Anhbaque’s Blog

Just another WordPress.com weblog

HCM-Một cuộc đời(Chương 3)

Posted by anhbahoa on December 11, 2009

HỒ CHÍ MINH-MỘT CUỘC ĐỜI

Chương III

NHÀ CÁCH MẠNG NON TRẺ

Cuối mùa hè năm 1923, nước Nga Xô-viết vẫn đang phục hôi sau gần 7 năm chiến tranh, cách mạng và xung đột trong nước đầy gian khó. Bên ngoài Pê-trô-grát, Mát-xcơ-va và một số thành phố lớn khác ở các vùng châu Âu của nước Nga, theo những lời đáng nhớ của Lê-ôn Trốt-xki, cách mạng tháng Mười là một “cuộc cách mạng qua điện tín”. Ở các làng quê và thị trấn nằm rải rác trên đế chế Nga rộng lớn, Lê-nin chỉ có khoảng 50.000 người Bôn-sê-vích, chỉ vào thời điểm diễn ra các cuộc nổi dậy, nhận được sự ủng hộ ít ỏi của hàng triệu nông dân Nga, những người không hiểu gì về tư tưởng Mác và thậm chí còn không quan tâm đến số phận của cách mạng thế giới.

Lúc đầu, ban lãnh đạo cách mạng mới đã cố gắng hợp pháp hoá bằng cách thông báo về sự ra đời của chính phủ mới bằng cách điện tín cho tất cả các đơn vị hành chính. Nhưng chẳng mấy chốc mọi người nhận thấy rằng một tờ giấy như vậy chưa đủ để đưa ra quyền lực cách mạng đến được vùng xa xôi của Sa hoàng. Vài tuần sau khi tấn công Cung điện Mùa đông vào tháng 10 năm 1917 (theo lịch Nga), các lực lượng đối lập bắt đầu xuất hiện: Các phần tử Bạch vệ trung thành với Sa hoàng Ni-cô-lai đệ nhị và hệ thống quân chủ cũ; các lực lượng dân tộc trong các nhóm dân tộc thiểu số dưới đế chế cũ, từ U-crai-na đến Trung á; thậm chí cả các đội quân nước ngoài đóng ở Nga để giúp đánh Đức.

Đảng Bôn-sê-vích đã cấp tốc huy động nhân lực từ lực lượng công nhân và nông dân nghèo để xây dựng Hồng quân, sau 3 năm đổ máu, cuối cùng chính phủ đã trấn áp được các lực lượng phản cách mạng và thiết lập sự kiểm soát chặt chẽ đối với nhà nước Xô-viết mới. Nhưng trong quá trình đó, chính phủ đã xa rời các tầng lớp chủ chốt trong xã hội Nga, trong đó có nông dân, những người mà mùa màng của họ bị nhà nước trưng thu để nuôi Hồng quân và người lao động trong các thành phố, các thành viên của các nhóm dân tộc không phải là người Nga mà lãnh đạo của họ đã bị đánh bại và làm suy yếu một cách không thương tiếc bởi lực lượng an ninh Xô-viết, và những người khác bị lực lượng an ninh của Phơ-lích Dơ-din-ski bắt giữ và hành quyết, thường được biết đến với cái tên Checa (Uỷ ban đặc biệt)

Khi nước Nga cố gắng phục hội  sau cuộc nội chiến, Lê-nin cũng phải nhận thấy rằng Nga cần phải trải qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa trước khi bắt đầu quá trình chuyển đổi khó khăn lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1921, ông thúc đẩy một chương trình phát triển kinh tế-xã hội ôn hoà hay còn gọi là Chính sách Kinh tế mới. Các nhân tố chính của chương trình này là kết hợp các kỹ thuật của tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa để tăng cường sản xuất, trong khi đó phổ biến khái niệm sở hữu của chủ nghĩa xã hội và duy trì sự quản lý vững chắc của Đảng đối với hệ thống chính trị. Các ngành mũi nhọn và công ích và các ngân hàng vẫn nằm trong tay nhà nước nhưng doanh nghiệp tư nhân thì hoạt động ở các cấp độ thấp hơn. Việc trưng thu ngũ cốc bắt buộc, gây ra sự bất ổn nghiêm trọng ở khu vực nông thôn, đã được thay thế bằng việc đánh thuế sản xuất. Đất đai vẫn nằm trong tay tư nhân.

Những ngày đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc ở thiên đường xã hội chủ nghĩa mới mà trước đó ông đã mô tả đầy nhiệt huyết trong các bài báo viết ở Pháp chắc hẳn đã làm cho ông ít nhiều mất đi quyết tâm. Sau khi rời tàu Karl Liebknecht ở bến cảng Pê-trô-grát, ông đã bị một nhân viên nhập cảnh trẻ đầy hoài nghi thẩm vấn. Do thiếu giấy tờ chính thức ngoại trừ thị thực giả mang tên một nhà buôn Trung Quốc, thị thực này trước đó được lãnh sự quán Xô-viết ở Béc-lin chấp nhận, và không có địa chỉ liên lạc trong thành phố, ông đã bị giữ lại trong vòng vài tuần “trong một không khí căng thẳng” cho đến khi lai lịch của ông được xác minh bởi một đại diện của Đảng Cộng sản Pháp ở Mát-xcơ-va. Sau đó ông được phép đi lại và lên tàu đi Mát-xcơ-va vào cuối tháng 7. Sau khi ở tạm trong một khách sạn gần điện Crem-lanh, ông được vào làm ở Văn phòng Viễn Đông (Đan-bu-rô) tại trụ sở của Quốc tế Cộng sản đối diện với Bảo tàng Rumyantsev (nay là thư viện Lê-nin).

Đan-bu-rô được thành lập do kết quả Đại hội  lần thứ hai của Quốc tế Cộng sản năm 1920 theo đề nghị của Ma-rinh (tên thật là Hen-đơ-rích Sni-vơ-liết), đại biểu người Hà Lan, người mà sau này trở thành người có uy tín với tư cách là cố vấn của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Là một người tin tưởng sâu sắc vào tầm quan trọng của các vùng thuộc địa đối với tương lai của cách mạng thế giới, Maring đã đề nghị thành lập các phòng tuyên truyền cho Trung Đông và Viễn Đông cũng như mở một Viện Mác-xít ở Mát-xcơ-va để đào tạo cho các nhà lãnh đạo cách mạng châu á có triển vọng. Với việc các luận chứng của Lê-nin sắp được thông qua, đề nghị của Ma-rinh cũng đã được chấp thuận, và tháng 6 sau đó, tại một cuộc họp của Uỷ ban điều hành của Quốc tế Cộng sản, Văn phòng Viễn Đông đã được thành lập dưới sự dẫn dắt của các học giả Đông phương học người Nga G.Xa-pha-rốp.

Trong những tháng sau đó, các nhà lãnh đạo Quốc tế Cộng sản đã thực hiện một số bước khác để thúc đẩy việc thành lập các phong trào cách mạng ở châu Á và châu Phi. Tất cả các Đảng Cộng sản ở Tây Âu đã được hướng dẫn thiết lập các Uỷ ban thuộc địa để đánh giá tình hình và ủng hộ cuộc đấu tranh của những người bị áp bức ở thuộc địa của họ (do đó Ban nghiên cứu thuộc địa đã được đặt ở Pháp). Trong khi đó, đã có các kế hoạch thiết lập các viện đào tạo ở nước Nga Xô-viết để truyền bá cho những người có tư tưởng cấp tiến của châu á và châu Phi và chuẩn bị cho họ quay về quê hương để tiến hành các hoạt động cách mạng. Đến lúc đó, Quốc tế Cộng sản III đã bắt đầu tham gia vào một số hoạt động ban đầu ở Đông á. Mùa xuân năm m1920, một đại diện của Quốc tế cộng sản là Gơ-ri-go-ri Voi-tin-xơ-ki đã được cử sang Trung Quốc để liên lạc với các nhà cách mạng Trung Quốc. Các đại diện khác đóng ở Vla-di-vô-xtốc cũng sang Thượng Hải, Sài Gòn và Xin-ga-po để thiết lập đường dây liên lạc với các phần tử cấp tiến và giúp họ hoạt động cách mạng. Tháng 11, có tin là hai người Nga vừa chân ướt chân ráo đến Sài Gòn đã bị trục xuất do bị nghi vấn là đã thực hiện các hoạt động đó. Với tính cách năng nổ, Nguyễn Ái Quốc đã không để phí thì giờ làm cho mọi người biết đến sự hiện diện của mình. Chẳng bao lâu sau khi đến Mát-xcơ-va, ông viết một bức thư gửi Uỷ ban Trưng ương Đảng Cộng sản Pháp, chỉ trích các đồng sự của mình đã không chú ý gì đến các quyết định của Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ tư và mở rộng các hoạt động về các vấn đề thuộc địa. Trong khi ông công nhận rằng Đảng Cộng sản Pháp đã bước đầu tuân theo lệnh của Quốc tế Cộng sản III thiết lập Ban nghiên cứu thuộc địa cũng như có một chuyên mục thường kỳ về vấn đề thuộc địa trên tờ báo Đảng L’Humanite (Nhân Đạo), ông phàn nàn rằng trong những tháng gần đây, chuyên mục đó đã bị đình lại và thiếu ông, uỷ ban trên hầu như đã chết rồi. Ông nêu rõ,”Các tuyên bố đưa ra tại Đại hội toàn quốc ủng hộ người dân thuộc địa đã giúp củng cố tình cảm của họ đối với Đảng, nhưng “nếu chỉ lặp đi lặp lại một điều mà không thực hiện thì không hợp lý”. Người dân thuộc địa, thấy có nhiều lời hứa mà có rất ít việc làm cụ thể, sẽ bắt đầu tự hỏi liệu những người cộng sản có nghiêm túc không hay chỉ bịp bợm. Cuối thư, ông nhắc nhở rằng một điều kiện then chốt để gia nhập Quốc tế Cộng sản III là vận động một cách hệ thống để ủng hộ công cuộc giải phóng người dân thuộc địa.

Nguyễn Ái Quốc cũng đã viết một báo cáo lên Đoàn chủ tịch của Ban điều hành Quốc tế Cộng sản III, nêu chi tiết ý tưởng của mình về phương cách thúc đẩy đấu tranh cách mạng ở Đông Dương. Theo như ông mô tả, tình hình hầu như chẳng có hứa hẹn gì. Bắc Kỳ và Nam Kỳ nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của người Pháp, trong khi Trung Kỳ về danh nghĩa vẫn nằm dưới quyền của triều đình, nhưng thực tế cũng nằm dưới ách đô hộ thực dân. Giới vô sản thành thị chỉ chiếm 2% tổng dân số và chưa có tổ chức. Có một tầng lớp trung lưu nhỏ, chủ yếu sống ở các thành phố lớn là Hà Nội và Sài Gòn và ở các thành phố là thủ phủ của các tỉnh trên toàn đất nước, tuy nhiên, về mặt kinh tế, bộ phận dân cư này chủ yếu bao gồm Hoa kiều. Giai cấp tư sản bao gồm các tiểu thương, viên chức, cán bộ chính phủ ở cấp thấp, và thợ thủ công có rất ít và không có quan điểm chính trị kiên định, mặc dù họ thực sự có xu hướng ủng hộ sự nghiệp độc lập dân tộc. Nông dân bị đàn áp nặng nề và nếu được tổ chức họ sẽ là lực lượng đầy tiềm năng của phong trào cách mạng. Nhưng lực lượng chủ chốt trong chính sách hành động mạnh mẽ về chính trị là trí thức và học giả yêu nước. Ông nói, chính họ đã phát động các cuộc khởi nghĩa chống chính quyền trước đây. Do đó nhu cầu cấp thiết là có hoạt động phối hợp giữa những người yêu nước “cách mạng dân tộc” và một Đảng Cộng sản.

Các khuyến nghị của Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn theo chủ nghĩa  Lê-nin, như đã được phản ánh trong các “Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lê-nin. Nhưng trong bối cảnh các sự kiện đang diễn ra tại Mát-xcơ-va, nơi mà sự quan tâm dành cho các vùng thuộc địa đã giảm sút mạnh mẽ kể từ những ngày nóng vội của Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ hai, người ta nghi ngờ không biết các ý tưởng của ông có thu hút sự quan tâm của những người cấp trên không. Trong khi đó, các quan chức có ảnh hưởng ở Xô-viết dần dần nhận biết sự có mặt của nhà cách mạng trẻ đầy tham vọng đến từ Đông Dương và thực tế ông là một trong số ít nhà cộng sản châu á sống ở Mát-xcơ-va lúc đó, họ nhận thức được về những gì ông có thể làm. Trong suốt mùa hè năm 1923 đã có sự quan tâm mạnh mẽ tới quan điểm của Lê-nin về một chính phủ công nông ở các xã hội chưa trải qua thời kỳ cách mạng công nghiệp. Ở Pra-ha, các phần tử theo chủ nghĩa dân tuý đã thiết lập một “Quốc tế Xanh” nhằm nhận được sự hỗ trợ của các nhóm nông dân ở khu vực. Nổi lên trong nỗ lực này là nhà cộng sản người Ba Lan Thô-mát Đôm-ba (còn gọi là Dabal), người mà trước đó đã bị chính phủ Ba Lan bắt và đưa sang Mát-xcơ-va vào mùa xuân năm 1923 để trao đổi tù binh với nước Nga Xô-viết.

Trong bối cảnh hầu hết những người Bôn-sê-vích, phản ánh quan điểm của những người theo chủ nghĩa Mác-xít châu Âu khác đứng đầu là Các Mác, luôn nghi ngờ rằng nông dân về bản chất là “tư sản” trên cơ sở khái niệm tài sản tư nhân, rất ít quan chức của Quốc tế Cộng sản III quan tâm nhiều đến các ý tưởng của Đôm-ba, nhưng họ đồng ý thúc đẩy thực hiện những ý tưởng này. Để chuẩn bị tổ chức một hội nghị mang tính tổ chức, họ tận dụng một cuộc triển lãm nông nghiệp quốc tế ở Mát-xcơ-va vào tháng 8, và quyết định tìm kiếm một phòng họp rộng cho người nước ngoài có quan tâm đến nông thôn, những người có thể được nhận làm đại biểu của cuộc họp đó. Nguyễn Ái Quốc, dường như quan tâm đến mọi sự việc đang diễn ra ở Mát-xcơ-va, đã tham dự triển lãm khai trương lần đầu vào tháng 8, và người ta phỏng đoán rằng ông đã được chọn làm đại biểu đại diện cho Đông Dương tại Hội nghị Nông dân Quốc tế tổ chức tại Mát-xcơ-va vào ngày 10 tháng 10 năm 1923. Ông đã nói lên quan điểm của mình về vai trò của giai cấp nông dân trong báo cáo gửi Ban điều hành Quốc tế Cộng sản, khi ông nhận xét rằng vì họ bị bóc lột một cách nghiêm trọng, họ “rất yêu nước”.

Hội nghị được tổ chức tại Cung điện An-đrây-ép-xki, trong Điện Crem-lin, và Nguyễn Ái Quốc tham dự với tư cách là một trong 150 đại biểu đến từ 40 nước khác nhau. Mi-kha-in Ka-li-nin, một đảng viên kỳ cựu mới được cử làm Chủ tịch Liên bang Nga, đã phát biểu khai mạc, trong khi Bôn-sê-vích cựu trào là Gơ-ri-go-ri Di-nô-vi-ép, lúc đó là người đứng đầu Quốc tế cộng sản, đã trình bày quan điểm chính thức của Đảng về vai trò của nông dân trong cách mạng thế giới.

Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu tại Hội nghị ngày 13. Ông phát biểu bằng tiếng Pháp vì lúc đó vốn tiếng Nga của ông chưa đủ và không đề cập khả năng thông qua một “chiến lược nông thôn” ở các vùng thuộc địa cũng như việc nông dân cần phải có vai trò cụ thể trong tiến trình cách mạng châu á mà trình bày một cách đơn giản không hoa mỹ về những điều kiện khó khăn của người dân nông thôn ở nhiều xã hội thuộc địa châu á, nêu rõ ràng nông dân là những nạn nhân chịu nhiều đau khổ nhất của chế độ áp bức đế quốc trong khu vực. Ông khẳng định, Quốc tế Cộng sản sẽ trở thành Quốc tế Cộng sản theo đúng nghĩa chỉ khi có sự tham gia tích cực của đại diện của giới nông dân châu Á.

Kết thúc cuộc họp, ban tổ chức đã đồng ý thành lập Quốc tế nông dân mới (tiếng Nga là Crét-ti-an-xki Anh-téc-na-xi-o-nan, viết tắt là Krest-intern). Mục đích của tổ chức này là “thiết lập và duy trì quan hệ vững chắc với các hợp tác xã và các tổ chức chính trị và kinh tế của nông dân ở khắp các nước” và “điều phối các tổ chức nông dân và các nỗ lực của nông dân nhắm thực hiện khẩu hiệu xây dựng một chính quyền công nông”. Một Hội đồng nông dân quốc tế cũng đã được thiếp lập và Nguyễn Ái Quốc được bầu làm một trong 11 thành viên của Đoàn chủ tịch của Hội đồng. Chức vụ Tổng thư ký của Quốc tế nông dân được trao cho một quan chức có uy tín của phe Bôn-sê-vích là A-lếch-xan-đơ Xmi-nốp. Đôm-ba được cử làm trợ lý.

Tháng 12 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu theo các khoá học tại Trường đại học Lao động cộng sản phương Đông. Được thành lập theo lệnh của Lê-nin năm 1921 theo các quyết định của Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ hai vào năm trước đó, lúc đầu trường được đặt dưới quyền hạn của Uỷ ban nhân dân các dân tộc của Giô-dép Xta-lin và do đó trở nên nổi tiếng với cái tên “Trường Xta-lin”. Theo địa chỉ của Xta-lin, trường này đã trở thành học viện hàng đầu đào tạo các nhà cách mạng châu Á được mời đến nước Nga Xô-viết để học cũng như các cán bộ không phải người Nga đến từ các vùng phía đông của đế chế Sa hoàng cũ. Học viện thứ hai, Trường Quốc tế Lê-nin, được thành lập để đào tạo các cán bộ cao cấp đến từ các nước Tây Âu.

Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc có một bài báo ngắn trên tờ La Vie ouvriere (Đời sống công nhân) trong đó mô tả đặc điểm của trường, và thông tin này, cùng với tài liệu mà các sở tình báo Pháp thu thập được lúc đó và công trình mới hoàn tất của các nhà nghiên cứu Nga ở Mát-xcơ-va đã cho thấy một bức tranh khá rõ nét về trường này và các hoạt động của trường. Trong thời gian ông học ở đó, có hơn 1.000 sinh viên đến từ 62 nước khác nhau. Hầu hết những người nhập học đến từ các vùng Xô-viết chiếm đóng ở Trung á, nhưng cũng có một số người nước ngoài, trong đó có một vài người Trung Quốc và Triều Tiên. Không có sinh viên nào đến từ Đông Dương trước khi ông Nguyễn Ái Quốc đến. Gần 900 người là đảng viên của các Đảng Cộng sản và khoảng 150 người là phụ nữ. Khoảng một nửa trong số đó xuất thân từ các gia đình nông dân, trong khi số người còn lại là công nhân và “các trí thức vô sản”.

Có 150 giáo viên ở trường, dạy nhiều khoa học khác nhau, trong đó có khoa học xã hội và tự nhiên, toán học, lịch sử cách mạng và phong trào công nhân và học thuyết Mác về chủ nghĩa duy vật lịch sử. Dạy học không dùng các bài giảng mà qua việc sử dụng phương pháp Xô-crát, theo đó sinh viên được giao cho các chủ đề cá nhân để chuẩn bị với sự giúp đỡ của giáo viên và thảo luận trên lớp. Các giáo trình gồm có cuốn Nhà nước và Cách mạng của Lê-nin, Cách mạng tháng Mười và các chiến thuật của chủ nghĩa Cộng sản Nga của Xta-lin, và cuốn Lịch sử Nga: Một chặng đường ngắn của I.M.I-a-rốt-láp-xki. Trường là một toà nhà mười tầng với trụ sở đặt ở tu viện cổ ở phố Vớt-kai-a (nay là Gorki) và các quán cà-phê và nhà ở tập thể ở gần đồn công an cũ.

Trường được quản lý theo quy định nghiêm ngặt của quân đội và sinh viên không chỉ học trên lớp mà còn được đào tạo nghiệp vụ quân sự và được dạy về các hoạt động cách mạng có ích như làm thế nào để kêu gọi đình công và tuyên truyền. Ban đầu các lớp được dạy bằng tiếng Pháp hoặc bằng tiếng mẹ đẻ của sinh viên, nhưng sau đó sinh viên được khuyến khích nói chuyện bằng tiếng Nga (một yêu cầu không phải lúc nào cũng được thực hiện). Chỗ ở được miễn phí nhưng tất cả các sinh viên được khuyến khích thay phiên nhau làm các công việc hành chính hoặc làm việc trong nhà bếp. Các chi bộ đảng được thành lập để kiểm soát hành vi của các đảng viên và bảo đảm sự chính thống về tư tưởng. Khi nhập học, mỗi sinh viên được đặt cho một biệt hiệu và chỉ có cán bộ an ninh của trường mới biết được lai lịch của sinh viên đó.

Học ở trường không phải là khó nhọc lắm. Năm học bắt đầu từ tháng 9 đến đầu tháng 7 trong đó có 3 tuần nghỉ Nô-en và một tuần nghỉ vào mùa xuân. Mỗi tuần sinh viên được đến rạp chiếu phim hai lần và có hai trại ở Crimea để sinh viên tham gia các hoạt động vừa làm việc vừa học tập trong kỳ nghỉ hè. Ở đó một số sinh viên được dạy cách nuôi gia súc, trong khi những người khác trồng trọt trên một trăm mẫu đất để làm thực phẩm phục vụ trại hè. Trong suốt kỳ nghỉ, sinh viên giúp nông dân địa phương thu hoạch hoặc tham gia các dịch vụ cộng đồng khác. Tuy nhiên, nhiều sinh viên, có thể do không quen với cái lạnh kinh khủng của mùa đông nước Nga, bị ốm và vì lý do đó mà một số bị loại không được tham gia chương trình nữa. Một sinh viên Việt Nam bị mắc bệnh lao và yêu cầu được chuyển đến một thành phố ở phía Nam Liên-Xô.

Như Nguyễn Ái Quốc mô tả trong bài báo của mình, trường là một nơi thanh bình để học tập. Có hai thư viện với 47.000 đầu sách và mỗi quốc gia có học sinh học ở trường có một ngăn sách và tạp chí bằng ngôn ngữ của quốc gia đó. Các sinh viên “nghiêm túc và đầy nhiệt huyết” và “có niềm đam mê cháy bỏng muốn thu kiến thức và học tập”. Nhân viên và giáo viên đối xử với các sinh viên nước ngoài “như những người anh em” và thậm chí còn mời họ “tham gia vào đời sống chính trị của đất nước”.

Nguyễn Ái Quốc không hài lòng với mọi mặt của trường này. Chẳng bao lâu sau khi tham dự lễ kỷ niệm lần thứ ba của trường vào tháng tư năm 1924, ông viết một bức thư gửi đồng chí Pê-tơ-rốp, thư ký của Văn phòng Viễn Đông, phàn nàn rằng thực ra không có người Việt Nam nào học tại trường và gợi ý rằng cần xây dựng một khu riêng cho sinh viên châu Á. Ông nêu rõ, trường Xta-lin làm một khuôn mẫu định hướng tư tưởng của thế hệ các nhà cách mạng châu á sau này và sẽ trở thành cơ sở để cuối cùng thành lập một “hiệp hội” Cộng sản của phương Đông.

Trường Xta-lin có hai cấp-một chương trình cơ bản kéo dài 3 năm về chủ nghĩa Mác-Lê-nin và các ngành khoa học, và một “khoá ngắn hạn” trong khoảng 7 tháng cho các sinh viên học ngắn hạn. Nguyễn Ái Quốc theo học khoá ngắn hạn, có lẽ vì ông đang làm việc cho Quốc tế Cộng sản và không có ý định ở lại thêm Mát-xcơ-va. Ông cũng tham gia một số tổ chức khác do Xô-viết thành lập cách đó ít lâu, thí dụ như Quốc tế Lao động đỏ, Quốc tế Thanh niên và Quốc tế phụ nữ. Rõ ràng là giới lãnh đạo Quốc tế Cộng sản coi ông là biểu tượng của các dân tộc thuộc địa, người đóng góp một nét châu á cho vô số các hoạt động mặt trận được thành lập trong những ngày tháng sôi động ấy. Đầu tháng 5 năm 1924, ông được mời tham gia các lễ kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động hằng năm và nói chuyện về tình đoàn kết công nhân quốc tế tại các lễ hội ở Quảng trường Đỏ. Hai tháng sau, ông tham gia vào Đại hội lần thứ ba Quốc tế Lao động Đỏ với tư cách là đại diện của Đông Dương. Ông cũng tham dự Đại hội phụ nữ quốc tế, nơi mà ông có cuộc nói chuyện ngắn với người vợ goá của Lê-nin là bà Na-đê-đa Cờ-rúp-xkai-a. Qua vô số các hoạt động khác nhau ấy, Nguyễn Ái Quốc dần dần trở thành một nhân vật nổi tiếng ở Mát-xcơ-va và quen biết các nhân vật chủ chốt của phong trào Cộng sản quốc tế, thí dụ Bôn-sê-vích cựu trào Ni-cô-lai Bu-kha-rin, nhà cộng sản Phần Lan ốt-tô Ku-xi-nen, lãnh đạo Quốc tế Cộng sản người Bun-ga-ri Gioóc-giơ Đi-mi-tơ-rốp và Ơn Tha-man, một đảng viên đứng đầu Đảng Cộng sản Đức. Ông cũng gặp một số đồng chí người Trung Quốc đang theo học tại trường (trong đó có thủ tướng tương lai Chu Ân Lai, người mà ông đã gặp lần đầu tại Pa-ri), cũng như cố vấn trưởng quân đội của Tôn Dật Tiên là Tưởng Giới Thạch, người đã thăm Mát-xcơ-va trong 3 tháng vào cuối mùa hè và mùa thu năm 1923.

Nhìn chung, người quen của ông có vẻ quý mến ông. Rút Phích-xơ, một nhà cộng sản có uy tín người Đức, nhận xét rằng tuy ông không gây được ấn tượng lúc ban đầu nhưng chẳng bao lâu sau ông được tất cả mọi người kính trọng và yêu mến nhờ “đức tính tốt và sự giản dị”. Là một người hành động thực tế hơn là một nhà lý thuyết, ông tỏ ra thông thạo trong việc tránh các tranh chấp bè nhóm căng thẳng đã bắt đầu nảy sinh trong giới lãnh đạo Xô-viết và cuối cùng dẫn đến sự suy yếu của Đảng Bôn-sê-vích (sắp được đổi tên thành Đảng Cộng sản Liên bang Xô-viết, gọi tắt là CPSU) và Quốc tế Cộng sản trong thập kỷ sau đó. Thời kỳ của Chính sách kinh tế mới là một khoảng giao thời tương đối ngắn khi mà đối với nhiều người dân Xô-viết và người nước ngoài tương lai lẽ ra phải sáng sủa hơn. Nội chiến kết thúc, Liên-Xô đã bãi bỏ chính sách cưỡng chế và áp bức những kẻ thù tiềm tàng và bắt đầu khuyến khích dân tham gia việc xây dựng nền kinh tế (“làm giàu cho mình” là một khẩu hiệu phổ biến vào thời đó). Đời sống văn hoá vẫn phong phú và đa dạng, vì các nhà văn, nghệ sĩ và tác giả Xô-viết tìm cách tạo nên một phương tiện cách mạng mới có thể diễn tả một cách chính xác những thay đổi sâu sắc đang diễn ra trên đất nước. Một vài năm sau đó, với thái độ kiên quyết của Xta-lin, thời kỳ này bất ngờ đi đến chỗ kết thúc.

Rõ ràng là Nguyễn Ái Quốc không bị mất đi nhiệt huyết cách mạng một chút nào. Nhà báo Ô-síp Man-đê-xtam, người đã phỏng vấn ông cho tạp chí Ogonyok (Ngọn lửa nhỏ) vào tháng 12 năm 1923, nhận thấy rằng người đàn ông trẻ tuổi này có đầy đủ phẩm chất của tầng lớp trí thức Nho giáo, có đôi mắt to đen láy, và khi ông nói về các điều kiện sống ở đất nước ông, toàn thân ông như không kìm nén được và đôi mắt ông dường như ánh lên dữ dội. Trong cuộc phỏng vấn, ông đã nói đến từ “văn minh hoá” với thái độ ghê tởm và chỉ trích gay gắt Nhà thờ Cơ-đốc giáo ở Đông Dương vì đã chiếm gần một phần trăm đất canh tác của đất nước. Theo Bo-rít-xơ Xu-va-rin, nhà cộng sản người Pháp, người mà sau đó đã từ bỏ phong trài cách mạng, thì Nguyễn Ái Quốc giờ đã trở thành “một người theo Xta-lin hoàn toàn”.

Chỉ có một người trong số những người quen của ông lúc đó tỏ ra đánh giá thấp ông Nguyễn Ái Quốc. Nhà cộng sản lỗi lạc người Ấn Độ M.N.Roi, người mà sau đó là đại diện của Quốc tế Cộng sản ở Trung Quốc và (theo quan điểm của nhiều nhà quan sát) người mà việc thiếu trình độ là yếu tố chính dẫn đến sự thất bại của các nhà cộng sản Trung Quốc dưới bàn tay của Tưởng Giới Thạch năm 1927, cảm thấy rằng người thanh niên Việt Nam này về tư tưởng cũng như hình dáng không có gì gây ấn tượng và là một sinh viên nghèo nữa. Thật mỉa mai, Nguyễn Ái Quốc lại là một trong số ít người ở Mát-xcơ-va đồng ý luận chứng của Roi rằng cách mạng châu á là bước khởi đầu quan trọng để lật đổ chủ nghĩa tư bản thế giới.

Nguyễn Ái Quốc cũng giành nhiều thời gian để viết, ông là cộng tác viên thường xuyên cho các tờ báo cánh tả của Pháp và cho báo chí Xô-viết, xuất bản một số bài báo trên tờ Inprecor (cơ quan ngôn luận chính thức của Quốc tế cộng sản). Chủ đề của bài báo rất phong phú, nhưng luôn luôn có thiên hướng cách mạng. Ông viết về sự áp bức của chủ nghĩa đế quốc ở Trung Quốc, về các hoạt động của Đảng 3K ở Hoa Kỳ, về cuộc sống sôi động của nhân dân Liên bang Xô-viết, và tất nhiên là về sực bóc lột dân bản địa ở châu á và châu Phi của thực dân. Cùng với các sinh viên Trung Quốc ở Trường Xta-lin, ông đã chủ biên một cuốn sách nhỏ Trung Quốc và Thanh niên Trung Quốc, xuất bản năm 1925 bằng tiếng Trung Quốc, tiếng Pháp và tiếng Nga. Ông cũng viết về lịch sử Đông Dương dưới chế độ Pháp thuộc, mà theo hồ sơ của Quốc tế Cộng sản thì cuốn sách này vẫn chưa được xuất bản.

Tuy nhiên, bài viết chính của Nguyễn Ái Quốc trong thời gian ông ở Mát-xcơ-va là Le procès de la colonisation fransaise, được dịch sang tiếng Anh là “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Dựa trên những bài báo mà ông đã viết khi sống ở Pa-ri cũng như bản thảo có tựa đề Những người bị áp bức biến mất trước khi xuất bản năm 1920, cuốn sách được hoàn thành ở Mát-xcơ-va và do nhà xuất bản Lao động ấn hành ở Pa-ri năm 1926, một thời gian dài sau khi ông rời Pháp đi Mát-xcơ-va. Đây là một bản cáo trạng không có trật tự về điều kiện của thuộc địa trên toàn thế giới và kết thúc bằng lời kêu gọi thiết tha thanh niên Đông Dương vùng lên chống những kẻ bóc lột. Nhiều tư liệu trong cuốn sách nói về Đông Dương nhưng cũng có những chỗ đề cập các thuộc địa châu Phi. Mặc dù có thể đó là một trong những tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Hồ Chí Minh, cuốn sách được bố cục rất tồi và viết dở đến mức một nhà chuyên viết tiểu sử đã dự đoán rằng nó có thể do người Việt Nam nào khác viết và sau đó được in dưới cái tên của ông. Nhưng lời văn và phong cách thì rất gần với các bài viết khác của Nguyễn Ái Quốc mà hầu hết các học giả khó có thể nghi ngờ về việc nó có phải là tác phẩm của ông hay không. Điều có thể nói về cuốn sách này là nó cho thấy bằng chứng là đã được viết một cách vội vàng.

Trong tất cả những phát biểu công khai, Nguyễn Ái Quốc dường như vẫn là một người có lòng tin đích thực. Những bài viết của ông về Liên bang Xô-viết đều có những lời lẽ ca ngợi và dường như sự ngưỡng mộ của ông đối với Lê-nin là vô bờ. Rõ ràng là ông đã rất thất vọng khi không thể gặp được nhà lãnh đạo đảng Bôn-sê-vích cho tới tận trước khi ông qua đời. Khi được hỏi về mục đích chuyến đi khi ông đến Pê-trô-grát vào tháng 7 năm 1923, ông trả lời rằng ông muốn được gặp Lê-nin và rất buồn rầu khi biết là nhà lãnh đạo Xô-viết bị ốm. Tháng 1 sau đó, ông đau khổi khi biết rằng Lê-nin đã qua đời. Giô-van-ni Giơ-man-tê-nô, một người Ý quên ông, đã kể lại: “Mát-xcơ-va tháng 1 năm 1924. Mùa đông nước Nga đang ở vào thời kỳ lạnh giá nhất. Đôi khi nhiệt độ xuống đến mức âm 40 độ. Vài ngày trước Lê-nin qua đời. Buổi sáng hôm đó, một tiếng gõ cửa nhẹ ở phòng chúng tôi trong khách sạn Lux đã đánh thức tôi. Cửa mở và một người đàn ông trẻ gầy gò bước vào. Ông nói ông là người Việt Nam, tên là Nguyễn Ái Quốc. Ông cũng nói là ông định đến Nhà Công đoàn để tiễn biệt Lê-nin.

Tôi nói với ông rằng ông mặc quá phong phanh so với thời tiết giá lạnh ở bên ngoài. Tôi nói rằng ông nên đợi, chúng tôi sẽ đưa cho ông một số quần áo ấm. Nguyễn Ái Quốc thở dài và ngồi xuống uống trà với chúng tôi, và cuối cùng về phòng ông. Chúng tôi nghĩ rằng ông đã nghe theo lời khuyên của chúng tôi và đã ở lại trong phòng. Khoảng 10 giờ tối hôm đó, tôi lại nghe thấy một tiếng gõ cửa nhẹ. Đó là đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Mặt xanh nhợt, và mắt, mũi, các ngón tay cũng xanh nhợt do cái lạnh tê tái. Nguyễn Ái Quốc nói rằng vừa gặp đồng chí Lê-nin. Ông lạnh run lên trong khi giải thích với chúng tôi rằng ông không thể chờ đến sáng mai để tiễn đưa người bạn tốt nhất của nhân dân thuộc địa… Cuối cùng ông hỏi chúng tôi có trà nóng không”.

Theo ông Ép-ghê-nhi Cô-bê-lép, người Xô-viết, nhà viết tiểu sử Hồ Chí Minh, sau khi tham dự đám tang Lê-nin trở về, Nguyễn Ái Quốc tự nhốt mình trong phòng và viết một bài về sự đau khổ của ông trước cái chết của nhà lãnh đạo Bôn-sê-vích hào hiệp, người đã dành thời gian và sức lực để chăm lo cho việc giải phóng nhân dân thuộc địa. Ông kết luận “Trong cuộc đời mình , Lê-nin là người cha, người thầy, người đồng chí và người cố vấn của chúng ta. Giờ đây, ông là ngôi sao soi đường cho chúng ta trong quá trình cách mạng xã hội. Lê-nin vẫn sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Ông là bất tử.”

Tuy nhiên, một số tiểu tiết lại cho thấy rằng không phải tất cả mọi thứ đều có thể mê hoặc ông. Khi chuyển đến khách sạn Lux vào đầu tháng 12 năm 1923, ông được xếp ở một phòng nhỏ gồm có 4 hay 5 sinh viên rõ ràng là không làm ông hài lòng. Tháng 3 sau đó, ông viết một bức thư phàn nàn về các điều kiện – ban ngày thì ông bị đánh thức bởi tiếng ồn, ban đêm thì tiếng côn trùng làm ông không ngủ được – và ông tuyên bố rằng ông rút lại 5 rúp tiền thuê phòng một tháng để phản đối. Cuối cùng ông cũng được thu xếp ở phòng khác.

Trong một tư liệu quan trọng hơn, Nguyễn Ái Quốc không phải lúc nào cũng hài lòng với các quyết định chiến lược. Trong nhiều tháng trời, ông đã khuấy động những người quen của mình về vấn đề chủ nghĩa thực dân. Tháng 2 năm 1924, ông viết cho một người bạn ở trụ sở Quốc tế Cộng sản (có thể là Đi-mi-tơ-ri Ma-nu-xki) để cảm ơn vì đã nêu vấn đề thuộc địa tại hội nghị của Đảng Cọng sản Pháp tại Ly-ông. Cũng trong ngày hôm đó, ông viết thư cho Tổng Thư ký Quốc tế Cộng sản Gờ-ri-gô-ri Di-nô-vi-ép yêu cầu được phỏng vấn để thảo luận vấn đề thuộc địa. Không có hồi âm, ông viết một lá thư thứ hai phàn nàn rằng ông không nhận được hồi âm về đề nghị phỏng vấn của mình. Không có biểu hiện gì là Di-nô-vi-ép đã trả lời đề nghị của ông.

Không chắc điều mà ông muốn thảo luận với Di-nô-vi-ép là gì, nhưng trong một bài báo xuất bản trong số tháng 4 của tờ Inprecor có tựa đề “Đông Dương và Thái Bình Dương”, Nguyễn Ái Quốc đã tuyên bố rằng mặc dù thoạt nhìn vấn đề châu Á không có liên quan gì đến các công nhân châu Âu, trên thực tế vấn đề Đông Dương và châu Á có tầm quan trọng đối với công nhân trên tất cả các nước. Ông nói, bóc lột của thực dân ở khu vực không chỉ làm giàu cho các nhà tư bản và các chính trị gia làm bừa, mà còn có nguy cơ làm bùng nổ một cuộc chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc mới. Những hành động đó đã trở thành mối đe doạ đối với công nhân ở Đông Dương và Châu Á và cả với giai cấp vô sản quốc tế nữa.

Khi đề cập mốí quan hệ giữa các điều kiện ở châu Âu và châu Á, Nguyễn Ái Quốc, không biết là cố tình hay vô ý, đã đề cập đến một khu hầm mỏ lúc đó đang là đề tài của các cuộc tranh luận gay gắt ở các cuộc họp của Quốc tế Cộng sản kể từ sau Đại hội thứ hai năm 1920. Những người phát ngôn của nhân dân phương Đông thuộc địa như M.N.Roi đã tranh luận rằng một giải pháp cho “vấn đề phương Đông“ là cần thiết quyết định số phận cuối cùng của cách mạng thế giới, nhưng nhiều nhà cộng sản châu Âu phản bác lại rằng không thể có cách mạng ở châu á chừng nào các đảng Cộng sản chưa cầm quyền ở các nước châu Âu.

Lúc đầu, những người chủ trương một chiến lược dựa vào châu Á có thuận lợi là có bạn bè ở địa vị cao-trong đó có Lê-ni và thậm chí cả Giô-dép Xta-lin đến những người rõ ràng là thấu hiểu các quan điểm của họ. Nhưng cho đến năm 1924, Lê-nin mất và Xta-lin đến trở nên bận rộn với cuộc đấu tranh nội bộ đảng để giành vị trí chủ chốt ở Mát-xcơ-va. Di-nô-vi-ép, người lúc đó đang đứng đầu Quốc tế Cộng sản, tỏ ra không hứng thú gì với vấn đề này. Nhà cộng sản người Hà Lan, ông Ma-rinh, đã rời bỏ Quốc tế Cộng sản và ngay cả Ma-nu-xki, nhà bảo trợ lúc đầu của Nguyễn Ái Quốc, là một người U-crai-na và biết rất ít về châu á đã tập trung hoạt động của mình ở vùng Ban-căng.

Khi đó người ta chẳng quan tâm gì đén vai trò của nông dân. Sau sự khởi đầu rầm rộ, Cơ-rét-xơ-tin-tơn đã mất thanh thế và không được các quan chức trong đảng quan tâm đến công nhân ở Mát-xcơ-va để ý đến. Ngay cả Ni-cô-lai Bu-kha-rin, một trong những nhà lãnh đạo có hiểu biết hơn của đảng Bôn-sê-vích, đã nhắc đến Thô-mát Đôm-ba như một “tầm nhìn của nông dân”. Nguyễn Ái Quốc đã cố gắng không để cho vấn đề này bị lãng quên và đã nói lên vấn đề giai cấp nông dân tại một hội nghị của Cơ-rét-xơ-tin-tơn vào tháng 6 năm 1924, nhưng ông ít được hưởng ứng. Khi nhận xét với một người bạn, ông đã coi mình như một “tiếng khóc mờ nhạt trên chính trường”.

Đại hội lần thứ năm Quốc tế Cộng sản tổ chức vào đầu mùa hè năm 1924, là một cơ hội hiếm hoi cho Nguyễn Ái Quốc trình bày quan điểm của mình trong một tổ chức lớn hơn Quốc tế Cộng sản, Đại hội thực ra có thể là lý do ban đầu cho việc ông đến Mát-xcơ-va, khi mà Đi-mi-tơ-ri Ma-nui-xki coi ông là một nguồn thông tin vì ông sẽ phát biểu về vấn đề thuộc địa tại hội nghị. Vì ở Đông Dương chưa có Đảng Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia hội nghị với tư cách là đoàn viên của đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp.

Đại hội lần thứ năm khai mạc vào ngày 17 tháng 6 và các phiên họp diễn ra tại Nhà hát lớn ở trung tâm Mát-xcơ-va. Hơn 500 đại biểu đại diện cho gần 50 nước đã tham dự. Ban lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản ngày càng trở nên nhạy cảm với những lời buộc tội của những người đồng chí châu á về thái độ xao lãng và đã quyết định dành một phiên đặc biệt thảo luận về vấn đề thuộc địa và các vấn đề liên quan đến các dân tộc không phải là người Nga. Ngoài ra, Đại hội đã thành lập một uỷ ban giải quyết vấn đề này. Nhưng Đại hội lại diễn ra vào lúc cao điểm của cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa Xta-lin và đối thủ của ông là Lê-ôn Trốt-xki, và các thành viên hàng đầu của Đảng Cộng sản Liên bang Xô-viết bận rộn với cuộc đấu tranh trong điện Crem-lanh nên chẳng quan tâm đến vấn đề phương Đông. Trong phát biểu khai mạc, Tổng Thư ký Di-nô-vi-ép, ít lâu sau trở thành một trong những thách thức lãnh đạo Đảng của Xta-lin, chỉ nhắc qua vấn đề quốc gia và thuộc địa chủ yếu tập trung vào các nước ở Đông Âu. Có thể là do Nguyễn Ái Quốc hối thúc – người mà có thể trước đó đã làm phiền ông về việc nêu vấn đề đó-ông đã chỉ trích Đảng Cộng sản Pháp đã không quan tâm đầy đủ đến vấn đề thuộc địa.

“Ngay từ đầu, Nguyễn Ái Quốc đã làm cho mọi người biết đến sự có mặt của ông. Trong phiên khai mạc, khi đại biểu Va-xi-li Cô-la-rốp đang đọc bản thảo nghị quyết được chuẩn bị công bố sau khi nghỉ, Nguyễn Ái Quốc đã hỏi liệu Đại hội có đáp ứng một lời kêu gọi đặc biệt cho nhân dân các nước thuộc địa không. Cô-la-rốp lo ngại trả lời rằng vấn đề thuộc địa đã có trong chương trình nghị sự rồi và do đó bất cứ đại biểu nào cũng có thể nêu lên tại hội nghị. Nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn giữ ý kiến của mình và yêu cầu mọi bài phát biểu đều phải có câu “đối với nhân dân các nước thuộc địa”. Đề nghị này đã được các đại biểu chấp thuận.”

Ngày 23 tháng 6, Nguyễn Ái Quốc phát biểu, ông nói với các đại biểu: “Tôi có mặt ở đây, để liên tục nhắc nhở Quốc tế Cộng sản về sự tồn tại của các thuộc địa và để nêu rõ rằng cuộc cách mạng phải đối mặt với một hiểm hoạ từ các nước thuộc địa cũng như một tương lai huy hoàng ở các thuộc địa. Dường như những người đồng chí không hiểu hết một thực tế là số phận của giai cấp vô sản thế giới, và đặc biệt là số phận của giai cấp vô sản ở các nước hiếu chiến đã xâm lược các thuộc địa, có gắn liền với số phận của những người bị áp bức ở các thuộc địa. Nếu điều này là đúng thì tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có thể hoặc, nếu cần thiết, tạo cơ hội để chỉ rõ tầm quan trọng của ván đề thuộc địa…

Các bạn phải tha thứ cho sự thẳng thắn của tôi, nhưng tôi không thể không nhìn nhận rằng các bài phát biểu của các đồng chí từ mẫu quốc đã để lại cho tối ấn tượng rằng họ muốn giết một con rắn bằng cách đánh giập đuôi. Tất cả các bạn đều biết rằng ngày nay cả nọc độc và sức sống của con rắn tư bản tập trung nhiều ở thuộc địa hơn là ở mẫu quốc. Thuộc địa cung cấp nguyên liệu thô cho công nghiệp. Thuộc địa cung cấp lính cho quân đội. Trong tương lai, các thuộc địa sẽ là những thành trì phản cách mạng. Tuy nhiên, trong các cuộc thảo luận về cách mạng, các bạn đã bỏ qua không nói về thuộc địa. Nếu bạn muốn đập vỡ một quả trứng hay một hòn đá, bạn phải cần tìm một công cụ mà sức mạnh của nó tương ứng với vật mà bạn định làm vỡ. Tại sao trong cuộc cách mạng này bạn lại không làm cho sức mạnh và sự tuyên truyền của bạn ngang tầm với kẻ thù mà bạn định đánh bại? Tại sao bạn lại bỏ qua thuộc địa, tại sao chủ nghĩa tư bản lại sử dụng chúng để hỗ trợ cho chính nó, tự bảo vệ và đánh bại bạn?”

Ngày 1 tháng 7, ông Nguyễn Ái Quốc một lần nữa lại phát biểu để nhấn mạnh việc Đi-mi-tơ-ri Ma-nu-xki chỉ trích các Đảng Cộng sản châu Âu đã thất bại trong việc giải quyết vấn đề thuộc địa. Trong một báo cáo dài, ông đã nêu ra không chỉ các Đảng Cộng sản Pháp mà các Đảng Cộng sản Anh và Hà Lan thiếu nỗ lực thực hiện một chính sách thuộc địa mạnh mẽ và liên lạc với các bộ phận cách mạng ở các nước thuộc địa. Khi nêu ra thực tế là các tờ báo của Đảng Cộng sản Pháp đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội để làm cho độc giả chý ý đến vấn đề này, ông kêu gọi cần có một số biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình. Trong bài phát biểu tại hội nghị về nông dân, ông đã không khẳng định vai trò trung tâm của nông thôn trong cuộc cách mạng tới, nhưng ông đã cố gắng chỉ ra rằng nông dân sẽ đóng vai trò tích cực.

Trong tất cả các thuộc địa của Pháp, nạn nghèo đói đều tăng, sự phẫn uất ngày càng lên cao. Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã chín muồi. Ở nhiều nước thuộc địa, họ đã vài lần nổi dậy nhưng lần nào cũng bị dìm trong máu. Nếu hiện nay nông dân vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực, thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo. Quốc tế Cộng sản cần phải chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng.

Với những gì ông làm tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ năm, Nguyễn Ái Quốc đã làm cho các nhà lãnh đạo của phong trào cộng sản thế giới để ý. Hoạ sĩ người Liên-Xô, ông N.I Cơ-rốp-chen-kô đã yêu cầu ông cho vẽ chân dung, bức chân dung này sau đó xuất hiện trên tờ Rabôtaya Gazeta (Tạp chí Công nhân) vào cuối tháng 7, trong khi tờ Prav-da kể lại các nhận xét của ông với tựa đề mang tính khiêu khích là “Từ lời nói đến việc làm, Phát biểu của đại biểu Đông Dương Nguyễn Ái Quốc”. Lúc đó, ông vẫn theo chính sách chính thức nhưng chẳng bao lâu sau việc ông nhấn mạnh vào tầm quan trọng của giai cấp nông dân đối với cuộc cách mạng ở châu Á bị coi là lập dị và bị trừng phạt nặng nề ở Mát-xcơ-va.

Kết quả là Đại hội không mang lại sự thay đổi nào đối với chính sách của Quốc tế Cộng sản, nhưng nó đã cho thấy nhận thức về vấn đề thuộc địa đã được cải thiện. Giới lãnh đạo dường như đã nhận ra là phải cần thiết tăng cường tuyên truyền và vận động ở các vùng thuộc địa, và đã thiết lập một uỷ ban về tuyên truyền quốc tế. Nguyễn Ái Quốc được coi là một trong những thành viên sáng lập ra uỷ ban này. Tuy nhiên, Đại hội đã không đưa một tuyên bố đặc biệt nào về vấn đề thuộc địa vào nghị quyết cuối cùng-một sai sót sau này đã được sửa chữa tại Đại hội 4 năm sau đó. Nhưng Quốc tế Cộng sản đã đưa ra một lời kêu gọi rộng rãi “những người nô lệ ở thuộc địa”, như Nguyễn Ái Quốc đã đề xuất tại phiên khai mạc.

Dù có phải là đáp lại sự chỉ trích của Nguyễn Ái Quốc hay không, lãnh đạo Quốc tế Cộng sản đã bắt đầu chú ý đến việc đưa nhiều nhà cách mạng châu Á hơn sang học ở Liên-Xô. Trong những năm sau khi Đại hội diễn ra, nhiều người ở châu á hơn, trong đó có hơn 100 người Việt Nam được cử đến Mát-xcơ-va hoặc Lê-nin-grát (thành phố Pê-trô-grát lấy tên này sau khi Lê-nin mất) để đào tạo và cuối cùng trở về quê hương để hoạt động cách mạng. Nhóm đầu tiên gồm ba người Việt Nam đã đến từ Pháp vào giữa năm 1925.

Bộ máy trung tâm của chương trình đào tạo các nhà cách mạng châu Á vẫn là trường Xta-lin. Về phần mình, Đảng Cộng sản Pháp đã được chỉ dẫn sửa những sai lầm của mình. Uỷ bân nghiên cứu thuộc địa được tổ chức lại thành Uỷ ban Thuộc địa, đứng đầu là Giăc Đô-ri-ốt. Đầu năm 1925, Đảng đã thành lập một trường thuộc địa bí mật gần cửa ô Cơ-li-nhăng-cua vùng ngoại ô phía bắc Pa-ri để đào tạo các nhà cách mạng từ các thuộc địa để chuẩn bị học ở Liên-Xô. Trong lớp đầu tiên, một trong tám sinh viên là người Việt Nam. Trong nhiều năm sau, nhóm từ 5 đến 10 người Việt Nam đến Mát-xcơ-va hằng năm. Đa số đến từ Pháp nhưng có một số người đến thẳng từ Đông Dương.

Việc Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ năm đã đánh dấu sự chấm dứt giai đoạn ông học làm cách mạng và bắt đầu giai đoạn nhà lãnh đạo châu Á của phong trào cộng sản quốc tế. Giờ đây ông được công nhận là người phát ngôn về vấn đề phương Đông và ủng hộ chính sách quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề liên quan đến giai cấp nông dân. Bằng lòng với chính mình và thoả mãn mong muốn được hướng Quốc tế Cộng sản chú ý hơn đến vấn đề thuộc địa, ông cảm thấy đã hoàn thành nhiệm vụ ở Mát-xcơ-va và sẵn sàng quay lại châu Á để phát động quá trình xây dựng phong trào cách mạng ở Đông Dương.

Lúc đầu, Nguyễn Ái Quốc đến Mát-xcơ-va với ấn tượng rằng ông sẽ chỉ ở đó trong thời gian ngắn trước khi trở về tổ quốc. Trong một bức thư gửi Ban Điều hành Quốc tế Cộng sản tháng 4 năm 1924, ông đã phàn nàn rằng cả Ban Quốc tế Cộng sản lẫn Đảng Cộng sản Pháp đều không biết nhiều về tình hình ở các thuộc địa của Pháp. Ông khẳng định điều thiết yếu là phải thiết lập kênh liên lạc với thuộc địa, và ông tự cử mình làm sĩ quan liên lạc. Bức thư đã bày tỏ một cách đầy đủ ý định của ông: “Khi tôi đến Mát-xcơ-va, tôi đã quyết định rằng sau 3 tháng ở đây, tôi sẽ đi Trung Quốc để thiết lập kênh liên lạc với đất nước. Tôi ở đây đến nay đã là tháng thứ chín rồi và đây là tháng thứ sáu mà tôi chờ, tuy nhiên việc tôi đi vẫn chưa được quyết định. Tôi không cảm thấy cần thiết phải nói với các bạn về các phong trào cách mạng hay quốc gia dù cũ hay mới, về sự tồn tại hay không tồn tại của các tổ chức công nhân, hay về các hoạt động của các tổ chức bí mật và các nhóm khác, bởi vì ở đây tôi không có ý định trình bày một luận án, nhưng tôi muốn nêu rõ sự cần thiết là chúng ta phải nghiên cứu tình hình một cách thận trọng và nếu không thì cũng tạo ra một cái gì đó.

Chuyến đi của tôi sẽ là chuyến đi điều tra và nghiên cứu. Tôi phải cố gắng. a) thiết lập các kênh liên lạc giữa Đông Dương với Quốc tế Cộng sản, b) nghiên cứu tình hình chính trị, kinh tế và xã hội ở thuộc địa đó, c) thiết lập kênh liên lạc với các tổ chức đã có từ trước, d) cố gắng tổ chức một cơ sở thông tin và tuyên truyền.

Làm thế nào tôi có thể hy vọng hoàn thành công việc đó? Trước hết, tôi phải đi Trung Quốc. Từ đó, làm bất cứ gì trong khả năng có thể. Số tiền cần có để hỗ trợ cho các hoạt động của tôi sẽ là bao nhiêu? Tôi sẽ phải di chuyển nhiều, duy trì quan hệ với nhiều nhóm, trả tiền thư từ, mua các ấn phẩm phát hành ở Đông Dương, thu xếp chỗ ăn ở, v.v… Sau khi thảo luận với các đồng nghiệp người Trung Quốc ở đây, tôi dự tính là tôi sẽ cần một ngân sách khoảng 100 đô-la một tháng, không kể tiền đi từ Nga đến Trung Quốc. Tôi không tính tiền thuế. Tôi hy vọng rằng những điều trên đây sẽ là cơ sở để thảo luận vấn đề tôi trở lại Viễn Đông”.

Nguyện vọng trở lại châu Á của Nguyễn Ái Quốc có thể đã trở nên mạnh mẽ hơn sau các cuộc nói chuyện với nhân viên người Liên-Xô là S.A. Đa-lin, vừa tiến hành các hoạt động tuyên truyền ở Quảng Châu về. Ở Quảng Châu, nhà yêu nước người Trung Quốc Tôn Dật Tiên đã thiết lập các trụ sở tạm thời của phong trào cách mạng. Năm trước đó, ông Tôn đã ký một thoả thuận cho phép một phái đoàn tư vấn Xô-viết dưới sự lãnh đạo của nhân viên Quốc tế Cộng sản Mi-kha-in Bô-rô-đin đóng ở Quảng Châu để giúp tổ chức lại Quốc dân đảng của ông Tôn theo đường lối của chủ nghĩa Lê-nin. Đa-lin đã là thành viên của nhóm đến Quảng Đông cùng với Bô-rô-đin vào tháng 10. Khi trở về Mát-xcơ-va, Đa-lin ở khách sạn Lux, nơi mà ông gặp Nguyễn Ái Quốc và nói chuyện với ông về các điều kiện ở nam Trung Quốc. Rõ ràng là Nguyễn Ái Quốc đã rất vui mừng khi được biết là có một số đáng kể người Việt Nam di cư ở đó tham gia các hoạt động nhằm tiêu diệt chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương.

Tuy nhhiên, vì nhiều lý do, chuyến đi của ông bị trì hoãn. Tháng 4 năm 1924, ông đã được cử đến I-a-cút, ở vùng Xi-bê-ria Liên-Xô, để hộ tống một đoàn đại biểu Trung Quốc đến Mát-xcơ-va. Chẳng bao lâu sau khi quay trở lại, người bảo hộ của ông là Đi-mi-tơ-ri Ma-nu-xki đã gọi ông đến. Ma-nu-xki chào ông: “Thế nào, đồng chí, đồng chí có muốn chiến đấu không?”. Nguyễn Ái Quốc nhân dịp này nói lên quan điểm của mình với bạn, lập luận rằng các điều kiện đã có đủ cho “một đảng Bôn-sê-vích” ở Đông Dương. Phong trào công nhân đang lên và có nhiều người Việt Nam di cư đang sống ở Nam Trung Quốc. Ông đề nghị tổ chức họ thành các hạt nhân của một Đảng Cộng sản trong tương lai. Ma-nu-xki đồng ý, nhưng với một điều kiện là Nguyễn Ái Quốc sẽ dùng kinh nghiệm của mình để giúp đỡ các dân tộc khác ở khu vực. Ít lâu sau, Nguyễn Ái Quốc được bổ nhiệm làm một uỷ viên của Ban thư ký Viễn Đông của Ban Điều hành Quốc tế Cộng sản.

Tuy nhiên, các bộ máy quan liêu chuyển động một cách chậm chạp. Trong một bức thư gửi Gơ-ri-go-ri Voi-tin-xki vào ngày 11 tháng 9, ông Quốc đã phàn nàn rằng chuyến đi đến Trung Quốc của ông đã bị trì hoãn “vì lý do này hay lý do khác” và “từ tuần này đến tuần khác”, và sau đó “từ tháng này đến tháng khác”. Ông cũng thất vọng khi phát hiện ra rằng Đan-bu-rô đã không thể tài trợ cho chuyến đi của ông hoặc bổ nhiệm ông vào một chức vụ chính thức ở phái đoàn của Quốc tế Cộng sản với tư cách nào đó, nhưng khi các kế hoạch này không được thông qua thì chuyến đi lại bị hoãn. Không đủ kiên nhẫn để chờ, cuối cùng ông đề nghị tự xin việc làm sau khi đến Quảng Đông nếu Văn phòng Viễn Đông có thể cung cấp vé cho ông. Ngày 25 tháng 9, do thúc giục của đại diện của Đảng Cộng sản Pháp ở Mát-xcơ-va, Văn phòng Viễn Đông đã chấp nhận yêu cầu của ông “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc cần đi đến Quảng Châu. Chi phí sẽ do Văn Phòng Viễn Đông chịu”.

Cuối cùng Nguyễn Ái Quốc đã thuyết phục được Quốc tế Cộng sản cho phép ông trở lại châu Á để hoạt động cách mạng. Tuy nhiên, như ông nói với một người bạn, sắp xếp đó có “những điểm bất tiện” vì ông bị buộc phải hoạt động một cách bất hợp pháp ở Quảng Đông, dưới con mắt giám sát của Sở Mật thám Pháp ở tô giới Pháp trong thành phố (trong thế kỷ thứ 19, các quốc gia châu Âu đã gây áp lực đối với triều đình nhà Thanh nhượng cho họ các vùng ở nhiều nơi dọc theo bờ biển nơi mà người nước ngoài có thể hoạt động dưới quyền tài phán của châu Âu). Ông phải tự trang trải các chi phí ở một nước mà ông chưa bao giờ đến và làm việc đó bằng một ngôn ngữ mà ông chỉ có thể đọc và viết nhưng không nói được. Để tìm cho mình một chỗ dựa và một nguồn tài trợ nào đó, ông đã đến các văn phòng của cơ quan thông tấn Xô-viết ROSTA và đồng ý gửi đến Mát-xcơ-va các bài báo viết về hoàn cảnh ở Trung Quốc.

Tháng 10, Nguyễn Ái Quốc đã rời Mát-xcơ-va bằng tàu hoả từ nhà ga I-a-rốt-láp-xki. Cũng như trước kia, ông đi mà không báo cho bạn bè, chỉ yêu cầu Thô-mát Đôm-ba nói lại với mọi người là ông bị ốm, bởi vì ông sẽ sống bất hợp pháp ở Trung Quốc. Để xoá mọi dấu vết của chuyến đi, ông viết thư cho một người quen Pháp, giải thích rằng ông sẽ trở lại Pháp vì không được phép đến Đông Dương. Lá thư được một điệp viên báo lên cho Sở mật thám Pháp.

Đi Vla-đi-vô-xtốc trên tàu tốc hành xuyên Xi-bê-ri thường mất 3 tuần, vì tàu bị buộc phải thường xuyên dừng để lấy than và nước, và thỉnh thoảng nằm lại để tránh tàu. Từ cửa sổ, Nguyễn Ái Quốc đã chứng kiến thiệt hại lớn ở các thị trấn và làng mạc ở Xi-bê-ri do hậu quả của cuộc nội chiến đau thương giữa người Bôn-sê-vich và Bạch vệ, tuy cuộc nội chiến đã kết thúc cách đó 4 năm. Nhiều lần, các đơn vị Hồng quân mang súng máy lên tàu và kiểm tra hành khách xem có mang tài liệu chống cách mạng không. Dừng ở Vla-đi-vô-xtốc một thời gian ngắn, ông ở tại Khách sạn Lê-nin trên đại lộ chính của thành phố. Ông lại lên một con tàu biển Liên-Xô đi Trung Quốc. Tàu cập bến ở Quảng Châu ngày 11 tháng 11 năm 11 năm 1924.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: