Anhbaque’s Blog

Just another WordPress.com weblog

Bài 30. Đối đầu quân sự ở châu Á, Trung Quốc khẳng định tham vọng hải quân của mình

Posted by anhbahoa on November 27, 2009

Bài 30

Đối đầu quân sự ở châu Á,Trung Quốc

khẳng định tham vọng hải quân của mình

Rivalités militaires en Asie

La Chine affirme ses ambitions navales

Olivier Zajec

Nguyễn Hải chuyển ngữ

Le Monde Diplomatique(09/2008)

Trong cơn phẫn nộ từ những cuộc dội bom ở vùng Caucase, các báo cáo quốc tế hình như lại xác tín: sự khẳng định của nước Nga rằng họ không còn do dự trong việc phô trương cơ bắp , diễn văn sắt đá của chính quyền ông George W. Bush nhưng lại không đủ khả năng trợ giúp một tay cho các nhà lãnh đạo nước Georgia (đọc “Khi các ‘ông lớn’ vui đùa ở Ossetia”), ý định thoáng qua của Liên minh châu Âu muón giữ một vai trò trong cuộc khủng hoảng này… Tuy nhiên, các thế cân bằng địa- chính trị lớn chỉ có thể thay đổi từ từ. Dù gặp khó khăn ở Irắc và Afghanistan, Hoa Kỳ vẫn duy trì được năng lực quân sự cao hơn nhiều các khả năng quân sự của các nước còn lại trên thế giới. Điều này đặc biệt đúng trong lĩnh vực hải quân (đọc “Các tổng thống thì đổi, nhưng đế quốc Mỹ vẫn còn đó”). Nhưng, Hoa Kỳ vẫn phải tính đến các diễn viên khác, trong đó có Trung Quốc (TQ), đã gia nhập câu lạc bộ khép kín gồm 8 nước có hạm đội lớn nhất thế giới. Sao mà ngược lại với những năm 1950, chỉ một viện trợ của Liên bang Xô-viết đủ cho phép Bắc Kinh làm hồi sinh lại một hải quân bờ biển nhỏ bé! TQ, cường quốc lục địa tự hướng tâm từ hàng ngàn năm nay, có phải nó biến hóa thành cường quốc hải dương toàn cầu, như các báo cáo của Mỹ tiên đoán?

Tại TQ trong năm 2006, một bộ phim tài liệu, do Đài Truyền hình Trung ương TQ sản xuất, đã thành công vang dội: Daguo Juequi—Đại Quốc Quật Khởi– (“Sự thăng hoa của các cường quốc”) (1). Dựa vào những cuộc phỏng vấn các sử gia và các nhà lãnh đạo quốc tế (như cựu tổng thống Pháp Valéry Giscard d’Estaing), và phiên bản tiếng Anh khá chuẩn đã được đài Mỹ History Channel (Kênh Lịch sử) phát hình, bộ phim giải thích làm sao mà các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Đức, Nhật, Nga và Hoa Kỳ đã được xây dựng, phát triển hoặc bị sụp đổ.

Theo Tiền Thứa Đán( Qian Chengdan), giáo sư Đại học Bắc Kinh, người gợi ý cho bộ phim, lý do mà người dân hâm mộ bộ phim này – 12 tập 50 phút – là dễ hiểu: “TQ của chúng tôi, dân tộc Trung Hoa, ‘chủng tộc’ Hán cùng nhau trỗi dậy và một lần nữa xuất hiện trên vũ đài thế giới (2).”

“Daguo Juequi” đã đề cập đến nỗ lực vươn ra biển của các cường quốc để được xếp vào các quốc gia đứng đầu thế giới. Mở cửa ra bên ngoài, kiểm soát các hành lang hàng hải chủ yếu và những điểm tựa ở vùng nước sâu, làm chủ công nghệ, hoàn thiện qui mô hành động và hiệu quả thực tế của hải quân  trong chiến lược của các “mô hình” đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, bất kể đến tầm quan trọng về dân số và diện tích đất đai.

Nói một cách chính xác thì đặc tính này là tâm của các trục ưu tiên mới của chính quyền TQ, được hình tượng hoa qua kế hoạch “Công nghệ cao hàng hải” năm 2000 và bằng việc tăng sức mạnh theo cấp số nhân cho Hải quân Quân đội Nhân dân Giải phóng.

Từ quan điểm là đoạn tuyệt với hàng thập niên với các bài diễn văn lịch sử “ý thức hệ hóa” của Đảng Cộng sản TQ, “Daguo Juequi”(Đại Quốc Quật Khởi) chứng thực cho chủ nghĩa thực dụng hướng ngoại của một cường quốc đang phát triển, được áp dụng để tránh căn bệnh mù quáng và kiêu căng đã đẩy đế quốc Trung Hoa, ở thế kỷ 19, vào một thời gian dài yếu đuối. Tác động một cách “hài hòa” và “hòa bình” (hai từ khóa chính thức của quan chức chính trị mới), mở TQ ra thế giới và nhất là thế giới vào TQ, đó có lẽ là quan điểm của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào.

Vào năm 2007, bằng nỗ lực ngoại giao hải quân chưa từng có, các tàu chiến TQ không những đã chính thức thăm viếng các cảng Pháp, Úc, Nhật, Nga, Singapore, Tây Ban Nha và Mỹ, mà còn tham gia vào diễn tập quốc tế chống nạn cướp biển đang gia tăng.

Tham vọng quyền lực mềm này cần phải được đặt vào tương lai, có tính đến môi trường khu vực và hai điểm cược chính. Điểm cược đầu tiên liên quan đến yêu sách lãnh thổ với Đài Loan và lớn nhất là về chu vi lãnh hải, được TQ xác định là vùng đặc quyền kinh tế(EEZ) ; việc thỏa mãn các yêu sách này tùy thuộc vào sự tự do  thông thương trong không gian biển cả rộng lớn của Thái Bình Dương và vào hành lang hàng hải của Đông Nam Á, ở bên kia bán đảo Đông Dương. Điểm cược thứ hai nói về việc bảo vệ các đường vận chuyển xăng dầu trên biẻn của  TQ, một nước nay trở thành nhà nhập khẩu dầu lửa thứ hai trên thế giới.

Tranh chấp hàng hải ở châu Á


Bản đồ của  Philippe Rekacewicz

Hiện tại thì điểm cược đầu có tính quyết định. Với cả 13 nước láng giềng (3), Bắc Kinh đạt được một thỏa thuận thân thiện  về biên giới gây tranh chấp trên bộ .

Chỉ hai nước Bhutan và Ấn Độ vẫn có phần nào đó ít nhiều còn chống đối TQ. Ngược lại, theo ông Loïc Frouart, thuộc vụ chiến lược Bộ Quốc phòng Pháp, “cả 14 500 km đường biên giới trên biển cũng là  hàm chứa chừng ấy  tiềm tàng khủng hoảng và va chạm. Các vụ tranh chấp ở đấy rất sâu xa và chưa thể giải quyết được (4)”. Tóm lại, Bắc Kinh đòi chủ quyền đầy đủ và  toàn thể 4 triệu km vuông mặt biển.

.

Dĩ nhiên là lãnh đạo TQ muốn thu lại chủ quyền đảo Đài Loan, “bằng sức mạnh nếu cần”. Đó luôn là quan điểm chính thức của Bắc Kinh, ngay cả với việc trở lại nắm quyền ở Đài Bắc của ông Mã Anh Cửu, Chủ tịch Quốc Dân Đảng, đã hâm nóng lại mối quan hệ giữa hai bờ. Qua sức mạnh tăng vọt nhanh chóng của hải quân mình và sự suy giảm, cho dù là tương đối, về hiệu số tải trọng của hải quân Mỹ, TQ muốn đánh vào tâm lý về tiến trình diễn biến “tất yếu” trong việc đưa Đài Loan trở lại đất mẹ một cách hòa bình. Lý lẽ ở đây chính là lôgích răn đe- lôi kéo, các quả tên lửa chĩa sang đảo – và thái độ của Mỹ – khiến Đài Bắc không thể tuyên bố độc lập, trong khi sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa lục địa và hòn đảo đang gia tăng, Đài Loan  đang sửa soạn cho tinh thần “tái hội nhập” kiểu Hồng Kông.

Mục tiêu: tiến ra vùng biển sâu

Tuy nhiên, Đài Loan chỉ là một quân cờ trong ván “cờ vây”(GO) hàng hải mênh mông. TQ chống lại Nhật Bản về quần đảo Diaoyu (Nhật gọi là Senkaku), gần đảo Okinawa, nơi có căn cứ Mỹ. Tokyo dằn từng tiếng là vùng đặc quyền  kinh tế của mình kéo dài đến 450 km phía tây quần đảo, đây là điều mà Bắc Kinh tranh cãi bằng cách cho là toàn bộ lãnh thổ  thềm lục địa kéo dài đến biển Đông TQ. Điểm cược phụ của cuộc xung đột: một mỏ khí có khả năng chứa đến 200 tỷ mét khối khí đốt. TQ cũng tranh chấp với Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Inđônêxia về quần đảo Trường Sa (TQ gọi là Nam Sa) và quần đảo Prata (Đông Sa). TQ tranh giành  với Việt Nam và Đài Loan quầnđảo Hoàng Sa (Tây Sa).

.

Mặt khác, ngoài những yêu sách về đảo, TQ còn tranh chấp với Nhật Bản và Việt Nam về biên giới đường biển. Phần phân chia sản lượng(quota) đánh bắt  cũng làm cho ông khổng lồ Á châu mới đối đầu với Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Philippines.

Ngày nay người ta quên là Bắc Kinh  luôn có phản ứng cực đoan trong vùng. Vào những năm 1950, hải quân TQ đã dùng sức mạnh để lấy lại các hòn đảo nhỏ ven biển do lính quốc gia của Tưởng Giới Thạch kiểm soát. Năm 1974, nhân sự thất trận của miền Nam Việt Nam, TQ chiếm quần đảo Hoàng Sa. Năm 1988, TQ dùng sức mạnh để đoạt đảo đá ngầm chữThập(Fiery Cross) trong quần đảo Trường Sa do Việt Nam chiếm giữ. Dựa vào những tiền lệ này, tất cả các nước trong khu vực, các chư hầu và triều cống cũ của đế quốc Trung Hoa, rất sợ, dù đúng hay sai, tham vọng hải quân– đã được tái khẳng định– của Bắc Kinh.

Tám hạm đội tàu chiến hàng đầu trên thế giới

Hoa Kỳ:          2 900 000  tấn

Nga:               1 100 000  tấn

TQ:                    850 000  tấn

Anh:                   470 000  tấn

Nhật Bản:          432 000  tấn

Pháp:                 307 000  tấn

Ấn Độ:               240 000  tấn

Ý:                      143 000  tấn

(Nguồn: Bernard Prézelin, Các hạm đội tàu chiến 2008, Nxb hàng hải và hải ngoại, Rennes, 2008)

Điều còn lại trước khi chiếm hữu các nguồn tài nguyên dầu mỏ hoặc các đàn cá ở biển Nam Trung Hoa chính là đưa hạm đội TQ ra biển khơi theo các phương án do Đô Đốc Liu Huaqing (Lưu Hoa Thanh) vạch ra vào những năm 1980 (5). Vào thời gian đầu, đó là tự đặt ra một “đường xanh lục” đi từ Nhật đến Malaysia, qua Đài Loan và Philippines, mà không tạo ra tranh chấp hàng hải. Đối thủ chính: hải quân Nhật, mà Bắc Kinh đã bắt đầu “thử nghiệm” qua các cuộc xâm nhập dồn dập bằng tàu ngầm (đã xảy ra một vụ rắc rối liên quan đến một chiếc tàu ngầm hạt nhân của TQ trong năm 2004).

Đến thời gian tiếp theo, Bắc Kinh sẽ thử làm cho đường Maginot(*)không còn liên tục, để đi từ vùng nước ít sâu của biển Đông và Nam TQ sang “vùng nước xanh lam” của vũng thứ hai chạy từ Nhật đến Inđônêxia, qua Guam, điểm tựa của không- hải quân Mỹ ở phía tây Thái Bình Dương. Cái chốt và vật cản chính cho việc phát huy sức mạnh của TQ giữa “đường xanh lục” nước không sâu và “đường xanh lam” đại dương mà hạm đội 7 của Mỹ tuần tra là: Đài Loan. Vào tháng giêng năm 2008, ông KhaThừa Hưởng (Ko Chen-heng), thứ trưởng quốc phòng của Đài Loan, đã tố giác hoạt động dữ dội của hải quân TQ quanh hành lang Bashi, một lạch thắt eo nằm giữa Đài Loan và Philippines.

Một khi mà các chốt này đã được mở ra thì hải quân TQ có thể tự do hơn để chuyên tâm vào điểm cược thứ hai: sự an toàn cho các hành lang vận chuyển dầu lửa trên biển ở Nam Á. Hành lang đầu tiên giành cho các tàu chở dầu dưới 100 000 tấn, từ châu Phi và Cận Đông đến biển Nam TQ qua eo Malacca. Cũng là vùng sản xuất, hành lang thứ hai đưa các tàu chở dầu khổng lồ qua các eo Sonde và Gaspar (6). Hành lang thứ ba, từ châu Mỹ Latin qua vùng biển Philippines. Hành lang thứ tư, con đường thay thế đi từ Cận Đông và châu Phi, uốn éo giữa các vịnh Lombok và Macassar của Inđônêxia, Philippines và tây Thái Bình Dương trước khi về đến các cảng TQ.

Lạch thắt eo chính, Malacca, có đến 80% dầu lửa nhập khẩu của TQ phải đi qua, là sự phụ thuộc đáng lo ngại khi xảy ra xung đột. Đáp lại, Bắc Kinh thử thay đổi các con đường, ví dụ như triển khai một hệ thống đường sắt nối các nước ASEAN (7); cụ thể hóa dự án hệ thống ống dẫn dầu trực tiếp TQ- Miến Điện giữa Sittwe và Côn Minh (8); giúp phát triển năng lực sản xuất khí hóa lỏng ngoài khơi Đông Nam Á (đặc biệt là ở Miến Điện và Thái Lan); thậm chí đào một con kênh qua eo đất Kra, tại phía nam Thái Lan (một vùng được đánh dấu bằng sự nổi dậy của những người địa phương ly khai).

Các hành lang an toàn cho nhập khẩu năng lượng

Nhưng các dự án này, khó thực hiện, chỉ làm giảm một phần sự phụ thuộc vào bốn hành lang nói trên. Việc bó buộc phải tạo an toàn cho các hành lang, để đối phó với nạn cướp biển đang bùng nổ cũng như là với tham vọng (thực tế hay giả thuyết) của Hoa Kỳ, Nhật Bản hoặc Ấn Độ, đã củng cố thêm đường lối chính trị “hải quân biển khơi” của trung ương Đảng CSTQ. Bắc Kinh đã xây dựng cái mà người ta gọi là “chuỗi ngọc trai”, một chuỗi các căn cứ thường trực của TQ lốm đốm trên bờ biển Ấn Độ Dương và các con đường hàng hải đưa đến Malacca: các đảo Cocos ở Miến Điện, Chittagong ở Bangladesh, Marao ở quần đảo Maldives và Gwadar ở Pakistan, trong khi vẫn chờ các căn cứ trên bờ biển châu Phi ngày càng mở ra cho các nhà đầu tư TQ. Nhân công và ngân quỹ được chi thoải mái cho việc quy hoạch và bảo trì các điểm tựa tại những nước đồng minh. Đến cả việc Bắc Kinh rất hào phóng tặng các tàu chiến cho những quốc gia này để bảo vệ các vùng khai thác dầu mỏ (9).

.Ngoài một châu Mỹ – trong trường hợp nầy là Hoa Kỳ – xem Thái Bình Dương như là sân khấu chiến lược chủ yếu trong 50 năm tới, TQ có hai đối thủ tầm cỡ trong vùng: Ấn Độ và Nhật Bản. Một sự ngờ vực dai dẳng đã và đang chia rẽ hai ông khổng lồ về nhân khẩu: chẳng phải chính TQ lâu nay vẫn trợ giúp Pakistan về vấn đề Cashmire, và chẳng phải TQ vẫn liên tục cung cấp cho Islamabad các khí tài chiến tranh hay sao? Với khát vọng có được địa vị như Bắc Kinh (một cường quốc khu vực tiến lên toàn cầu), New Delhi cũng có tham vọng hải quân tương tự và một hạm đội đang mở rộng, với mục tiêu chiến lược đã được biểu lộ là biến Ấn Độ Dương thành “Đại dương của người Ấn”. Chiến lược “chuỗi ngọc trai” của Bắc Kinh như vậy được xem như là một sự tiếm vị.

Để khẳng định cái mà mình xem là ao nhà, Ấn Độ đang đóng hai chiếc hàng không mẫu hạm, mà chiếc đầu tiên sẽ phải đi vào hoạt động năm 2010, trong khi chiếc thứ ba, mua rẻ của Nga, đang được hiện đại hóa. Hạm đội tàu ngầm của Ấn thuộc công nghệ Pháp (loại Scorpène), chất lượng trội hơn hẳn các tàu ngầm TQ. Vì thế, trong giai đoạn quan sát lẫn nhau, cả Ấn Độ lẫn TQ đều cẩn thận tránh tất cả mọi căng thẳng trên biển. Người ta cũng nhận thấy được sự cải tiến trong quan hệ giữa hải quân hai nước, các cuộc diễn tập hải quân chung của hai bên kể từ khi có bản ký kết đối tác chiến lược giữa Bắc Kinh và New Delhi vào tháng Tư năm 2005.

Trong khi đó, quan hệ TQ- Nhật Bản vừa trải qua giai đoạn cực kỳ căng thẳng. Mạnh, hiện đại hơn hẳn hạm đội TQ, hải quân Nhật Bản đã từ lâu thao diễn chung với người đồng cấp Mỹ. Nhưng vụ xung đột quanh quần đảo Senkaku đã cho thấy một nước Nhật đang co dúm lại, bị  Hiến pháp hòa bình gò bó cũng như bị trào lưu dân tộc chủ nghĩa chỉ trích, và không quyết đoán trước sự táo tợn của Bắc Kinh.

Tóm lại, trên cả New Delhi và Tokyo, sự quá trớn của TQ làm các nước khác khiêm tốn hơn lo lắng, từ Malaysia đến Inđônêxia, qua Singapore – các nước này nhanh chóng tăng cường và hiện đại hóa hạm đội của mình. Nhóm nước này sợ là Washington, vì bị dính chân ở Irắc và Afghanistan, để cho bá quyền TQ tự do thao túng trong vùng, và rằng chủ nghĩa khoan hòa tạm thời này không thể trở thành ổn định.

.

Ý thức được cơ hội và khó khăn này của Mỹ, các nhà máy đóng tàu TQ làm việc hết công suất, từ Hoàng Hải đến Nam Hải. Những căn cứ hải quân, các cảng sông, đê điều và căn cứ tàu ngầm được bảo vệ (căn cứ mới Sanya trên đảo Hải Nam) cứ tăng lên và hiện đại hóa, đồng hành với sự bùng nổ kinh tế của một quốc gia có 90% ngoại thương tùy thuộc vào đường biển. Năm 2006, công nghiệp biển chiếm 10% sản lượng quốc nội,

Chiếc Lưỡi Bò  của Trung Quốc

và 7 trong 20 cảng đứng đầu thế giới thuộc TQ. Nỗ lực dân sự ngang bằng quân sự. Kế hoạch “Công nghệ cao hàng hải” đã cùng đồng hành với việc tăng tốc đóng tàu hải quân bằng cách song song tài trợ các dự án củng cố tính tự chủ của hạm đội: hệ vệ tinh định vị tên Beidou, phương tiện giám sát hàng hải, và triển khai các nhà máy đóng tàu hải quân.

Trong lĩnh vực dân sự, TQ năm 1995 đã trở thành nhà đóng tàu thứ ba trên thế giới sau Nhật và Hàn Quốc, mà từ đó nó đe dọa sự thống trị. Dựa vào hai tập đoàn khổng lồ, Tập đoàn Đóng tàu Nhà nước TQ (CSSC) và Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu TQ (CSIC), TQ có tất cả các cơ hội để trở thành công trường đóng tàu hải quân số một của thế giới vào cuối năm 2020, điều mà còn lâu là vô thưởng vô phạt: việc đóng tàu dân sự và quân sự phần lớn được trộn lẫn  chung với nhau trong kế hoạch quốc gia, và do cùng xưởng đóng tàu quản lý.

Khi Hoa Kỳ phát sợ

.

Về mặt quân sự, Sách Trắng Thứ năm, được biên soạn vào năm 2006 (10), cụ thể hóa nhận thức về hàng hải của Bắc Kinh, được khởi sự vào đầu những năm 1990. Thứ tự ưu tiên đã được thay đổi, từ bộ binh, theo truyền thống là chủ lực, sang hải quân và không quân từ nay được nuông chiều hơn. Trung ương ĐCS TQ, cũng như là quân ủy trung ương đầy quyền năng, do được tâng bốc, ngày càng có nhiều tướng tá hải quân và không quân (11); những người này đại diện cho gần 25% thành phần quân sự ưu tú vào năm 2007, so với 14% vào năm 1992.

Không có hệ thống chủ đạo nào được chừa ra. Ba hạm đội (bộ tư lệnh hải quân phía Đông, ở Thượng Hải, phía Nam, ở Trạm Giang(Hà Nam-Quảng Đông), và phía Bắc, ở Thanh Đảo), mỗi hạm đội được bố trí một sư đoàn không quân của hải quân với trang bị là máy bay ném bom và máy bay tiêm kích. Các hệ thống hiện đại hơn cũng được chuyển giao, chẳng hạn như 4 tàu khu trục phòng không Luyang, hoặc các tàu hộ tống chống tàu ngầm Ma’an-shan đóng tại địa phương, phần tiếp nối của các tàu Jiangwei những năm 1990. Vào cuối những năm 1970, khi mà hạm đội TQ đã bố trí trên 500 tàu tuần tra bờ biển, số tàu này đã giảm xuống một nửa; trái lại, hạm đội biển khơi lại tăng mạnh, đạt đến 60 đơn vị (12).

Trong lĩnh vực thủy lục phối hợp, một nỗ lực lớn cũng được chấp thuận, với 100 tàu chiến có nhiệm vụ cụ thể hóa tham vọng của TQ đối với quần đảo Trường Sa hoặc Đài Loan. Các tàu vớt mìn, những tàu tuần tra phóng tên lửa và những tàu tiếp dầu mới cũng được đặt hàng. Thường là với sự tham gia của các nước ngoài: từ thuyền buồm hai thân tốc độ lớn WPC của Úc đến tàu khu trục Sovremenny và tàu ngầm Kilo của Nga, từ những hệ thống chiến đấu của Ý và Pháp đến pháo nòng lớn của hải quân Hà Lan (13).TQ thường nhập khẩu, sao chép, thu nhận và cải tiến – dưới sự ngạc nhiên của các nhà cung cấp – những khí tài mà nó quan tâm nhất. Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực, như chiến tranh điện tử hoặc động cơ [phản lực] và hệ thống chiến đấu hiệu năng cao, TQ vẫn còn lệ thuộc vàocác nhà cung cấp nước ngoài, và đặc biệt là nước Nga. Các tàu ngầm bản thân nó giữ một vị trí trung tâm trong chương trình hàng hải toàn cầu của Bắc Kinh. TQ chưa trang bị hàng không mẫu hạm nào mặc cho tin đồn liên tục về hiện trạng chiếc Varyag mua của Moskva (và luôn nằm ụ ở bến tàu), trên thực tế chỉ có tàu ngầm hiện đại mới có thể ngăn cản dù chỉ là chút ít hạm đội thứ 7 của Mỹ, từ các căn cứ của nó ở Guam, Nhật Bản và Hàn Quốc, luôn bảo đảm cho quyền tự chủ của Đài Loan. Hạm đội TQ có thể trông cậy vào 5 tàu ngầm tấn công (SNA) và 1 tàu ngầm hạt nhân phóng tên lửa (SNLE) mang được từ 12 đến 16 tên lửa hạt nhân tầm xa 3, 500 km. Hơn nữa, hạm đội TQ cũng trang bị khoảng 30 tàu ngầm điezen-điện. Ngoài ra cũng nên kể đến 20 tàu ngầm mới đang được đóng.

.

Kho vũ khí này làm hạm đội 7 lo lắng đến độ các đô đốc [hải quân] bao vây Quốc hội và Nhà Trắng bằng cách tuyên bố là hạm đội tàu ngầm của TQ sẽ vượt qua số “tàu đen” hiện có của Mỹ tại Thái Bình Dương vào năm 2020. Một số dân biểu nhiều thế lực, như ông Duncan Hunter (14), gần đây rất xúc động về chuyện đó. Chỉ 12 tháng trong năm 2007 mà các tàu SNA của TQ đã thực hiện số lần tuần tra nhiều hơn 5 năm trước cộng lại. Người ta cũng thấy được nỗi lo này trong báo cáo hàng năm của Lầu Năm góc về sức mạnh quân sự TQ (15). Một nỗi lo cực kỳ tương đối: chẳng có ai thực sự biết được tính năng – có lẽ là yếu – của các tàu ngầm tốt nhất của TQ. Hơn thế nữa, hải quân Mỹ có đến 53 tàu SNA tối tân (gấp đôi tổng số các hải quân khác của thế giới) cũng như sở hữu 12 trong số 15 hàng không mẫu hạm trên thế giới, và một phi đội máy bay chống tàu ngầm mà chẳng ai có được giống như thế. Số mới nhất của tạp chí Quadrennial Defense Review (Tạp chí Quốc phòng Tứ niên) (16), có tính trung lập hơn, cho rằng hợp tác tốt hơn đối đầu.

Còn về biển Nam Á, tình hình ở đấy chẳng giống một cuộc chạy đua vũ trang công khai. Đó là sự đối lập về dạng hình học bất thường giữa một bên là bộ tứ gồm các hạm đội Ấn Độ, Mỹ, Úc và Nhật Bản, với bên còn lại là bộ đội TQ-Pakistan.

Tham vọng của hải quân TQ hình như đến từ một sự thất vọng, sự thất vọng của một cường quốc kiêu hãnh đã bỏ lỡ không nắm lấy bước ngoặc cho phép mình thống trị thế giới, cách đây 400 năm, lúc toàn cầu hóa lần đầu do bọn “hung nô” Tây phương thu tóm. Vào thời kỳ đó, người Hoa đã làm chủ việc đi biển và dùng địa bàn, đã “phát minh” mỏ neo, in bản đồ hàng hải, tời đứng, cánh lái, và lập xưởng đóng tàu to có nhiều cột buồm chão xoay được (17). Thuyền của họ có ngăn không thấm nước và bánh lái sống đuôi. Những đổi mới lại do phương Tây hoàn thiện, và dùng để… hạ nhục đế quốc Trung Hoa. Theo dấu nhà hàng hải vĩ đại đầu tiên, Trịnh Hòa.

Tàu sân bay, giấc mơ của Trung Quốc trong thế kỉ 21

Lúc cuối triều Minh (1358-1644) đã chứng kiến Trung Hoa bỏ biển khơi và quên hẳn các cuộc viễn chinh vào thế kỷ thứ XV do hoạn quan đề đốc Trịnh Hòa chỉ huy hạm đội của hoàng đế, gồm trên 300 tàu, thám hiểm không gian đại dương trên thế giới (18). Việc đóng tàu biển khơi có thể bị xử tội chết. Một sai lầm mà ngày nay được chỉ rõ, và một di sản từ nay trở nên có giá trị.

Để tăng cường sự hiện diện của TQ trên lục địa đen, trang web chính thức Chinafrique kể lại lịch sử cảm hóa của một cô bé Kenya, Mwamaka Shariff, “hậu duệ lính hải quân Trung Hoa bị mắc cạn trên một bãi đá ngầm, cách đây trên 500 năm”. Được mời, vì tin vào dòng họ, vào một trường đại học TQ không mất tiền, cô bé cũng đã được tham gia vào buổi lễ Ngày đi biển của Trịnh Hòa, tại Thái Sương(Taicang, tỉnh Jiangsu), nơi xuất phát huyền thoại của hạm đội hoạn quan triều đình. Trang web kể, đầy hứng khởi, lời của cô bé: “Em cảm thấy mình trở về nhà (19)”…

Tương lai nào cho vùng biển rối ren ở Đông Nam Á? Các sáng kiến của Mỹ  được nhân lên không những để củng cố sự trao đổi và hợp tác với hải quân châu Á (Ấn Độ và Nhật Bản) mà còn với hải quân TQ, chủ ý nhằm để thử kiểm soát được phần nào hay phần đó sự bành trướng được đoán là bùng nổ như sét đánh.

Diễn tập cuối cùng cho đến hôm nay, Sáng kiến về Đối tác Hàng Hải Toàn cầu (Global Maritime Partnership Initiative), do hải quân Mỹ đề nghị vào năm 2007 và được thành lập trên liên minh hàng hải toàn cầu, mà mỗi “thành viên” – kể cả TQ – được đề nghị đóng góp một “hạm đội nghìn tàu” dùng vào việc đấu tranh chống cướp biển. Như ông Dương Nghị (Phó đô đốc Yang Yi), giám đốc Viện nghiên cứu chiến lược thuộc Đại học quốc phòng quân đội TQ, đã nói rõ là không chắc TQ chấp thuận đề nghị như thế khi nào mà TQ vẫn chưa xác định được các ẩn ý, bản chất kép và đa hệ lụy dài hạn (20).

Hình như TQ đã quyết không cho bất cứ diễn tập kéo dài nào lấy đi cơ hội lịch sử thứ hai để trỗi dậy như cường quốc hàng hải toàn cầu và giành lại chủ quyền biển đảo. Cơn “hiểm họa vàng” hiện ra như là ảo ảnh; TQ, không quên cuộc chiến tranh thuốc phiện lẫn sự cướp phá Lâu Đài Mùa hè “Hạ Đình lâu” (21), vì thế không cho phép bất cứ ai đe dọa hoặc ép buộc mình. Do đó bản thân nó phải tự “đề phòng”. Ngay cả khi khả năng của TQ còn lâu mới vượt qua được khả năng thống lĩnh của hạm đội Mỹ, lịch sử được dùng làm địa bàn và lời cảnh báo cho lực lượng hải quân mới của TQ, và mỗi thành tựu của hải quân nước nầy chỉ có giá trị tượng trưng. Vào năm 1989, 20 năm trước sự lớn mạnh như chớp của hạm đội, chiếc tàu đầu tiên của Hải quân Quân đội Nhân dân Giải phóng viếng thăm chính thức Hoa Kỳ là một tàu huấn luyện. Vào thời đó, chẳng ai vội gì mà bình luận về tên của chiếc tàu: Trịnh Hòa.

Olivier Zajec

(1) Trang giới thiệu bộ phim tại http://finance.cctv.com/special/C1…

(2) Joseph Kahn, “Trung Quốc, gã khổng lồ e lệ, có dấu hiệu vứt bỏ tính khiêm tốn giả tạo,” Thời báo New York, 9/12/2006.

(3) Afghanistan, Miến Điện, Bhutan, Bắc Triều Tiên, Kazakhstan, Kirghizstan, Lào, Mông Cổ, Nepal, Pakistan, Nga, Tadjikistan, Việt Nam.

(4) Tạp chí quốc phòng quốc gia và an ninh tập thể, Paris, 5/2007, tr. 31.

(5) Xem Alexandre Sheldon-Duplaix, “Hải quân Quân đội Nhân dân Giải phóng từ 1949 đến nhày nay”, trong Tạp chí lịch sử quân đội, số 230, Paris, 2003. Ông Liu cũng là lãnh đạo hải quân TQ đầu tiên viếng thăm chính thức Hoa Kỳ vào năm 1985.

(6) Eo biển Sonde ngăn các đảo Java và Sumatra. Eo Gaspar ngăn các đảo Bangka và Belitung ở Inđônêxia.

(7) Đọc Xavier Monthéard, “Và xe lửa sẽ sớm thổi còi ở Lào”, Thế giới ngoại giao, 8/2008.

(8) Sittwe nằm bên bờ tây Miến Điện; Côn Minh là cảng sông của Yunnan, nam TQ.

(9) Vào tháng 10 năm 2007, TQ đã tặng 9 tàu tuần tra cho Campuchia để bảo vệ các giàn khoan dầu trong vịnh Thái Lan. Xem Tin Quốc phòng, Nxb quốc tế Springfield (Virginia), 18/2/2008, tr. 1.

(10) Sách trắng đầu tiên cùa TQ được xuất bản vào năm 1998.

(11) Xem Li Cheng và Scott W. Harold, “Tinh hoa quân sự mới của TQ”, An ninh TQ, tập 3, số 4, Washington, mùa Thu 2007, tr. 72.

.

(12) Một chiếc tàu được xem là thuộc “biển khơi” từ 2 000 tấn.

(13) Đọc Bernard Dreyer, “Sự tiến lên cường quốc hàng hải của TQ”, Quốc phòng, (và trên trang web http://www.questionchine.net) Paris, 12/2005.

.(14) Dân biểu Cộng hòa bang California, người thường bảo vệ ngân sách công nghiệp quốc phòng Mỹ.

(15) Xem http://www.defenselink.mil/pubs/pdf… Một báo cáo mà một số nhà phân tích Mỹ và châu Âu tố cáo tính gây lo sợ và xấp xỉ, nhưng không bác bỏ sự tiến bộ của TQ.

(16) Tạp chí Quốc phòng Tứ niên, được Bộ Quốc phòng Mỹ xuất bản mỗi 4 năm, trình bày chiến lược quốc phòng của Hoa Kỳ theo chu kỳ 20 năm.

(17) Đọc UCLA Center for Chinese Studies.

(18) Là đề đốc, Trịnh Hòa đã thực hiện 7 chuyến đi trên đại dương, từ 1405 đến 1433.

(19) Trang web Chinafrique, bằng Anh ngữ, Pháp ngữ và Hoa ngữ, cung cấp các bài cảm hóa khác: “Thủ tướng TQ bắt tay bệnh nhân HIV châu Phi”; “Cuộc đời hạnh phúc của một người Congo ở Bắc Kinh”; “TQ giúp tôi làm giàu”; “Trước là hữu hảo, tiếp theo là buôn bán”; “Người ta không bao giờ có thể dán nhãn thực dân mới cho TQ”, v.v.

(20) China Security, op. cit.

(21) Cuộc chiến tranh giới thiệu kinh doanh thuốc phiện ở Trung Hoa, do người Anh đơn độc gây ra (1839-1842) rồi bởi liên minh Anh-Pháp (1858-1860), chịu trách nhiệm cho vụ cướp phá Hạ Đình lâu của hoàng đế (10/1860). Đọc “Thư gửi chỉ huy Butler” của Victor Hugo, tái bản trong Thế giới ngoại giao, 10/2004.

http://www.monde-diplomatique.fr/2008/09/ZAJEC/16244

phụ chú:

Chiến tuyến Maginot lấy tên của Bộ trưởng Lục quân Pháp, người đưa ra ý tưởng xây dựng đường biên giới bằng chiến hào giữa Pháp và  Đức trong thế chiến thứ 1.(HLT chú)

Chiến tuyến Matignot để ngăn quân phát xít Đức

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: