truyền, không có tổ chức và anh vẫn muốn chúng ta sẽ tẩy chay người Pháp”.

Nguyễn Ái Quốc kết luận bằng một câu cách ngôn của La Phông-ten về những con chuột không dám gắn chuông vào con mèo để được báo động trước khi bị tấn công. Thế còn những người con của Rồng (tức là người Việt Nam), ông nêu câu hỏi: “Chúng ta mà lại như chuột à? Thật là nhục nhã”.

Tại Hàng Châu, Phan Bội Châu đã quan tâm chút ít đến sự xuất hiện của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Nguyễn Ái Quốc đã hứa sẽ giúp nhà yêu nước cao tuổi theo kịp các nhà hoạt động của mình, và họ đã nhất trí rằng Phan Bội Châu sẽ dàn xếp một chuyến đi đến Quảng Đông trong mùa hề năm 1925. Trong bức thư gửi Nguyễn Ái Quốc đầu năm đó, Phan Bội Châu đã ca ngợi sự sáng suốt và bề dày kinh nghiệm của người thanh niên này và tuyên bố rằng ông vui mừng khi biết có ai đó sẽ làm tiếp công việc của ông khi ông đã cao tuổi và trở nên lạc hậu. Tuy nhiên, Phan Bội Châu cũng nói rõ rằng ông muốn tham gia phong trào; trong một lá thư khác gửi Hồ Tùng Mậu, một trong các đồng sự của Nguyễn Ái Quốc, ông đã ngầm chỉ trích Nguyễn Ái Quốc bằng việc cảnh cáo những người yêu nước trẻ tuổi này không nên đi quá nhanh.

Thậm chí trước khi Phan Bội Châu có thể thực hiện các kế hoạch đi đến Quảng Đông, ông đã phàn nàn rằng Nguyễn Ái Quốc đang phớt lờ mình. Vào giữa tháng 5, Phan Bội Châu rời Hàng Châu đi Thượng Hải bằng tàu hoả, nhưng giới chức Pháp ở Trung Hoa đã được một mật thám là chính tuỳ tùng của ông thông báo về kế hoạch này. Khi tới nhà ga Thượng Hải, là tô giới quốc tế của thành phố, Phan Bội Châu đã bị các nhân viên an ninh cải trang thành lái tắc-xi của Pháp bắt và đưa về Hà Nội để xét xử với tội danh phản quốc.

Câu chuyện này đã gây tranh cãi kéo dài nhất trong lịch sử rối rắm của phong trào dân tộc chủ nghĩa Việt Nam. Ngay từ đầu, nhiều đảng viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã nghi ngờ rằng người phản bội Phan Bội Châu thông báo cho người Pháp là Nguyễn Thượng Huyền, thư ký riêng của ông. Bản thân Phan Bội Châu cũng viết tương tự trong hồi ký của mình. Tuy nhiên, một số nguồn tin dân tộc chủ nghĩa phi cộng sản lại cho rằng thủ phạm chính là người cộng sự gần gũi của Nguyễn Ái Quốc, ông Lâm Đức Thứ, hoặc thậm chí chính Nguyễn Ái Quốc đồng loã với ông Thứ cố tình phản bội Phan Bội Châu để giành tiền thưởng và tạo ra một vật hy sinh cho sự nghiệp dân tộc chủ nghĩa. Lời cáo buộc này cũng được một số cây viết phương Tây nhắc lại, dù không có bằng chứng cụ thể nào để khẳng định. Các nguồn tin cộng sản luôn luôn phủ nhận lời cáo buộc này, nhắc lại rằng âm mưu phản bội Phan Bội Châu là của Nguyễn Thượng Huyền, người cuối cùng đã rời bỏ phong trào cách mạng để làm việc cho Pháp.

Cuộc tranh cãi diễn ra chủ yếu là theo hướng ý thức hệ. Bằng chứng từ kho lưu trữ của Pháp không đưa ra kết luận dứt khoát, nhưng dường như cho rằng Nguyễn Ái Quốc không chịu trách nhiệm về vụ này. Cũng có những khả năng để buộc tội rằng Lâm Đức Thứ là chỉ điểm, vì khi là thành viên của Hội, ông đã là chỉ điểm rồi, và có tin rằng ông đã nhận trách nhiệm về hành động đó trong những năm về sau. Nhưng giả thuyết đó có thể không có cơ sở; một báo cáo của mật vụ viết tại thời điểm đó khẳng định rằng có một chỉ điểm Pháp – có thể, nhưng không chắc chắn là Nguyễn Thượng Huyền – đã sống với gia đình Hồ Hắc Lâm ở Hàng Châu. Ông ta có thể có các thông tin tốt hơn về phong trào của Phan Bội Châu và có thể cung cấp các thông tin đó cho người Pháp. Ông Thứ được nhiều người biết đến như một kẻ khoác lác và có thể đã nhận có dính líu đến vụ bắt giữ này để khuếch trương tầm quan trọng của bản thân. Rất có khả năng là ông Huyền đã phản bội Phan Bội Châu.

Trong tình huống nào đi nữa, khó có khả năng là Nguyễn Ái Quốc được lợi gì khi Phan Bội Châu bị Pháp bắt. Điều này không có nghĩa là phủ nhận khả năng ông có thể phản bội nhà yêu nước cao tuổi này nếu ông tin rằng điều đó phục vụ lợi ích cách mạng. Giá trị của Phan Bội Châu rõ ràng đã bị hạn chế bởi tuổi tác, thiếu tinh tế chính trị và thái độ miễn cưỡng tán thành cách tiếp cận bạo lực. Vào năm 1925, ông rõ ràng là có giá trị như một biểu tượng của chủ nghĩa dân tộc hơn là một người thực sự tham gia phong trào kháng chiến và sự căm thù dấy lên ở Việt Nam do việc ông bị bắt và bị kết án có thể là hành động tuyên truyền nào đó cho sự nghiệp cách mạng. Mặt khác, Hội cũng không chú trọng lắm đến tuyên truyền việc Phan Bội Châu bị bắt mà vẫn tiếp tục tập trung sự chú ý vào sự hy sinh anh dũng của Phạm Hồng Thái, cái chết của ông đã là phương tiện thúc đẩy chính cho việc giáo dục người mới tuyển ở Quảng Đông.

Liệu nhu cầu tài chính có thể là động cơ Nguyễn Ái Quốc trao Phan Bội Châu cho Pháp như một số người lập luận? Không thể bị phủ nhận hoàn toàn lời cáo buộc này bởi vì Nguyễn Ái Quốc chỉ có được nguồn tài trợ hạn hẹp của đảng Cộng sản Trung Quốc và đôi khi buộc phải dùng nguồn tài chính riêng để tiến hành các hoạt động của mình. Nhưng mặt khác, Nguyễn Ái Quốc chưa chắc đã dám mạo hiểm làm việc đó vì có thể chính người Pháp lại công khai tiết lộ âm mưu này và làm mất uy tín của Hội và ngưòi lãnh đạo bí mật của Hội. Xét cho cùng, ông chắc phải nhận thấy rằng việc Phan Bội Châu tự do sẽ có lợi hơn vì ông có thể đóng vai trò người đứng đầu không có thực quyền, một người đứng ở phía trước để kiểm soát trong một mặt trận thống nhất do những người cộng sản chiếm đa số. Điều đáng nói là trong các phát biểu đưa ra trong thời gian sống lưu vong cho đến cuối đời, Phan Bội Châu tiếp tục đánh giá cao Nguyễn Ái Quốc và không bao giờ nói công khai rằng ông có thể buộc trách nhiệm về việc mình bị bắt giữ ở Thượng Hải cho người đồng sự trẻ tuổi hơn này.

Phiên toà xử Phan Bội Châu được mở ở Hà Nội trước Uỷ ban Hình sự Hà Nội ngày 23 tháng 11 năm 1925. Bên bị được hai luật sư giúp đỡ, nhưng mặc dù có sự có mặt của một đám đông lớn biểu tình ủng hộ Phan Bội Châu – khi bên nguyên yêu cầu tử hình, một ông già thậm chí còn yêu cầu chết thay cho ông – ông  phải nhận bản án chung thân khổ sai. Năm đó Phan Bội Châu 58 tuổi. Ngày hôm sau, biểu tình diễn ra trên toàn quốc và sinh viên ở Hà Nội in truyền đơn rải trên các đường phố. Vài ngày sau, một Toàn quyền mới đến Hà Nội. Là một đảng viên đảng Xã hội và là người chỉ trích chính sách thuộc địa của Pháp, ông A-lếch-xan-đơ Va-ren không hề mong muốn bắt đầu nhiệm kỳ của mình với một vụ tai tiếng như thế, và sau khi gửi một bức điện về Pháp để xin phép, tháng 12, ông giảm án cho Phan Bội Châu thành quản thúc tại nhà ở Huế.

Trước khi giảm án, Va-ren tìm cách dụ dỗ kẻ nổi loạn cao tuổi này hợp tác với chế độ thuộc địa. Ban đầu, Phan Bội Châu từ chối, nhưng sau này, ông dịu dần và mặc dù vẫn có quan hệ thường xuyên với các thành viên của phong trào dân tộc chủ nghĩa, thỉnh thoảng ông lại đưa ra các bài phát biểu trước sinh viên của trường Quốc học Huế, Phan Bội Châu ca ngợi chất lượng giáo dục cao của Pháp tại Đông Dương. Những bài phát biểu như vậy làm dấy lên sự giận dữ trong phong trào dân tộc chủ nghĩa và khiến Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Đông bình luận rằng đó là những “lời chẳng có nghĩa lý gì”. Theo thông tin của một chỉ điểm của Pháp, một số người dân tộc chủ nghĩa còn có cuộc tranh luận xem liệu có nên có hành động bạo lực chống lại ông không. Phan Bội Châu chết năm 1940.

Trong khi việc xét xử Phan Bội Châu đang được tiến hành, nhà cải cách cao tuổi Phan Châu Trinh trở về Đông Dương sau hơn một thập kỷ ở nước ngoài. Việc ông về đến Sài Gòn khiến cho dân chúng phấn khởi và các bài phát biểu của ông trong vài tháng sau đó với nội dung ủng hộ một chính sách cải cách phi bạo lực đã thu hút được nhiều sự quan tâm. Khi ông chết vì bệnh ung thư ở tuổi 53, đám tang của ông đã trở thành dịp để dân chúng toàn quốc biểu lộ sự thương tiếc; hàng ngàn người xếp hàng trên các đường phố để nhìn quan tài của ông được đưa từ Sài Gòn tới khu nghĩa trang ở gần sân bay Tân Sơn Nhất, ngoại vi phía bắc của thành phố. Nguyễn Ái Quốc rõ ràng không tán thành những hành động đông đảo như vậy với lý do là nó làm phân tán sự chú ý của công chúng vào những vấn đề quan trong hơn. Theo một báo cáo của mật vụ, khi ông nghe báo cáo về biểu tình xung quanh đám tang của Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét rằng có thể chúng đã được báo chí Pháp thổi phồng lên để làm bẽ mặt Toàn quyền Va-ren, người tìm cách làm cho chính sách thuộc địa của Pháp ở Đông Dương trở nên nhân đạo hơn.

Qua các nỗ lực của Nguyễn Ái Quốc, các đồng nghiệp gần gũi của ông ở trong Nhóm cộng sản Đông Dương đã dần dần được tiếp thụ các ý tưởng của chủ nghĩa Mác-Lê-nin. Đồng thời, dòng người Việt Nam yêu nước liên tục được tuyển mộ và đưa sang Quảng Đông, nơi họ được đào tạo và giáo dục tại trường đào tạo có cái tên rất ấn tượng là Viện Chính trị đặc biệt cho Cách mạng Việt Nam. Viện này lúc đầu đặt ở phố Reng-xing. Khi trở nên quá chật chội, trường được chuyển sang một toà nhà ba tầng lớn hơn của những chủ nhân có cảm tình với cộng sản ở phố Oen Minh, qua trường Đại học Quảng Đông (bây giờ là bảo tàng Lỗ Tấn) và gần với đại bản doanh của đảng Cộng sản Trung Quốc. Trường xây theo kiểu Trung Hoa, tầng một dành làm cửa hàng. Các lớp học được tổ chức ở tầng hai trong một phòng học lớn có số ghế tựa, một chiếc bàn và có ảnh của các bậc tiền bối cộng sản treo trên tường. Sau lớp học là một văn phòng nhỏ và một chiếc giường dành cho Nguyễn Ái Quốc. Tầng ba là chỗ ngủ cho học viên. Có một cửa ẩn dẫn ra một lối đi bí mật trong trường hợp bị cảnh sát tấn công. Bếp nằm ở mảnh vườn phía sau nhà.

Hầu hết các giáo viên Việt Nam ở trường như Hồ Tùng Mậu hay bản thân Nguyễn Ái Quốc đều là đảng viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nhưng đôi khi cũng có những giảng viên mời từ đảng cộng sản Liên Xô như Va-xi-lin Blu-chơ (Galen) P.A. Páp-lốp, M.V.Cu-bai-sốp và V.M.Pri-ma-cốp hoặc từ phía đảng Cộng sản Trung Quốc, các nhà lãnh đạo tương lai như Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và Li Fuqun cũng như nhà tổ chức nông thôn Peng Pai. Một phần ba chi phí của lớp học là do đảng Cộng sản Trung Quốc chịu, phần còn lại được tài trợ từ các tổ chức địa phương hoặc từ nguồn quyên góp của học viên Việt Nam của Học viện Quân sự Hoàng Phố từ học bổng hằng tháng của họ. Chương trình của học viện được mô phỏng khá giống với các viện đào tạo ở Liên Xô, với các lớp học có các môn như sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản, tư tưởng Mác-Lê-nin, tổ chức của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và tình hình thế giới hiện tại. Để giúp làm quen với các điều kiện địa phương, cũng có các khoá học về tư tưởng của Tôn Dật Tiên (điều mà Nguyễn Ái Quốc cho là một dạng chủ nghĩa xã hội sơ khai) và tiếng Trung Hoa. Một trong những khoá học do Nguyễn Ái Quốc dạy là về khái niệm Lê-nin về mặt trận thống nhất.

Theo trí nhớ củ nhiều học viên, Nguyễn Ái Quốc, người giảng dạy dưới biệt hiệu là Vương, là giáo viên được ưa chuộng nhất ở trường. Họ nhớ ông là người mảnh dẻ, mắt sáng và giọng nói ấm áp, thánh thiện và hài hước mặc dù ông ít khi cười. Ông Vương rất dễ gần và kiên nhẫn với học viên. Ông giảng giải các từ khó và đưa ra những giải thích rất chi tiết về những khái niệm khó. Ông đọc nhiều, và là cuốn từ điển sống về các con số thống kê. Một trong các học viên nhớ lại “với việc thuộc làu làu ngày tháng và các con số, ông có thể nói cho chúng tôi về số tấn gạo mà thực dân Pháp đã cướp đoạt để gửi về mẫu quốc, về lãi ròng lớn của Ngân hàng Đông Dương, về các thùng đồ cổ quý từ các cuộc khai quật khảo cổ mà Toàn quyền Va-ren đã chất lên tàu đưa về Pháp”.

Như ở Pa-ri, Nguyễn Ái Quốc không những chỉ là giảng viên mà còn là cố vấn tinh thần, một phụ huynh và là cổ động viên tại chỗ. Ông dạy về cách ăn nói và hành vi sao cho chính trực (để phục vụ sự nghiệp cách mạng), về cách nói trước công chúng, cách phát biểu trước đám đông công nhân, nông dân, trẻ em và phụ nữ , cách nhấn mạnh sự nghiệp dân tộc và nhu cầu có cách mạng xã hội, cách đối xử không kẻ cả với những người nghèo và mù chữ. Ông rất chăm lo xem xét các điều kiện sống và ăn uống của họ để bảo đảm rằng họ khoẻ mạnh và được chăm sóc tốt; khi họ buồn và chán, ông động viên họ. Một cựu học viên nhớ lại về tính lạc quan cao độ của ông. Khi các sinh viên tỏ ra thất vọng vì sự tham nhũng đê tiện của các quan chức Việt Nam và sự thiếu quan tâm, phớt lờ đối với dân cư ở các làng, ông đáp: “Chính những vật cản trở và sự đồi bại của xã hội này khiến cho việc làm cách mạng trở nên cần thiết. Một nhà cách mạng trước hết phải lạc quan và tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng”.

Sau khi kết thúc chương trình đào tạo, kéo dài từ ba đến bốn tháng, các học viên thường đi cùng Nguyễn Ái Quốc trong một chuyến thăm có tính nghi thức tới mộ của bảy mươi hai liệt sĩ cách mạng Trung Hoa ở đồi Hoàng Hoa, ngoại vi Quảng Đông và mộ của người liệt sĩ yêu nước Phạm Hồng Thái, họ đọc lại những lời thề có tính nghi lễ là phụng sự cho sự nghiệp cách mạng. Sau đó, hầu hết trong số họ trở về Việt Nam. Một số học viên tài năng hơn như Lê Hồng Phong, đảng viên của Tâm Tâm Xã được gửi đi Mát-xcơ-va để đào tạo thêm. Một số khác lại làm việc cho cảnh sát Trung Hoa hoặc các lực lượng vũ trang hoặc được đưa vào làm cho Học viện Quân sự Hoàng Phố nổi tiếng do Quốc dân đảng điều hành với sự giúp đỡ của Quốc tế cộng sản III. Nguyễn Lương Bằng, một thành viên xuất thân từ một gia đình nông dân, được chỉ thị tìm việc làm tại một hãng tàu biển hơi nước để thiết lập mạng lưới liên lạc giữa Hồng Công và cảng Hải Phòng của Việt Nam. Đến mùa xuân năm 1927, hơn 70 học viên đã theo học tại trường.

Khi trở về Việt Nam, số học viên tốt nghiệp từ Học viện tìm cách quảng bá cho học thuyết cách mạng trong số bạn bè và người quen và tuyển những người mới để gửi đi Quảng Đông. Vì hầu hết các học viên tốt nghiệp này xuất thân từ tầng lớp trí thức, điều tất yếu là những người đầu tiên mà họ tuyển cũng có xuất xứ tương tự. Các nguồn tin tình báo Pháp ước tính rằng khoảng 90 phần trăm số học viên thuộc tầng lớp trí thức tiểu tư sản, số còn lại là công nhân hoặc nông dân. Họ từ khắp mọi miền của đất nước, nhưng có một số lớn là từ quê của Nguyễn Ái Quốc, Nghệ An và các nơi khác thuộc miền Trung Việt Nam. Đến năm 1928, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã có khoảng 300 đảng viên ở Đông Dương, 150 người từ Nam Bộ (chủ yếu là Sài Gòn và các thị xã của các tỉnh châu thổ là Mỹ Tho và Cần Thơ), 80 ở Trung Kỳ (đặc biệt là Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Ngãi) và 70 ở Bắc Kỳ (Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng). Một năm sau, số đảng viên đã tăng lên 1.700 người.

Với việc thành lập Hội, Nguyễn Ái Quốc đã có bước đi đầu tiên hướng tới cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Rõ ràng, đó là một bước đi nhỏ và thận trọng, nhưng là một sự khỏi đầu càn thiết. Như ông đã viết vài năm trước đó: “Nói rằng một khu vực (thí dụ Đông Dương) với hơn hai mươi triệu dân bị bóc lột đã sẵn sàng cho một cuộc cách mạng là sai. Nhưng nói rằng khu vực đó không muốn có một cuộc cách mạng và bằng lòng với chế độ lại càng sai hơn.”

Nguyễn Ái Quốc đã có đủ kinh nghiệm để nhận ra rằng tuyên truyền đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng  một phong trào phôi thai. Tờ báo Thanh Niên đã giúp quảng bá thông điệp của ông. Được in tại Quảng Đông, tờ tuần báo này được gửi bằng đường biển vào Việt Nam. Tổng số 208 số đã được phát hành trong thời gian từ 21 tháng 6 năm 1925 đến tháng 5 năm 1930. Tạp chí được viết với văn phong giản dị quên thuộc của ông và được minh hoạ thêm bằng các khẩu hiệu và tranh biếm hoạ chế nhạo chế độ thuộc địa của Pháp và triều đình Huế yếu hèn. Cũng như tờ Người cùng khổ, Nguyễn Ái Quốc viết rất nhiều các bài xã luận dù khong ký tên mình. Hội cũng xuất bản hai tạp chí khác, tờ bán nguyệt san Lính Kách Mệnh và tờ nguyệt san Việt Nam Tiền Phong.

Phù hợp với các mục tiêu đã tuyên bố của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh Niên, tờ Thanh niên chủ yếu nhấn mạnh vấn đề độc lập dân tộc. Nhưng một số bài báo cũng đề cập chung chung đến vấn đề toàn cầu do chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản gây ra, nói một cách gián tiếp rằng chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới đem lại sự giải phóng và hạnh phúc xã hội. Trong một số báo, Nguyễn Ái Quốc chỉ ra rằng cách mạng là phương thuốc duy nhất cho căn bệnh của nước ông: “Cách mạng là sự thay đổi từ xấu sang tốt; nó là tổng thể của mọi hành động và qua đó một dân tộc bị áp bức trở nên mạnh  mẽ. Lịch sử của mọi xã hội đã dạy chúng ta rằng chỉ có cách mạng mới có thể đem lại một hình thức chính phủ, giáo dục, công nghiệp và tổ chức xã hội tốt hơn, v.v”. Chỉ có một số phát hành đầu mùa hè năm 1926 nói một cách công khai về chủ nghĩa cộng sản như là một giải pháp cho các vấn đề đang gây đau khổ cho các dân tộc Đông Dương.

Đối với các học viên dự khoá đào tạo, ông làm việc một cách nghiêm túc hơn. Hồi đó, gần như không có bất kỳ tài liệu gì về chủ nghĩa Mác-Lê-nin bằng tiếng Việt. Mặc dù Nguyễn Ái Quốc thường xuyên kêu gọi giúp đỡ nhưng ông nhận được rất ít tài liệu tuyên truyền từ Mát-xcơ-va. Để lấp vào chỗ trống đó, ông viết những tài liệu cơ bản sử dụng cho khoá học tại học viện đề cập các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Quyển sách mỏng nhan đề Đường Kách Mệnh giới thiệu khái quát chủ nghĩa Mác-Lê-nin và giải thích tính phù hợp của nó với Việt Nam. Mặc dù hầu hết các bản sao được các học viên trong lớp sử dụng, một số ít bản được đưa về Việt Nam cùng với tờ Thanh Niên.

Trong cuốn sách, thông điệp của Nguyễn Ái Quốc rất đơn giản. Vì các học viên thiếu sự tinh nhanh và không quen với các thuật ngữ phương Tây (từ Kách mệnh tiếng Việt chỉ xuất hiện vào đầu thế kỷ 20, tương đương với từ “revolution” trong tiếng Anh và “ge min” trong tiếng Hán, theo nghĩa đen là “thay đổi sứ mệnh”), điều không lấy gì làm ngạc nhiên là ông bắt đầu cuốn sách với một định nghĩa ngắn gọn về cách mạng. Ông nói, cách mạng là xoá bỏ cái cũ và xây dựng cái mới, hoặc xoá bỏ cái xấu để xây dựng cái tốt.

Sau đó, tác giả giải thích một cách ngắn gọn về các hình thức cách mạng. Theo ông, có ba loại hình cách mạng trên thế giới:

  1. Cách mạng tư bản chủ nghĩa, như trường hợp nổi dậy ở Pháp, Nhật Bản và Mỹ.
  2. Cách mạng dân tộc chủ nghĩa, như cuộc cách mạng hồi thế kỷ 19 ở I-ta-li-a và cuộc cách mạng năm 1911 ở Trung Hoa.
  3. Cách mạng giai cấp, như cuộc cách mạng Bôn-sê-vích ở Nga.

Tất cả các cuộc cách mạng đó, ông giải thích tiếp, cuối cùng sẽ xảy ra theo hai giai đoạn riêng biệt, giai đoạn đầu tiên là “cách mạng dân tộc chủ nghĩa” và giai đoạn thứ hai là “cách mạng thế giới”, khi công nhân và nông dân trên toàn thế giới đoàn kết để lật đổ trật tự của chủ nghĩa tư bản và đem lại hạnh phúc và sự đoàn kết cho nhân dân của mọi dân tộc.

Ý tưởng về một cuộc cách mạng hai giai đoạn đương nhiên là hoàn toàn của Lê-nin, nhưng Nguyễn Ái Quốc đã tự thêm vào một số sắc thái. Thứ nhất, mặc dù ông đã thận trọng khi viết rằng giai đoạn dân tộc chủ nghĩa của cách mạng thế giới sẽ được tiếp nối bởi một giai đoạn chủ nghĩa xã hội để đem lại hạnh phúc xã hội và đoàn kết toàn cầu, Nguyễn Ái Quốc không nói cụ thể khi nào thì giai đoạn thứ hai sẽ xảy ra, và nói gián tiếp rằng ở Việt Nam, điều đó sẽ không xảy ra cho đến khi toàn bộ thế giới đã sẵn sàng chuyển từ dân tộc chủ nghĩa sang giai đoạn cuối cùng chủ chủ nghĩa quốc tế. Điều này có thể phản ánh niềm tin của ông lúc đó rằng giai đoạn thứ hia sẽ không xảy ra ở Việt Nam cho đến khi đa số các nước trên thế giới đã trải qua các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của chính mình. Khi đưa ra khái niệm hai giai đoạn, Lê-nin đã cho rằng giai đoạn đầu tiên sẽ nhanh chóng chuyển sang giai đoạn hai, như đã xảy ra ở nước Nga Xô-viết.

Thứ hai, như chúng ta thấy, Nguyễn Ái Quốc đề cao giá trị độc lập dân tộc trong tiến trình cách mạng hơn Lê-nin, giải thích điều đó như là một kết quả đáng mong muốn của sự liên kết giữa các giai cấp trong xã hội Việt Nam. Ông dự đoán rằng các cuộc đấu tranh tương tự nhằm giải phóng dân tộc cuối cùng sẽ nổ ra ở các nơi khác ở châu Á. Những giai cấp nào sẽ lãnh đạo cách mạng ở Việt Nam? Tất nhiên, đó là một trong các vấn đề mấu chốt trong cuộc tranh luận về chiến lược của Quốc tế cộng sản III. Lê-nin đã lấy chiến lược của mình dựa trên khái niệm về liên minh bốn giai cấp, với nòng cốt là liên minh công nông. Trong cuốn Đường Kách Mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra liên minh công-nông (những người làm việc nặng nhọc nhưng không nhận được thành quả lao động của họ) như là kẻ thù chính của những người tư bản (những người không làm việc nhưng lại nhận được tất cả lợi nhuận). Nhưng ông cũng lấy ý tưởng của Lê-nin về một mặt trận thống nhất đa giai cấp của các giai cấp tiến bộ để đi đến giai đoạn hai của cách mạng. Liên minh này có thể bao gồm sinh viên, tiểu thương, và thậm chí cả địa chủ nhỏ. Tuy nhiên, các nhóm như vậy sẽ không thể là đồng minh tin cậy của công nhân và nông dân khi tiến hành giai đoạn hai của cách mạng, bởi vì họ có thể chống lại giai đoạn xã hội chủ nghĩa. Như ông đã viết trong cuốn Đường Kách Mệnh, công nhân và nông dân là lực lượng lãnh đạo của cách mạng: “Bởi vì thứ nhất, công nhân và nông dân bị đàn áp nặng nề hơn; thứ hai, công nhân và nông dân đoàn kết nên sẽ có được sức mạnh lớn nhất; và thứ ba là họ sẵn đã nghèo, nên nếu bị thất bại, họ sẽ có cả thế giới. Đó là lý do tại sao công nhân và nông dân là gốc của cách mạng, trong khi sinh viên, tiểu thương và địa chủ, dù có bị đàn áp, nhưng không bị đau khổ như công nhân và nông dân, chỉ có thể là những người bạn cách mạng của công nhân và nông dân” .

Cuối cùng, mặc dù Nguyễn Ái Quốc theo Lê-nin nhấn mạnh tới sự cần thiết phải có sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, đặc biệt là trong giai đoạn hai củ cuộc cách mạng giai cấp, và nhấn mạnh trong toàn bộ cuốn sách một thông điệp ngầm rằng nông dân là một nhân tố tối quan trọng của liên minh cách mạng. Tất nhiên, đây là một lập trường mà ông đã nêu lên nhưng không mấy thành công ở Mát-xcơ-va. Ông lập luận rằng thiếu liên minh chặt chẽ giữa nông thôn và thành thị đã báo trước sự thất bại của cuộc cách mạng Công xã Pa-ri năm 1870-1871 và cuộc cách mạng Nga năm 1905. Chỉ khi hai giai cấp này liên minh lại, như đã xảy ra trong cuộc cách mạng Bôn-sê-vích năm 1917 thì cách mạng mới thành công. Ông cho rằng, điều này đặc biệt đúng với một nước như Việt Nam, nơi 90 phần trăm dân số sống dựa và nông nghiệp và rất nghèo. Giống như giai cấp vô sản trong Tuyên ngôn cộng sản của Các Mác, nông dân của Nguyễn Ái Quốc không có gì để mất ngoài xiềng xích. Tất cả những gì họ cần, như ông đã chỉ ra trong các bài báo viết ở Pháp, là sự lãnh đạo và tổ chức.

Nguyễn Ái Quốc thừa nhận rằng thắng lợi không phải dễ dàng, bởi vì khó có thể thay đổi một xã hội hàng nghìn năm thành một xã hội mới. Điều quan trọng nhất là có được một đảng cách mạng có khả năng huy động được quân chúng bị áp bức trong nước và liên lạc được với các đảng khác trên toàn thế giới. Ông viết rằng, giống như một con tàu không thể tiến lên nếu không có người chèo lái tốt, cuộc cách mạng không thể thành công nếu không có một đảng vững mạnh. Ông viết tiếp, một nhóm người nổi loạn có thể có đôi chút thành công bằng cách ám sát vài quan chức chính phủ. Những hành động như vậy chỉ có thể dẫn đến bị đàn áp chứ không dẫn đến giải phóng. Chìa khoá để có được một đảng vững mạnh là học thuyết của nó. Một đảng cần có một ý thức hệ mà các đảng viên có thể hiểu và theo đuổi. Một đảng không có ý thức hệ cũng giống như một người đàn ông không có trí khôn hoặc một con tàu không có la bàn.

Trong phần mở đầu của cuốn Đường Kách Mệnh, tác giả đã liệt kê một danh sách các đặc điểm có thể xác định “hành vi của nhà cách mạng”. Thật thú vị nếu đem so sánh danh sách này với cuốn “Hỏi đáp của một nhà cách mạng” nổi tiếng của tên khủng bố Nga thế kỷ thứ 19 Xéc-gây Nê-cha-ép. Nê-cha-ép nhấn mạnh rằng vai trò của nhà cách mạng cũng giống như một công cụ mù quáng của sự nghiệp cách mạng. Anh ta phải biết tàn nhẫn, thậm chí xảo quyệt để xúc tiến mục đích của mình. Anh ta phải tuân thủ tuyệt đối đối với đảng của mình, và sẵn sàng từ bỏ mọi mối quan hệ với bạn bè và gia đình. Anh ta cũng phải sẵn sàng hy sinh những chuẩn mực đạo đức thông thường để nói dối và lừa bịp vì lợi ích của cách mạng. Trong khi sự thái quá của Nê-cha-ép bị chỉ trích nhiều bởi các thành viên khác trong phong trào cấp tiếng Nga, bản thân nguyên tắc này lại được Lê-nin khá ngưỡng mộ và trở thành kinh thánh cho những người Bôn-sê-vích của ông.

Có một số điểm giống nhau giữa các nguyên tắc ứng xử của Nguyễn Ái Quốc và Lê-nin và đều bị ảnh hưởng bởi Nê-cha-ép. Cả hai đều nhấn mạnh nghĩa vụ của các đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng. Sự khác biệt chính nằm ở tinh thần phía sau hai loại chuẩn mực cách mạng này. Trong khi Lê-nin cho rằng các chuẩn mực đạo đức đương đại không thích ứng với quy tắc ứng xử cách mạng và trên thực tế, có những mâu thuẫn không thể điều chỉnh giữa hai mặt trên, chuẩn mực đạo đức cơ bản trong danh mục nguyên tắc ứng xử của Nguyễn Ái Quốc lại làm người ta nhớ lại đạo Khổng truyền thống: cần kiệm, thân ái, vô tư, kiên quyết sữa chữa khuyết điểm, cẩn trọng, tôn trọng học tập, nghiên cứu và quan sát, tránh kiêu căng, tự phụ và phải rộng lượng. Thực tế, trừ những phần đề cập đến đảng, những điều dạy bảo nhà cách mạng của Nguyễn Ái Quốc có thể dễ dàng được chấp nhận như là các chuẩn mực hành vi cho bất kỳ gia đình Nho giáo nào.

Tất nhiên, cũng có thể nói rằng nguyên tắc đạo đức cách mạng của Nguyễn Ái Quốc như là việc khoác một khái niệm mới lên một chiếc áo quen thuộc; chứ không phải là ý nghĩ đó chỉ thoáng qua trong đầu ông. Rốt cuộc, rõ ràng là nhóm người được tuyển mộ ban đầu cho sự nghiệp của ông đều xuất thân từ những gia đình có học. Mặc dù hầu hết từ chối ý thức hệ Nho giáo truyền thống, họ vẫn bị ảnh hưởng một cách vô thức bởi nhiều giá trị của nó, và Nguyễn Ái Quốc luôn tìm cách làm cho thông điệp của mình phù hợp với thiên hướng của người nghe. Dù vậy, các chuẩn mực đạo đức cá nhân mà ông dạy ở viện đã trở thành một trong những khía cạnh quan trọng trong di sản của ông cho phong trào cộng sản Việt Nam và không nên xem chúng như một thứ hình thức giả tạo. Đối với nhiều đồng nghiệp của Nguyễn Ái Quốc, chính cách cư xử của ông, hình ản về lòng tốt và sự giản dị, sự lạc quan vô tận của ông, sự nghiêm túc và tận tuỵ với sự nghiệp của ông là những gì được ghi nhớ nhất sau khi ông qua đời. Đạo đức cách mạng của Nguyễn Ái Quốc đã trở thành dấu son trong ảnh hưởng của ông đối với đảng của mình, và , đối với nhiều người, thì đó là đặc điểm riêng biệt của chủ nghĩa cộng sản Việt Nam.

Thông điệp của Nguyễn Ái Quốc chứa đựng một lô-gíc sâu xa cho Việt Nam. Tự bản thân mình, đất nước này dường như không có sức mạnh để giải phóng cho mình. Kể cả nhà dân tộc chủ nghĩa gan dạ Phan Bội Châu cũng đã đi ra nước ngoài, đầu tiên là Nhật Bản, sau đó là Trung Hoa để tìm sự giúp đỡ. Điều được khẳng định trong cuốn Đường Kách Mệnh là dân tộc Việt Nam sẽ phải tìm kiếm sự giúp đỡ của quần chúng cách mạng trên toàn thế giới để đấu tranh tự giải phóng. Đìeu cũng rất đáng hài lòng khi được biết là chính phương Tây cũng phải trải qua những giai đoạn biến động xã hội.

Những chỉ trích trong cuốn sách đối với các phong trào dân tộc chủ nghĩa trước đó đặc biệt có ý nghĩa đối với những người yêu nước Việt Nam trẻ tuổi. Điểm yếu của các tổ chức dân tộc chủ nghĩa là rất rõ ràng, tất cả các tổ chức này rõ ràng đều thiếu một ý thức hệ. Họ chỉ đơn giản là chỉ ra sự nghiệp chung là hiện đại hoá và độc lập dân tộc. Không tổ chức nào vạch ra một cách chi tiết những đặc điểm của một Việt Nam độc lập trong tương lai. Khác với các tổ chức trong khu vực, các phong trào dân tộc chủ nghĩa Việt Nam không có khả năng tập hợp xung quanh những biểu tượng của một tín ngưỡng tôn giáo chung. Đạo Phật không chấp nhận sự tồn tại trên thực tế thế giới vật chất và thuyết giáo một triết lý khổ hạnh, không thể là một tác nhân thay đổi thích hợp nữa. Nho giáo, mặc dù ăn sâu như một tập hợp các phương châm chính trị và xã hội vào giới quý tộc Việt Nam đã bị mất tín nhiệm vì sự đầu hàng hèn hạ của triều đình phong kiến trước người Pháp xâm lược. Kết quả là hầu hết các phong trào dân tộc chủ nghĩa phi cộng sản đều có xu hướng thiên về khu vực địa lý, bởi các chiến thuật hoặc bởi cá nhân. Hành động của các thành viên, dù nhiều khi dũng cảm, nhưng lại thường là các cử chỉ căm thù vô nghĩa chống lại một kẻ thù hùng mạnh, kẻ có thể làm các lực lượng nổi loạn chạy tán loạn chỉ với một cái vỗ tay.

Đường Kách Mệnh là nỗ lực đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc nhằm truyền bá học thuyết Mác-Lê-nin trong đồng bào mình. Là một tuyên bố về ý thức hệ, nó không mang lại được nhiều cho các nhà nghiên cứu nghiêm túc Việt Nam hiện đại hoặc sử học của phong trào cộng sản thế giới. Như Nguyễn Ái Quốc đã từng thừa nhận với các đồng sự của mình, việc miêu tả học thuyết Mác-Lê-nin và thực tiễn của nó vào trong cuốn sách chỉ có tính chất sơ khai và trong một số trường hợp rất khó hiểu. Phần trình bầy không tinh tế và sự mập mờ về ý thức hệ trong cách xử lý của Nguyễn Ái Quốc về khái niệm hai giai đoạn và liên minh bốn giai câp đã khiến một số người nghi ngờ liệu ông có hiểu học thuyết Mác-Lê-nin không, hoặc nếu không, sự cam kết của ông đối với học thuyết này là như thế nào. Bởi vì ông cũng không miêu tả một cách cụ thể “vai trò lãnh đạo” của giai cấp công nhân (một nguyên lý then chốt của chủ nghĩa Lê-nin) trong cuộc cách mạng Việt Nam, một số nhà quan sát đã cho rằng cuốn sách như là một thí dụ về “chủ nghĩa cộng sản nông dân”, một cách tiếp cận không chính thống đối với chiến lược cách mạng Mác-xít Lê-nin mà sau này người ta gán cho Mao Trạch Đông.

Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu như cố gắng suy luận quá nhiều về quan điểm của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện trong cuốn sách này. Khi đó, ông đang cố quảng bá các ý tưởng Mác-xít trong một xã hội chủ yếu là nông thôn và thiếu sự tinh tế chính trị. Có thể Nguyễn Ái Quốc- theo đúng niềm tin của mình cho rằng trong tuyên truyền, càng đơn giản càng tốt- đã cố tình tạo ra một thứ chủ nghĩa Mác phổ thông hay “bình dân” mà người dân Việt Nam có thể hiểu được trong bối cảnh riêng của mình. Mặc dù chưa thể hiện rõ sự am hiểu của ông đối với học thuyết Mác-xít, nhưng cuốn sách là một công cụ hữu hiệu để giới thiệu chủ nghĩa Mác-Lê-nin cho những người mới học.

Trong những năm sống ở Mát-xcơ-va, Nguyễn Ái Quốc đã bầy tỏ niềm tin rằng nông dân Việt Nam cũng như ở châu Phi và châu Á, là nạn nhân chính của chủ nghĩa thuộc địa phương Tây, và như vậy, đương nhiên là sẽ liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân. Trong cuốn sách, ông đã nêu lên rằng sự ủng hộ của nông dân sẽ là điều kiện tiên quyết cho thắng lợi. Ông có thể giải thích quan điểm của mình như là một cách hiểu chính thống của chủ nghĩa Lê-nin, thậm chí dù đường lối chính thức của Mát-xcơ-va từ lâu đã không phải như vậy. Dù sao chăng nữa, Nguyễn Ái Quốc rõ ràng là chẳng quan tâm gì đến các vấn đề lý thuyết. Nhận xét của ông trong cuốn Đường Kách Mệnh có thể đơn giản là nhằm mục đích làm rõ các lời bình luận mà ông đã đưa ra ở Mát-xcơ-va vài năm trước đây.

Tuy vậy, nhấn mạnh vai trò của nông dân, Nguyễn Ái Quốc đã có một bước tiến dài trong phát triển phong trào cách mạng Việt Nam. Các nhà lãnh đạo và các nhóm dân tộc chủ nghĩa khác chỉ nói đãi bôi về vai trò của quần chúng nông dân trong cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam. Phan Bội Châu đã nêu lên mong muốn có được sự ủng hộ của nông dân, nhưng lời kêu gọi của Phan Bội Châu là chung chung và ông đã không có bước đi cụ thể nào để biến nó thành hiện thực. Bằng việc nói lên quyết tâm của mình tập trung chú ý vào quần chúng ở nông thôn, Nguyễn Ái Quốc đã cố gắng cảnh tỉnh đồng bào mình cũng như các nhà cách mạng trên toàn thế giới thuộc địa về tầm quan trọng của nông thôn trong cuộc cách mạng sắp tới châu Á.

Trong vòng một vài tháng sau khi đến Quảng Đông, Nguyễn Ái Quốc đã tuyển được một nhóm những người cấp tiến trẻ có thể lãnh đạo một phong trào kháng chiến dân tộc mới và mạnh mẽ trong tương lai. Từ vị trí thuận lợi ở Nam Trung Hoa nhìn vào Việt Nam, tình hình có vẻ như khả quan. Bước vào năm 1925, sự bất bình âm ỉ lâu ngày của nhân dân Việt Nam đối với những kẻ cai trị thuộc địa bùng phát thành cuộc phản đối công khai. Được châm ngòi bởi vụ bắt giữ và xét xử Phan Bội Châu và đám tang của Phan Châu Trinh, điều xảy ra vài tháng sau đó, thái độ chống Pháp đã dâng cao nhanh chóng đến mức chưa từng thấy kể từ trước khi bùng nổ của Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.

Trong điều kiện đó, vài đảng chính trị phôi thai như đảng Thanh niên ở Nam Kỳ đã bắt đầu xuất hiện. Ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, Tân Việt Cách mạng đảng được các đảng viên cũ của tổ chức của Phan Bội Châu cùng cộng tác với một số các sinh viên trẻ yêu nước ở Hà Nội thành lập. Đảng Tân Việt có trong hang ngũ của mình các đảng viên có nhiều xu hướng chiến thuật khác nhau và niềm tin ý thức hệ khác nhau- từ những người theo trường phái cải cách cho đến những người ủng hộ bạo lực cách mạng, từ những người ủng hộ mô hình phương Tây cho đến những nhà cách mạng Mác-xít và những người đi theo con đường Lê-nin. Mẫu số chung của họ là chống lại sự cai trị của người Pháp và sự tận tuỵ đối với sự nghiệp độc lập dân tộc.

Trong khi đó Nguyễn An Ninh, nhà báo trẻ, người đã chọc giận viên Trung Uý Mô-rít-xơ Cô-nhắc bằng thái độ khiêu khích của mình, tiếp tục khuấy động công chúng bằng những bài phát biểu và bài báo nảy lửa của mình. Có một lần, ông đã diễn thuyết cho mọi người rằng họ là người phải chịu trách nhiệm cho chính những đau khổ của mình, bởi vì “các bạn không có khả năng áp đặt ý tưởng của mình, các bạn không buộc chính phủ chấp nhận điều mình muốn”. Miêu tả sự cộng tác mà An-be Xa-rô trao cho người Việt Nam cũng giống như mối quan hệ giữa con trâu và chủ của mình, ông cảnh cáo: “Đừng hy vọng quá nhiều vào những điều mà viên Toàn quyền xã hội chủ nghĩa (như A-lếch-xan-đơ Va-ren) đã chuyển đến các bạn. Ông ta đến đây để lừa dối các bạn, ông ta nói rất nhiều, nhưng ông ta sẽ chẳng làm gì cả. Không thể có sự cộng tác giữa người Pháp và người An Nam. Người Pháp không còn gì hơn để làm ở đây cả. Hãy buộc họ trả lại chúng ta đất đai của tổ tiên, buộc họ trao cho chúng ta quyền phát biểu và để chúng ta tự làm chủ mình. Đất nước chúng ta đã sản sinh ra vô số anh hung, những con người biết hy sinh cho tổ quốc mình! Nòi giống của chúng ta chưa bị tuyệt diệt!”.

Bài phát biểu của ông Ninh đã gợi lại những kỷ niệm về Phan Bội Châu, người đã chống Pháp từ khi ông lưu vong ở Nhật Bản. Người Pháp cho rằng họ phải phản ứng. Vào ngày 24 tháng 3 năm 1926, khi đội tang lễ chuẩn bị đưa thi hài của Phan Châu Trinh đến nơi an nghỉ cuối cùng, Nguyễn An Ninh đã bị bắt.

Buổi chiều cùng ngày, tàu biển Pháp Amboise cập bến Sài Gòn. Trong số hành khách có Bùi Quang Chiếu, người lãnh đạo đảng Hợp hiến, mà Nguyễn Ái Quốc đã gặp trên con tàu Đô đốc La-tút-xơ Tơ-rê-vin, gần 15 năm trước đây. Cũng giống như Nguyễn An Ninh, ông Chiếu rất thất vọng trước việc Toàn quyền A-lếch-xan-đơ Va-ren không giữ lời hứa hào phóng của mình, và vào đầu năm 1926, ông đã đến Pa-ri để kêu gọi cải cách chính trị và kinh tế. Trong các cuộc đàm thoại với các quan chức ở đó, ông đã cảnh cáo rằng nếu tình hình ở Đông Dương không được cải thiện, người Pháp sẽ bị đuổi khỏi đó sau 15 năm nữa. Ông Chiếu cũng gặp gỡ những người dân tộc chủ nghĩa trong cộng đồng người Việt lưu vong tập trung quanh Nguyễn Thế Truyền, người kế nhiệm Nguyễn Ái Quốc ở Liên hiệp Thuộc địa quốc tế, nhưng cuối cùng, ông cũng từ chối hợp tác với ông Truyền. Việc này làm cho ông lo lắng. Khi trở về Sài Gòn, ông đột nhiên miễn cưỡng chú ý đến các yêu sách của đám đông trên đường phố nhằm tăng áp lực lên chính phủ thuộc địa, và bài phát biểu của ông khi đến Sài Gòn chứa đựng lời kêu gọi ủng hộ hoà hợp Pháp- Việt. Với việc Nguyễn An Ninh bị bỏ tù và Bùi Quang Chiếu không sẵn sang nắm ngọn cờ, náo động ở thành thị tại Nam Bộ nhanh chóng xẹp xuống, dẫn đến việc một nhà yêu nước trẻ kêu lên một cách tuyệt vọng: “Tất cả chúng ta đã quên mất Phan Châu Trinh rồi sao?”

Đối với Nguyễn Ái Quốc, hiện ở Quảng Đông chăm chú theo dõi lòng căm thù chống thực dân đang tăng lên trong đồng bào mình, tình hình này đưa đến cả những cơ hội và thách thức. Tổ chức cách mạng đang trưởng thành của ông nên cộng tác với các thành phần dân tộc của chủ nghĩa ở Đông Dương và hải ngoại đến mức độ nào? Mặc dù ông M.N.Roi và một số người khác ở Mát-xcơ-va, những người cho rằng cộng tác với các nhóm tư sản dân tộc chủ nghĩa là nguy hiểm, có bảy tỏ sự không tán thành, Nguyễn Ái Quốc ban đầu quyết tâm tạo ra một mạng lưới rộng nhằm huy động sự ủng hộ nhằm chống lại chế độ thực dân. Trong báo cáo ông viết ở Mát-xcơ-va năm 1924, ông đã nhận xét rằng chính tinh thần dân tộc chủ nghĩa đã gây ra cuộc nổi dậy ở miền Trung Việt Nam, dạy cho những người cu li phản đối các điều kiện làm việc của mình, khêu gợi quyết tâm của các thương gia Việt Nam cạnh tranh với người châu Âu, người Trung Hoa hải ngoại và khuyến khích sinh viên biểu tình và gia nhập tổ chức của Phan Bội Châu. Ông viết rằng, ngọn đuốc giờ đây đang được chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ông tin rằng, khi những người Việt Nam trẻ tuổi bắt đầu sử dụng các chiến thuật của phương Tây, các hoạt động của họ có thể được sử dụng cho mục đích của ông.

Nguyễn Ái Quốc đã chuyển sang chú ý đến việc mở rộng nền tảng của phong trào bằng việc liên minh với các tổ chức chống thực dân khác ngay sau khi ông đến Quảng Đông, cố gắng thiết lập quan hệ với các thành phần tập hợp xung quanh Nguyễn Hải Thần, một học trò của Phan Bội Châu, người gần đây đã giúp Phan Bội Châu trong nỗ lực chuyển Quang phục Hội cũ của ông thành một đảng Dân tộc chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình tổ chức của Tôn Dật Tiên ở Trung Hoa. Nguyễn Ái Quốc cũng đã thảo luận với Lâm Đức Thứ khả năng liên hệ với những thành phần dân tộc chủ nghĩa trong nước. Ở miền Trung Việt Nam, ông tìm cách liên lạc với cái mà ông gọi là “Những loại hình hiện đại và trẻ” (có thể như là Tân Việt), nhưng ông cũng muốn tiếp cận với các thành phần dung hoà  ở Nam Kỳ như Bùi Quang Chiếu và Khánh Kỳ (một người quen cũ ở Pa-ri) để xem họ có chịu hợp tác không. Các đồng nghiệp của ông cũng cảnh báo ông cần phải thận trọng trong việc thiết lập quan hệ với ông Chiếu cho trừ khi biết rõ là Phan Bội Châu sẽ nhất trí, nhưng Nguyễn Ái Quốc phản bác lại rằng nếu như ông Chiếu nhất trí cộng tác thì ông ta sẽ sẵn sang cung cấp tài chính.

Tuy nhiên, đối với Nguyễn Ái Quốc, các đảng dân tộc chủ nghĩa cũng đặt ra một vấn đề tế nhị. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nên hợp tác với họ đến mức nào? Đại hội lần thứ hai của Quốc tế cộng sản III năm 1920 đã kết luận rằng các phong trào giải phóng tư sản như vậy nên được ủng hộ “chỉ khi các phong trào này thực sự cách mạng và khi những nhân vật tiêu biểu của họ không cản trở công việc của chúng ta là giáo dục và tổ chức nông dân và quần chúng rộng rãi thuộc tầng lớp bị bóc lột theo tình thần cách mạng”. Nhưng một số thành viên lãnh đạo của tổ chức này như nhà cộng sản Pháp Giắc Đô-ri-ốt lại có lời khuyên khác. Trong một bức thư gửi một trong các đại hội của các tổ chức mặt trận đề ngày 4 tháng 3 năm 1927, Đô-ri-ốt đề xuất một cách tiếp cận rộng hơn. Ông nói rằng “mặc dù đảng của các bạn cần luôn nhớ rằng các lực lượng cơ bản của cuộc đấu tranh ở Đông Dương là giai cấp công nhân, nông dân và tiểu thương thành thị”, nhưng: Không được quên rằng dưới ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, toàn thể nhân dân (công nhân, nông dân, chủ cửa hiệu, trí thức) trừ một phần rất nhỏ những kẻ trục lợi đều có lợi ích trong việc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Không được xem nhẹ bất kỳ nỗ lực nào lôi cuốn họ và tổ chức họ hằng ngày trong cuộc đấu tranh. Không được từ chối bất kỳ sự hợp tác nào. Ngược lại, phải làm tất cả để khuyến khích điều đó.

Nguyễn Ái Quốc thận trọng nghe theo lời khuyên của Đô-ri-ốt. Phù hợp với đường lối của Quốc tế cộng sản III chỉ hợp tác với các nhóm dân tộc chủ nghĩa là “thiết thực cách mạng”, theo chỉ thị của ông, Hội đã rất thận trọng trong việc thiết lập các liên minh. Sau việc bày tỏ sự quan tâm đến Bùi Quang Chiếu, Nguyễn Ái Quốc tỏ ra khinh thị các nhóm của “những kẻ theo đường lối cải lương quốc gia” như đảng Hợp hiến của ông Chiếu. Trong một báo cáo cảu ông gửi cho Mát-xcơ-va, ông tả nhóm này chống lại chủ nghĩa cộng sản và ủng hộ hợp tác với Pháp. Hướng tới các đảng có tính cấp tiến  hơn như đảng Thanh niên ở Nam Kỳ và Tân Việt ở miền Trung Việt Nam. Hội dung hoà hơn, gửi các đại diện đàm phán với họ để thiết lập một liên minh nếu có thể được.

Nhưng lập trường đàm phán của Hội lại luôn cứng rắn. Hội bác bỏ ý tưởng về việc sáp nhập một cách bình đẳng và chỉ trao cho các nhà lãnh đạo đối địch vai trò thứ yếu trong Hội. Trong khi các cuộc đàm phán đang tiếp diễn, các thành viên của Hội đã tích cực lôi kéo các đại biểu của đảng đối địch vào tổ chức của mình. Khi các đảng viên của các nhóm đối địch đến Quảng Đông để học tập tại viện đào tạo, họ được chỉ thị không nối lại liên lạc với các đồng chí của mình khi quay về Việt Nam. Không có gì đáng ngạc nhiên là các lãnh đạo các đảng dân tộc chủ nghĩa bất bình trước những cách làm như vậy và bác bỏ liên minh với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên theo các điều kiện của Hội.

Do Nguyễn Ái Quốc buộc phải ở lại Trung Hoa để tránh bị mật thám bắt, sự tham gia đàm phán trực tiếp của ông với các lãnh đạo của các nhóm ở Việt Nam có vẻ như là rất ít. Nhưng rất có thể là các quyết định cuối cùng là của ông. Các nhận xét mà ông đưa ra đối với đồng sự và học viên tại trường ở Quảng Đông cho thấy thái độ của ông đối với các đảng đối địch là sự kết hợp giữa sự sẵn sàng một cách thận trọng hợp tác vì sự nghiệp đấu tranh với sự hoài nghi cơ bản về những động cơ cuối cùng của họ. Ông thường xuyên nhận xét rằng các liên minh với các đảng có thể hữu ích, nhưng chỉ nhằm các mục đích chiến thuật mà thôi.

Trong khi đẩy mạnh các nỗ lực xây dựng phong trào cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc cùng tìm cách hoàn thành nghĩa vụ vô sản của mình bằng cách cộng tác với các thành phần tiến bộ ở nam Trung Hoa và các phong trào cách mạng Trung Hoa. Trước khi Nguyễn Ái Quốc rời Mát-xcơ-va, Tho-mát Đôm-ba đã đề nghị ông làm việc với tư cách là đại diện của Nông dân Quốc tế tại Quảng Đông và giúp huy động nông dân Trung Hoa. Trong một khoảng thời gian ngắn, việc này dường như có thể thành công với sự hợp tác của Quốc dân đảng, tổ chức mà đại diện của họ ở Mát-xcơ-va đã tìm kiếm sự giúp đỡ của Nông dân Quốc tế trong việc soạn ra một cương lĩnh nông dân. Đôm-ba cũng gợi ý Nguyễn Ái Quốc lập ra các hội nông dân ở toàn bộ các vùng thuộc tỉnh Quảng Đông hầu hết đang dưới sự kiểm soát của chế độ Quảng Đông.

Để thực hiện nghĩa vụ này, sau khi đến Quảng Đông, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu thăm Học viện Phong trào Nông dân, một đơn vị đào tạo do chính phủ Quốc dân đảng lập ra năm 1924 để thúc đẩy cách mạng nông thôn chống lại các chế độ lãnh chúa cát cứ ở phương Bắc. Viện được đặt ở một ngôi chùa cổ không xa đại bản doanh của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Đông và Nguyễn Ái Quốc đã báo cáo các hoạt động của mình bằng một bài viết gửi về Mát-xcơ-va. Trong quá trình nghiên cứu về các điều kiện của nông dân ở Trung Hoa, ông đã quen với Peng Pai, một nhà hoạt động xuất sắc của đảng Cộng sản Trung Quốc và là một trong các cán bộ lãnh đạo của viện. Ông Peng là người thúc đẩy chính thiết lập Xô-viết Hai Lu Pheng, những hội nông dân được thành lập năm 1923 dưới sự thúc ép của ông ở hai huyện miền đông của Quảng Đông. Nguyễn Ái Quốc rất thích những thí nghiệm đó, và một lần ông đã đến thăm khu vực này và viết một bài báo về chủ đề đó. Đáp lại, Peng đôi khi tham gia dạy tại học viện của Nguyễn Ái Quốc.

Nguyễn Ái Quốc đến Trung Hoa vào thời điểm khi phong trào cách mạng ở đó đang trong giai đoạn biến chuyển nhanh chóng. Mùa hè năm 1925, các cuộc biểu tình lớn của ngươi lao động đã diễn ra tại Quảng Đông để phản ứng lại cái gọi là sự kiện 30 tháng 5 tại Thượng Hải khi cảnh sát Anh đã bắn vào những người biểu tình và giết chết vài người. Nguyễn Ái Quốc tham gia các cuộc biểu tình, đọc các bài diễn văn khuyến khích những người biểu tình và tuyên bố bằng giọng đặc sệt Quảng Đông-rằng nhân dân Quảng Đông ủng hộ họ. Ông cũng tham gia các hoạt động chính thức hơn như Đại hội lần thứ II của Quốc dân đảng tổ chức vào tháng 1 năm 1926 theo thúc giục của các thành phần cánh tả để chống lại ảnh hưởng của các lực lượng chống cộng ngày càng tăng trong đảng. Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu trước đại hội và miêu tả tình hình ở Đông Dương. Ông tuyên bố rằng người Pháp đang cố gắng một cách tuyệt vọng để ngăn chặn các tin tức về tình hình bất an ở Trung Hoa đến với nhân dân Việt Nam. Ông hứa rằng các đồng bào của ông và tất cả các dân tộc thuộc địa ở châu Á sẵn sang đoàn kết với nhân dân Trung Hoa để chống lại những kẻ thù xâm lược chung. Tuy nhiên, tuyên bố có tính chất phóng đại hơn là thực tế. Lúc đó, Hiệp hội các dân tộc bị áp bức ở  châu Á mà ông đã giúp thành lập năm trước đang gặp phải chịu những tranh cãi giữa các nhóm dân tộc – một điều nhắc nhở Nguyễn Ái Quốc đến vấn đề ông gặp phải ở Liên hiệp thuộc địa Pa-ri-và tan rã.

Vào mùa xuân năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã có mặt ở Quảng Đông hơn 2 năm. Ông đã trở thành nhân vật nổi bật và một thành viên được tôn trọng của cộng đồng cách mạng, và đã có được các mối quan hệ gần gũi với các đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc như Chu Ân Lai, nhà tổ chức trẻ Giang Tai-lê và nhà lãnh đạo tả khuynh Quốc dân đảng Li-ao Dong-kai. Cuộc sống của ông ở nam Trung Hoa, ít nhất cho đến lúc đó, đã có vẻ ổn định, và (có lẽ vì lý do đó) ông đã nghĩ đến việc có một người vợ Trung Hoa để giúp ông học tiếng Hán và chăm lo các nhu cầu cá nhân. Để có được ngưòi phù hợp, ông rõ ràng là đã thảo luận vấn đề với người đồng sự gần gũi của mình, Lâm Đức Thứ, người đã sống ở Trung Hoa trong nhiều năm và có rất nhiều người quen trong dân chúng địa phương. Tuy nhiên, Nguyễn Ái Quốc khăng khăng là sẽ không tuân theo phong tục cưới truyền thống của Trung Hoa-ông từ chối trả tiền để cưới vợ.

Ít lâu sau, Lâm Đức Thứ giới thiệu cho Nguyễn Ái Quốc một phụ nữ Trung Hoa trẻ tên là Tăng Tuyết Minh, con gái vợ lẽ thứ ba của một thương gia Quảng Đông giàu có. Bị đuổi khỏi nhà sau khi bố chết, Tuyết Minh sống trong hoàn cảnh khó khăn cho đến khi cô làm bạn với vợ của Lâm Đức Thứ, người đã giới thiệu cô với Nguyễn Ái Quốc. Người phụ nữ trẻ này ít được học hành, do vậy một số cộng sự phản đối cuộc hôn nhân này, nhưng Nguyễn Ái Quốc phớt lờ những lời khuyên của họ và cầu hôn. Sau đám cưới, đôi uyên ương chung sống ở căn phòng của Nguyễn Ái Quốc ở biệt thự Bô-rô-đin. Mặc dù Minh Tuyết hấp dẫn về mặt hình thức (một người quen tả là cô có thân hình mảnh dẻ, da trắng, tóc đen ngang vai, mặt tròn, miệng nhỏ) nhưng lại ít quan tâm đến chính sự, và sau vài nỗ lực bất thành, chồng cô nhanh chóng từ bỏ việc cải hoá cô theo những tư tưởng chính trị của mình. Có những nguồn tin cho rằng, Nguyễn Ái Quốc có một con gái từ cuộc hôn nhân này.

Dù sao chăng nữa, những ngày Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Đông cũng đang sắp kết thúc. Trong khi ông đang vật lộn để thổi bùng ngọn lửa bất bình ở Việt Nam, tình hình ở Trung Hoa cũng chuyển biến nhanh chóng. Trong vài năm, đảng Cộng sản Trung Quốc đã hợp tác một cách không thoải mái với Quốc dân đảng của ông Tôn ở các tỉnh phía nam Trung Hoa. Liên minh này được duy trì chủ yếu là do sức ép cá nhân của ông Tôn và mối quan hệ công việc của ông với cố vấn của Quốc tế cộng sản III là Mi-khai-in Bô-rô-đin. Nhưng ông Tôn chết vì ung thư gan tháng 2 năm 1925, trong khi ở Bắc Kinh đàm phán với viên tư lệnh cát cứ Pheng I-ung-xi-ang, và sau một hồi đấu tranh quyền lực, Tưởng Giới Thạch, cố vấn quân sự của ông Tôn và là tư lệnh của Học viện Quân sự Hoàng Phố, đã kế nghiệp ông. Vì các lý do chiến thuật, Tưởng tạm thời vẫn duy trì liên minh với đảng Cộng sản Trung Quốc, bất chấp thái độ chống cộng đang gia tăng trong phái bảo thủ của Quốc dân đảng. Tuy nhiên, bản thân Tưởng cũng nghi ngờ những người cộng sản; có thể do chuyến thăm của ông ta tới Liên Xô năm 1923, ông ta đã có ý thức được các mục tiêu lâu dài của Mát-xcơ-va sử dụng liên minh với đảng của ông ta rồi sau đó vứt bỏ. Ngày 12 tháng 4 năm 1927, giữa cuộc Bắc Phạt chống lại chính phủ của các tư lệnh cát cứ ở miền Trung và miền Bắc Trung Hoa do cả hai bên tiến hành, liên minh này tan vỡ. Khi phái tả của Quốc dân đảng kêu gọi loại bỏ Tưởng Giới Thạch, ông ta đã ra lệnh thảm sát thảm sát hang ngàn người cộng sản và những người ủng hộ họ ở Thượng Hải, thành phố lớn nhất của Trung Hoa, khi quân đội của ông ta tới đó.

Hành động của Tưởng lập tức được lặp lại ở Quảng Đông. Ngày hôm sau, các đơn vị quân đội do tư lệnh theo Dân tộc chủ nghĩa Li Di-sen vây ráp hai nghìn người tình nghi cộng sản trên toàn bộ tỉnh Quảng Đông. Học viện Quân sự Hoàng Phố bị chiếm và hàng trăm người bị tình nghi là phái tả, trong đó có các học viên Việt Nam thuộc Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã bị bao vây và bị bắn. Giang Tai-lê, bạn của Nguyễn Ái Quốc, là một trong số các nạn nhân. Khi quân đội của Li bao vây các ngôi nhà của các quan chức làm việc tại toà lãnh sự Xô-viết, Mi-khai-in Bô-rô-đin và một vài cố vấn của ông đã chuyển đến Vũ Hán, nơi chính phủ Quảng Đông đã chuyển đại bản doanh vào mùa đông trước.

Đầu tiên, giới chức Pháp tưởng là Nguyễn Ái Quốc đã theo Bô-rô-đin và tuỳ tùng của ông ta đã đến miền Trung Trung Hoa. Trên thực tế, Nguyễn Ái Quốc vẫn ở lại Quảng Đông vì tin rằng một người Việt Nam có quan hệ tốt với nhiều quan chức Quốc dân đảng sẽ không bị bắt. Để giúp bảo đảm an ninh của mình, ông đã trú ngụ tại một địa điểm bí mật và tự nuôi mình bằng cách bán báo. Nhưng vào khoảng cuối tháng 4 và đầu tháng 5, ông đã được Trương Văn Lệnh, một trong các đồng sự gần gũi của Tâm Tâm Xã và làm việc cho lực lượng bảo vệ thành phố địa phương, cho biết rằng ông có thể sớm bị bắt. Ông Lệnh đã khuyên ông trốn khỏi Quảng Đông càng sớm càng tốt.

Mỉa mai thay, chính một người mà Nguyễn Ái Quốc cho là đồng minh trong cộng đồng Việt Nam lưu vong đã báo cho cảnh sát Li Di-sen rằng ông là cộng sản. Kể từ khi đến Quảng Đông, Nguyễn Ái Quốc đã tìm cách thiết lập mối quan hệ hợp tác với Nguyễn Hải Thần và các cựu binh khác thuộc Việt Nam Quốc dân đảng của Phan Bội Châu. Ông Thần là bạn thân của Lâm Đức Thứ, và đã từng sống tại nhà ông ta. Vào mùa thù năm 1926, quan hệ của Nguyễn Ái Quốc với ông Thần đã trở nên căng thẳng bởi ông này ngày càng chỉ trích xu hướng cộng sản của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Nguyễn Ái Quốc cũng giận dữ trước các nỗ lực của ông Thần làm suy yếu hoặc thu hút tổ chức của mình. Cuối năm 1926, Trương Bội Công, một trong các thành viên lãnh đạo của Quốc dân đảng đã từ Bắc Kinh đến Quảng Đông để thúc đẩy Nguyễn Hải Thần thành lập một đảng chính trị mới tập trung vào độc lập dân tộc và chống lại ảnh hưởng của Hội. Hố ngăn cách giữa hai nhóm Việt Nam trở nên rộng them, và người ta cho rằng chính Nguyễn Hải Thần đã báo cho chính quyền Trung Hoa về sự có mặt của Nguyễn Ái Quốc vào đầu tháng 5.

Điều kỳ lạ là chính Lâm Đức Thứ, dù là người thông báo thường xuyên về các hoạt động của Hội cho mật thám, chưa bao giờ phản bội Nguyễn Ái Quốc cho người Pháp, có lẽ vì sợ vai trò của mình là một nhân viên mật thám bị tiết lộ. Tuy nhiên, ông ta đã dàn xếp để chụp ảnh các thành viên của Hội. Một lần, ông ta đã trao những bức ảnh này cho lãnh sự Pháp. Những bức ảnh này (hiện đang nằm trong hồ sơ lưu trữ của Pháp) rõ ràng đã giúp chính quyền thuộc địa nhận diện các cộng sự của Nguyễn Ái Quốc. Sự bất cẩn của Nguyễn Ái Quốc trong việc để cho những bức ảnh như thế được chụp và sự tin cẩn vào Lâm Đức Thứ sau  này đã bị một số cộng sự chỉ trích mạnh mẽ.

Ngày 5 tháng 5 năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời nơi cư trú bí mật của mình đi Hồng Công, bỏ lại người vợ ở Quảng Đông. Cùng ngày, nơi cư trú của ông bị các quan chức Trung Hoa tấn công. Một lần nữa, ông lại lên đường.

Advertisements

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: