Anhbaque’s Blog

Just another WordPress.com weblog

Bài 28. Các mối liên hệ về năng lượng Trung-Nhật: Triển vọng cạnh tranh chiến lược sâu sắc

Posted by anhbahoa on November 27, 2009

Bài 28

Các mối liên hệ về năng lượng Trung-Nhật:

Triển vọng cạnh tranh chiến lược sâu sắc

Sino-Japanese energy relations: Prospects for deepening strategic competition

Kent E. Calder

Nhóm chuyển ngữ Bauvinal.info

ĐƯỢC TRÌNH BÀY TẠI HỘI NGHỊ VỀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐƯƠNG THỜI ĐỐI VỚI NHẬT BẢN, NHÂN DỊP KỶ NIỆM GS. ASAKAWA KAN’ICHI

ĐẠI HỌC YALE, NEW HAVEN, CONNECTICUT

NGÀY 9 VÀ 10 THÁNG BA NĂM 2007

Thủ tướng Fukuda Yasuo và Thủ tướng Ôn Gia Bảo

Cả hai nước Nhật và TQ, những người khổng lồ ở châu Á khóa chặt nhau về kinh tế và có khả năng về cả chính trị, trong một điệu nhảy phức tạp về chính trị – kinh tế của loài bò cạp. Họ sản xuất ra khoảng hai phần ba sản phẩm kinh tế và chiếm hơn phân nửa chi tiêu quân sự tính trên toàn khu vực. Giao thương Trung-Nhật là một trong những nền giao thương mạnh mẽ và năng động nhất trên thế giới, tăng hơn gấp đôi trong năm năm qua.

Mặc dù dính chặt vào nhau trong phát triển kinh tế, tuy nhiên, TQ và Nhật luôn đứng ở thế không ngừng cảnh giác nhau trong mối quan hệ địa-chính trị, thật là nguy hiểm, hệ trọng toàn cầu, và đặc biệt là sự hiểu lầm lẫn nhau. Suốt chiều dài lịch sử, quan hệ tôn ti cho đến nay vẫn luôn giúp hình thành mối tương quan song phương giữa hai người khổng lồ này: một người luôn rõ ràng là thịnh vượng hoặc mạnh mẽ hơn người kia. Ngày xưa, đó là TQ; và từ khoảng một thế kỷ sau Thời kỳ  Minh Trị  Duy Tân thì Nhật nói chung là “ưu việt” hơn.

Chỉ trong vòng nửa thập niên gần đây một triển vọng chưa từng có tiền lệ là sự đồng thời phát triển  mạnh mẽ và sung túc của TQ và Nhật Bản bắt đầu hình thành. Một TQ kém phát triển đang phát triển nhanh chóng, trong lúc đó một Nhật Bản giàu có và chính chắn hơn thì vẫn tương đối ù lì, với cư dân từ năm 2005 đã bắt đầu một sự suy tàn thời bình chưa từng thấy trước đây.

Các điều kiện kinh điển về sự khó xử mạn tính trong an ninh và sự cân bằng trong đấu tranh quyền lực giữa các thế lực trưởng thành và thế lực đang lên,  nó phần nào ví như sự ganh đua của Anglo-German trước thềm Thế Chiến I, mà chúng ta đã thấy.[1]Căng thẳng địa-chính trị giữa TQ và Nhật Bản rất đa chiều. “Ám ảnh thống nhất” ở eo biển Đài Loan, và viễn cảnh trước mắt sự thay đổi địa chính trị trên bán đảo Triều Tiên là hai việc rõ ràng nhất.[2]

Tiến bộ nhanh chóng của kỹ thuật tên lửa TQ, và sự ứng phó của Nhật qua  hợp tác phòng thủ phi đạn của Mỹ, là một biểu hiện khác. Tuy nhiên, trong một thế giới mà thị trường đang căng thẳng về dầu mỏ và khí đốt, đã kích động lên qua sự bùng nổ phát triển kinh tế của TQ, vấn đề năng lượng trong cạnh tranh Trung-Nhật ngày càng tăng phần nổi cộm. Và các viễn cảnh về hợp tác năng lượng cũng nổi lên theo. Ràng buộc nhau về năng lượng là một khía cạnh đặc biệt  đáng quan tâm trong mối liên hệ Trung-Nhật vì nó là một “con dao hai lưỡi” mạnh mẽ, có tiềm năng là đòn bẩy bẻ ngoặc hoặc hợp tác hoặc xung đột giữa hai người khổng lồ.

Tương phản về tài nguyên thừa hưởng Nhật Bản, như mọi người đều biết, thiếu hụt một cách bất thường các tài nguyên năng lượng, chỉ với trữ lượng dầu được xác định là 59 triệu thùng — cung ứng được khoảng 10 ngày với mức tiêu thụ hiện nay.[3]Gạt sang bên vài giếng dầu nhỏ ở tỉnh Niigata trên bờ biển Nhật Bản và vài mỏ than chất lượng thấp ở Hokkaido, Nhật Bản hầu như  lúc nào cũng thiếu hụt chất Hydrocarbons. Thực vậy, Nhật  là nước nhập khẩu dầu mỏ đại qui mô từ cuối thế kỷ 19,và sức ép trong việc nhập khẩu dầu là nguyên nhân chính khơi mào cho cuộc chiến vào tháng 12/1941.[4] Hiện tại có đến 99% toàn bộ nhu cầu về dầu và khí đốt là phải nhập khẩu.

TQ thì ngược lại, nhận được của hồi môn tốt hơn đáng kể từ  thiên nhiên các tài nguyên năng lượng nội địa, gồm nhiều trữ lượng than đá đáng mặt kình địch với Mỹ về số lượng lớn nhất địa cầu, và dầu mỏ cũng thế. Thực vậy, TQ vẫn là nước sản xuất dầu đứng thứ 6  thế giới,[5] đang tiếp tục khai thác hết mức ở các khu mỏ vùng Đông Bắc như mỏ Daqing, còn lâu mới cạn kiệt. Và TQ cũng là nước sản xuất than đá đứng đầu trên thế giới, cũng đứng đầu luôn về lượng tiêu thụ loại này. Tuy nhiên các vấn đề về môi trường và cơ sở hạ tầng, cộng thêm sự ngần ngại của người TQ trong việc mời chào các nhà đầu tư nước ngoài với  khuyến khích  cần thiết để chiếm hữu được kỹ thuật khoan tinh tế hiện đại, đã ngăn cản TQ không thực hiện được hết  tiềm năng sản xuất nguồn năng lượng nội địa sẵn có.

Các trữ lượng nội địa chủ yếu của TQ, đặc biệt về dầu mỏ, nằm ở phía Bắc và phía Tây, như hướng dẫn trong Hình 1. Trong lúc đó, nhu cầu về năng lượng tăng lên ở miền Nam và Đông, là nơi số đông tầng lớp trung lưu giàu có mới nổi lên tập trung.Và các đường sắt cùng đường ống dẫn dầu, than đá, và khí đốt thiên nhiên từ bên này lãnh thổ nối sang một bên kia hãy còn kém phát triển, trong trạng thái thê lương vì không được đại tu trong khi  sử dụng. Các giếng dầu ngoài khơi ở phía Đông và vùng biển Nam Trung Hoa(biển Đông) có thể phần nào giúp TQ thoát được tình trạng khó xử và đau buồn trong vấn đề năng lượng, nhưng chúng cũng thường đưa ra các vấn đề hàm chứa, dưới dạng tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng.

Trữ lượng than đá của TQ, như phía trên đã chỉ rõ, có khi còn đồ sộ hơn thực chất trữ lượng các mỏ dầu, và cả nước dựa vào than đá ở mức 70% tổng năng lượng thô tiêu thụ. [6]

Công tác vận tải là một rào cản quan trọng trong việc tận thu ở các mỏ này, trường hợp mỏ dầu cũng vậy. Vận tải đường dài, dĩ nhiên, đặc biệt cồng kềnh vì than đá có khối lượng rất lớn. Mỏ than lớn nhất ở miền Đông Bắc – đặc biệt là ở Shandong và Shansi- trong khi yêu cầu về năng lượng phát triển nhanh chóng nhất thì lại cách xa vài trăm dặm về hướng Nam, dọc theo bờ biển phía Tây Bắc.

Các bức bách khác nhau về an ninh năng lượng

Bắt nguồn từ những khác biệt trong tài nguyên thiên nhiên và vị thế trên nền kinh tế chính trị thế giới, TQ và Nhật Bản có những nhận thức trái ngược nhau về an ninh năng lượng. Chi tiết có thay đổi chút ít qua lịch sử cận đại giữa hai bên, cho ra các tương phản rộng hơn về động cơ cấu thành. Những sự bức bách tương phản này đã kích động việc chuyển đổi các mô hình hợp tác và xung đột nảy sinh qua hai thế hệ tương tác giữa hai cường quốc châu Á nầy. Nhật Bản là nền kinh tế lớn nhất bỏ xa các nước khác ở châu Á, với GDP vượt hơn 4,000 tỉ đô la. Phản ảnh của nền kinh tế khổng lồ đó, và sự thiếu hụt căn cơ của nó về tài nguyên năng lượng nội địa, Nhật Bản cũng vượt xa các nước trong vùng về nhập khẩu dầu mỏ, khoảng hơn 4 triệu thùng mỗi ngày, nhập khẩu khí đốt cũng thế với chừng phân nửa tổng mức toàn cầu. Hầu hết đều nhập từ Trung Đông, với 90% lượng dầu mỏ và 1/3 khí đốt cho nhu cầu trong nước. Khối lượng nhập khẩu đồ sộ này do các công ty thương mại Nhật hoặc các tập đoàn năng lượng đa quốc gia phụ trách, vì các nhà sản xuất năng lượng thuộc khu vực tư nhân của Nhật thiếu phát triển tương xứng.

Mặc dù có nền kinh tế khổng lồ, Nhật Bản không tăng trưởng nhanh chóng, đặc biệt là trong hơn 15 năm qua. Về năng lượng, so với TQ, Nhật là “người tiên phong” hơn là “người theo đuổi”, đã khẳng định vị thế của mình nhiều năm trước đây, và chỉ nghĩ đến mở rộng giới hạn  nhu cầu thiết yếu.[7]

Những quan tâm của Nhật Bản về năng lượng thì cẩn trọng và  bảo thủ, đặc biệt là ở vùng Vịnh Péc Xích. Về mặt Địa chính trị, những quan tâm này được che chở bởi Mỹ là người bạn đồng minh chủ yếu trên thế giới, giúp cho Nhật Bản tương đối thoải mái nương tựa vào trên các tuyến biển mở rộng từ vùng Vịnh đến Yokohama do hải quân Mỹ chi phối. Các bức bách về an ninh năng lượng của TQ thì nhất định là khác hẵn so với Nhật. Một cách cơ bản nhất, TQ có nhu cầu về năng lượng gia tăng nhanh chóng hơn nhiều, xuất phát từ lượng tương đối nhỏ nhưng có sự bùng nổ về kinh tế. Tiêu thụ dầu mỏ ở TQ chẳng hạn, tăng 2.9 phần trăm trong năm 2005, so với chỉ 1.4 phần trăm ở Nhật [8]

Trong điều kiện tuyệt đối, nhu cầu năng lượng của TQ vẫn ít một cách đáng ngạc nhiên, tương đối so với số dân khổng lồ, do mức thấp ở tỷ suất vốn đầu tư tiêu thụ năng lượng. Trong năm 2005, TQ tiêu thụ ít hơn 7 triệu thùng dầu mỗi ngày, nhỉnh hơn một phần ba tổng số của Mỹ, mặc dù nhỉnh hơn chút đỉnh so với Nhật với mức 5,36 triệu thùng mỗi ngày. [9] Nhưng tổng nhu cầu này dường như đã an bài, sẽ phát triển đồ sộ trong tương lai, mặc dù TQ có tỷ suất đầu tư về tiêu thụ năng lượng chỉ một phần năm của Mỹ và một phần mười so mức của Nhật. Như vậy, bức bách an ninh năng lượng chủ yếu cho TQ là điều cần phải tính đến các nguồn năng lượng mới – cả về địa lý lẫn về chức năng – để nuôi dưỡng bộ máy kinh tế đã tiên liệu  phải lớn hơn nhiều lần trong một hoặc hai thập kỷ so với ngày nay. Mặc dù TQ đối mặt với sự thúc bách lớn hơn nhiều trong việc mở rộng nguồn cung cấp dầu mỏ so với Nhật Bản, nhưng không lâm vào bị tình trạng cực kỳ khan hiếm tài nguyên năng lượng nội địa . Như đã nêu trên, PRC có trữ lượng năng lượng nội địa tương đối đáng kể, đặc biệt là than đá. Trong ngắn hạn, vấn đề an ninh năng lượng của TQ là cần nhiều cơ sở hạ tầng hơn Nhật Bản. TQ hết sức cần thêm về đường sắt, bến cảng và đường ống dẫn để vận tải năng lượng. Nhật Bản thì đã có sẵn.

Điểm khác biệt quan trọng thứ ba giữa Nhật Bản và TQ trong động cơ thúc đẩy cấu trúc năng lượng là địa chính trị. Nhật Bản là một đồng minh thân cận với Mỹ, là nước có ảnh hưởng kiềm chế trên tuyến đường biển quốc tế, trong khi đó TQ chỉ duy trì trong vài điều khoản mong manh với Washington. Từ đó TQ có khuynh hướng muốn thấy mối an ninh năng llượng của mình được nâng cấp qua đường ống trên đất liền nhằm tránh các hải lộ đã bị phía Mỹ khống chế. Bắc Kinh đặc biệt ưa thích các ống dẫn dầu trên mặt đất từ các nước trước đây đã có bàn bạc là Nga và Kazakhstan, theo một cách mà đảo quốc Nhật không thể có được.

Lịch sử sự hợp tác năng lượng

Mỉa mai thay, trong quan điểm gần đây về ganh đua địa chính trị, nhưng có thể hiểu được, khi nghĩ về sự thừa hưởng tài nguyên  quốc gia, Nhật Bản và TQ có một lịch sử lâu dài về hợp tác năng lượng. TQ bắt đầu xuất khẩu dầu mỏ qua Nhật từ năm 1974, nửa thập kỷ trước cuộc tăng tốc kinh tế do Bốn Hiện đại hóa thúc đẩy. Và sự thân thiện Trung-Nhật về cung ứng năng lượng này kéo dài tới 30 năm. Phản ảnh lại sự liên kết gần gũi địa chính trị từ những năm đầu  thập kỷ 70 cho đến sự kiện Thiên An Môn, TQ và Nhật Bản đã là đối tác thân thiện về mặt năng lượng trong gần hai thập kỷ. Liên bang Xô viết hẵn đã cạnh tranh khốc liệt với TQ trên thị trường dầu mỏ và khí đốt cung cấp cho Nhật Bản. Năm 1972, là một ví dụ, Liên bang Xô viết đã đề nghị Nhật Bản cung ứng một khoản tín dụng lên đến 2 tỉ đô la để xây dựng một hệ thống đường ống từ vỉa dầu Tyumen ở miền cực tây Siberia đến cảng Nakhodka bên bờ Thái Bình Dương, đổi lại Liên Xô sẽ cung cấp cho Nhật Bản hàng năm khoảng 40 triệu thùng dầu thô. Người Nga cũng đề nghị thêm cái thứ hai là một đường sắt xuyên Siberia để vận chuyển dầu thô rút ngắn khoảng cách đường ống sẵn có. Tuy nhiên TQ đưa ra các hứa hẹn về cung cấp năng lượng thực tế hơn cho Nhật Bản. Dầu mỏ được phát hiện vào năm 1970 ở vịnh Bột Hải và  ở khu vực Hoàng Hải, chỉ cách 400 dặm vận chuyển bằng tàu chở dầu là đến Nhật. Trong khi đó vĩa dầu Tyumen, ngược lại, cách Nhật đến 3.100 dặm, và cần  kết nối phức tạp giữa đường sắt và tàu chở dầu để vận chuyển. Nghĩ đến các sự bổ sung cho nhau về địa lý Trung-Nhật, TQ đồng ý cung cấp cho Nhật Bản, dưới một hợp đồng dài hạn vào năm 1978, với chỉ tiêu 7 triệu tấn dầu trong năm đầu, và sau đó 47 triệu tấn trong năm năm. Nhật Bản nhập khẩu từ TQ không chỉ dầu mỏ mà còn cả than đá.[10]

Khi Moscow giảm bớt mức cung ứng dầu đã hứa từ vùng mỏ Tyumen, Bắc Kinh chẳng những có cơ hội chào bán nhiều hơn mà còn có thể làm hơn thế mà không cần vay các khoản tín dụng lớn từ Nhật Bản. Vào cuối năm 1990 TQ đã xuất khẩu hàng năm sang Nhật Bản trị giá 1 tỉ đô la  –  hơn phân nửa lượng dầu TQ xuất khẩu trên toàn thế giới, và chiếm 7,2 % tổng lượng dầu nhập khẩu của Nhật. [11] Truyền thống tổ chức giao thương năng lượng qua các hợp đồng thương mại hợp tác dài hạn này bắt đầu từ năm 1978. Các hợp đồng này được gia hạn kéo dài mỗi năm năm, với bản gia hạn mới nhất, ký vào tháng 12-2005 có hiệu lực đến năm 2010. [12] Việc TQ xuất dầu sang Nhật Bản tiếp theo sau cuộc khủng hoảng năng lượng trong thập kỷ 70 là rất có lợi cho cả hai quốc gia. Đối với Nhật Bản, họ cho phép sự đa dạng hóa khỏi các nguồn cung cấp chủ yếu từ  phương Tây, đang kiểm soát khoảng 65% dầu nhập vào Nhật Bản trong thời gian này. Nhập khẩu từ TQ còn cho Nhật Bản một giải pháp để tách rời các điểm yếu chiến lược trong việc lệ thuộc quá lớn vào Trung Đông, trong khi đó còn tăng được mức kèo nài giá cả với các nước sản xuất dầu và các nước có mỏ dầu lớn.  Với những nhà sản xuất Nhật Bản có thế lực như Nippon Steel, năng lượng nhập khẩu từ TQ cũng cung cấp một phương tiện để gia tăng xuất khẩu hàng Nhật, qua liên kết xuất khẩu dầu của TQ với công ty thép TQ, các nhà máy công nghiệp và nhập khẩu máy móc từ Nhật [13]

Đối với TQ, xuất khẩu dầu sang Nhật mang đến ngoại tệ, và cũng tiếp cận được kỹ thuật của Nhật Bản. Giữa năm 1972 – 1974, đúng lúc việc xuất dầu  mỏ sang Nhật vừa bắt đầu, Nhật Bản cũng kết thúc việc ký kết các hợp đồng bán 17 nhà máy công nghiệp cho TQ, với trị giá là 470 triệu đô la, bao gồm các xưởng phân bón và hóa dầu. Việc cung cấp dầu mỏ này cũng dần dần  được mở rộng sang việc xuất khẩu khí đốt. Thực vậy, một tổ hợp các công ty Nhật dẫn đầu là công ty Bridgestone đã thương thảo với TQ về việc xây dựng một xưởng khí hóa lỏng gần mỏ khí trong vùng Takang có năng suất  300.000 tấn khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) mỗi năm để xuất khẩu trở lại Nhật. Nằm giữa sự cộng sinh hỗ tương phụ thuộc năng lượng này, cả TQ và Nhật Bản đều giảm bớt những đòi hỏi phức tạp và xung đột về lãnh thổ. TQ, về phần mình, gắng dụ dỗ Nhật ra khỏi tầm xuất khẩu dầu của Liên Xô, xếp xó các tranh chấp về biển Đông Trung Hoa và các vấn đề chủ quyền đảo Diaoyu/Senkaku. Mặc khác, Nhật Bản hạn chế việc khảo sát tài nguyên vùng biển Đông Trung Hoa vì hi vọng nguồn dầu từ TQ vẫn được tiếp tục chảy vào, và cũng vì các công ty của họ cũng đã quá nản chí trong việc tìm kiếm các giếng dầu ngoài khơi.

TQ mở rộng nền kinh tế thay đổi quang cảnh địa chính trị Sự kết hợp năng lượng khéo léo giữa Nhật Bản và TQ kéo dài đến những năm 90. Như đã nêu trên, năm 1990 Nhật Bản vẫn còn nhập khẩu hơn 1 tỉ đô la dầu mỏ hàng năm từ TQ.  Loại dầu này của TQ thu hút Nhật Bản không phải ở chất lượng –dầu nhẹ hơn của Saudi vẫn hấp dẫn hơn cho sản xuất xăng, nhiên liệu máy bay và nhiều ứng dụng mang tính phức tạp khác– nhưng là vì các cơ hội mở rộng giao thương mà nó tạo ra cho các công ty thương mãi Nhật. Dầu mỏ đã mang đến những đồng tiền mạnh cho các nhà sản xuất TQ, và gián tiếp là cho chính phủ TQ, để quay lại chuyển đổi thành kỹ thuật, nhà máy, và máy móc cần thiết nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp của chính TQ.[14]

Một cách tối hậu, nó là một loại chất nổ, việc duy trì sự phát triển kinh tế khơi mào từ cuộc Bốn Hiện đại hóa, phát sinh nhu cầu năng lượng mới khổng lồ và phát triển một cách nhanh chóng, đã đào sâu nghiêm trọng cuộc ganh đua năng lượng giữa Nhật Bản và TQ. Dù có trữ lượng nội địa đáng kể, mất cân bằng về địa lý, cộng thêm sự yếu kém cơ sở hạ tầng liên quan, đã ngăn cản các nhà sản xuất sở tại của TQ trong việc đáp ứng yêu cầu nội tại quốc gia họ. Dù đã có một trữ lượng khổng lồ than đá nội địa, điều không có gì phải ngạc nhiên khi TQ vẫn tạo ra các cuộc ganh đua mới  trên biển Đông Trung Quốc  vì dầu mỏ và khí đốt Năm 1993 từ vị trí luôn thặng dư trong thương mại dầu mỏ toàn cầu của TQ trở nên bị thâm hụt. Sự mất cân đối đó ngày càng khoét sâu hơn về cuối thập niên, như đã nêu trong Hình II. Vào cuối năm 2005 TQ nhập khẩu dầu mỏ ở mức  thực tế là 3,38 triệu thùng mỗi ngày, hoặc nôm na khoảng hai phần ba của tổng lượng nhập khẩu khổng lồ của Nhật.[15]

Từ  năm 2000 đến 2005 nhu cầu về dầu của TQ tăng cao , chiếm khoảng hơn 1/3 của tổng lượng tăng toàn cầu. [16] Bị thúc đẩy bởi số người dân sở hữu xe hơi tăng cao và công nghiệp hóa dầu cũng bành trướng, lượng dầu tiêu thụ ở TQ đã vượt qua Nhật vào năm 2002, đến năm 2005 là gần 7 triệu thùng mỗi ngày so với 5,4 triệu thùng tại Nhật. Gần như toàn bộ các nhu cầu tăng thêm đều phải dựa vào nhập khẩu, do cung ứng nội địa bị hạn chế như đã nêu trên. Trong hình III ta thấy triển vọng rõ ràng về nhu cầu dầu mỏ ở TQ gia tăng vững chắc trong tương lai, thúc đẩy bởi ngành công ngiệp và nhu cầu người tiêu dùng, cũng như còn kéo dài lâu nữa sự thiếu hiệu quả và giá cả không nhất quán. Xăng ở TQ, lấy ví dụ, vào giữa năm 2005 bán lẻ 1,8 đô la / ga-lông, và duy trì thực chất là dưới giá thế giới [17]

Về phần các nhà máy lọc dầu, luôn than vãn về chính sách kiểm soát giá cả đã ngăn cản việc đầu tư cần thiết. TQ hiện đang tiêu thụ tính tròn là hai thùng dầu thô /người/năm, so với 28 thùng  ở Mỹ, và việc sử dụng ở TQ chắc chắn là phải tăng là điều không tránh khỏi.

Hình 1: BẢN ĐỒ NĂNG LƯỢNG PHỨC TẠP CỦA TQ

 

Nguồn: Phòng Năng lượng Hóa thạch –  Bộ Năng Lượng

FIGURE II: CHINA’S NET OIL IMPORTS  HÌNH II: NHẬP KHẨU THỰC DẦU THÔ CỦA TQ

Unit: barrel/day                        Đơn vị tính: thùng / ngày

Source: PRC Statistical Yearbook (until 2003) and BP. Statistical Review of World

Energy, 2005 and 2006 edition (until 2005).

Nguồn: Niên giám Thống kê CHDCND Trung Hoa (đến 2003) và Tổng kết Thống kê Năng lượng Thế giới, Tập đoàn Dầu khí Anh Quốc, ấn bản 2005 và 2006 (đến 2005)

Thực tại sâu sắc về sự phụ thuộc vào tuyến đường biển

Nhật Bản đã phụ thuộc vào các tuyến vận tải năng lượng trên biển đến từ Đông Nam Á và Trung Đông trong suốt thời lịch sử cận đại. TQ, với nhu cầu nhập khẩu dầu khí tăng đều đặn, đang theo một tiến trình -tuyến đường công khai chưa rõ ràng- tương tự. Năm 2002 TQ nhập khẩu gần 70 triệu tấn dầu thô, nhưng chỉ 7% tổng số này là đến bằng đường hỏa xa, chủ yếu từ Nga và-Ka zắc-tan. 93% còn lại tương đương hai triệu thùng mỗi ngày là đến bằng đường biển. Tuyến vận tải năng lượng trên biển gợi lên một ít lo lắng cho Nhật Bản, và là một nhân tố ngày càng quan trọng về kinh tế  trong quan hệ đồng minh thân cận về chính trị với Mỹ.[18] Nhưng sự phụ thuộc vào đường biển vốn đã làm gây lo ngại cho  TQ, như đã nêu trên, do sự yếu kém  về chiến lược của TQ trên  biển. Ngoài những quan tâm rất hiển nhiên về chính trị – quân sự, TQ còn chỗ yếu đặc biệt khác xuất phát từ sự phụ thuộc vào đường biển ngày càng nhiều là mối băn khoăn quốc gia. Chỉ có 10% lượng dầu nhập khẩu đến bằng tàu chở dầu TQ, còn lại 90% là đến bằng các đoàn tàu nước ngoài. Và khoảng 80 – 85% dầu nhập khẩu vào TQ đi qua eo biển Malacca với điểm hẹp nhất chỉ rộng cỡ 1,5 dặm. Thông qua mỗi ngày 11 triệu thùng dầu và 40 tỉ mét khối khí đốt thiên nhiên,  eo biển này là một mục tiêu hiển nhiên cho các nhóm khủng bố, và là một điểm yết hầu trong trường hợp xảy ra xung đột trong tương lai với các đối tác nước ngoài. Hồ sơ lịch sử cho thấy TQ rất lo sợ sự phụ thuộc năng lượng từ bên ngoài, và cũng có cái lý của nó. Các cố vấn Xô Viết vào năm 1950 đóng vai trò chính trong công nghiệp dầu mỏ ở TQ, và sự ra đi của họ sau sự rạn nứt khối Trung-Xô năm 1960 tạo ra sức ép về sự khan hiếm trầm trọng năng lượng ở TQ. Điều đó cũng làm TQ lệ thuộc vào Liên bang Xô viết, một đối thủ mới, để tiêu thụ hơn phân nửa sản phẩm lọc dầu của mình. TQ cũng đã tỉnh ngộ qua việc nhà nước Xô viết trước đây sử dụng cả dầu mỏ lẫn khí đốt thiên nhiên làm đòn bẩy địa chính trị trong cách đối xử với những nước láng giềng như Ukraine, Moldova và ngay cả Belarus ở thập kỷ trước. Các nhà phân tích TQ dường như xem Mỹ là mối nguy tiềm tàng cho an ninh năng lượng  TQ, mặc dù những nhu cầu năng lượng leo thang nhanh chóng của Bắc Kinh cũng có thể gia tăng khuynh hướng trước mắt tránh đối đầu với Washington.[19]

Không có một quốc gia nào đủ mạnh để đối trọng với Mỹ, và Hải quân Mỹ khống chế 7.000 dặm đường biển từ Thượng Hải đến eo biển Hormuz mà trong đó phân nửa nguồn cung cấp dầu mỏ của TQ phải ngang qua. Theo quan điểm của một số nhà quan sát TQ, sự thừa nhận về kinh tế đã trở thành một công cụ trọng yếu của chính sách Mỹ thời hậu chiến tranh lạnh, và tính dễ bị tổn thương của TQ trước áp lực kinh tế Mỹ, lại tương đối có ít đồng minh, có thể làm hạn chế khả năng lựa chọn của mình trên những vấn đề quan trọng mang tính chiến lược và chính trị như vấn đề Đài Loan. Tối thiểu thì họ cũng thấy được Mỹ dường như không muốn  đặt  vấn đề phụ thuộc năng lượng lẫn nhau giữa Trung-Mỹ theo một hướng tích cực, bằng chứng là sự rút lui của Tổng Công ty Xăng dầu Quốc gia TQ (CNOC) khỏi cuộc đấu giá Unocal vào mùa hè năm 2005.

“Giảm bớt yếu điểm năng lượng: Sự tiếp cận Trung-Nhật trong triển vọng tương đối.

Nói về mặt nhận thức, Nhật Bản và TQ phải có ít nhất năm chiến lược dự phòng để giảm nhẹ yếu điểm cho sức ép quốc tế trong tương lai về lĩnh vực năng lượng: (1) Gia tăng hiệu quả năng lượng; (2) Đa dạng hóa hoạt động tách khỏi dầu mỏ, như là điện nguyên tử, thủy điện, khí thiên nhiên, nguồn cung cấp các loại này thường ít dễ bị ảnh hưởng do cấm” ‘vận đường biển; (3) Đa dạng hóa về mặt địa lý các nguồn cung cấp năng lượng; (4) Giảm phụ thuộc vào các nước lớn trên thế giới, ngược lại là gia tăng phần năng lượng nhập khẩu từ các công ty trung gian do người trong nước làm chủ hoặc nắm quyền kiểm soát; và (5) Phát triển khả năng quân sự để độc lập bảo vệ các nguồn cung cấp năng lượng nội địa.” Hai quốc gia đã chấp nhận việc trộn lẫn các khác biệt rõ rệt giữa hai nước khi tiếp cận vấn đề đảm bảo an ninh năng lượng, như là giải pháp thay thế như đã nêu phía trên. Thực tế quan trọng này gom phạm vi tương lai đối đầu năng lượng song phương vào thành một vài cuộc khủng hoảng khu vực, như việc khai thác dầu ngoài khơi ở biển Đông Á, sự cạnh tranh về đường ống và về nhượng bộ ở các nước thứ ba. Sự phân kỳ trong cách tiếp cận của Nhật và TQ , tuy nhiên, tạo ra những bổ sung cho nhau, từ đó mở rộng con đường hợp tác trong tương lai. Nhật Bản đã xác định thứ tự ưu tiên trong chuyển đổi  cơ cấu công nghiệp nội địa xem đó là biện pháp chính để đối phó lại các vấn đề về an ninh năng lượng. Trong xu thế này, ba chính sách ưu tiên là đặc biệt quan trọng nhất: (1) sử dụng năng lượng có hiệu quả; (2) phát triển các dạng năng lượng thay thế khác nhằm nâng cao sự độc lập năng lượng; và (3) chuyển đổi cấu trúc công nghiệp hướng về lĩnh vực tri thức chuyên sâu  và tránh xa các khu vực tốn kém nhiều năng lượng. Cùng nhau,  những sáng kiến chuyển đổi trên đã giúp Nhật Bản sụt giảm được đáng kể sức ép về năng lượng trong nền kinh tế từ giữa những năm 70. Hiệu quả này càng tăng, cộng với hơn một thập kỷ kinh tế trì trệ, đã điều hòa lại đáng kể tình cảnh túng thiếu mà trước kia Nhật Bản từng cảm thấy vô cùng bức thiết trong việc xông xáo tranh đoạt năng lượng và thị trường nguyên liệu toàn cầu.[20] Các cải tiến giữa các lĩnh vực  đem lại hiệu quả về năng lượng tại Nhật Bản từ đợt Khủng hoảng Dầu mỏ vào thập kỷ 70 rõ rệt, đặc biệt ấn tượng, như chúng ta thấy trong hình IV. Các chỉ số chung của sản xuất công nghiệp (IIP) trên đơn vị năng lượng tiêu thụ tại Nhật đã tụt giảm gần 40% so mức 1970.[21] Trong sản xuất kim loại màu, lấy ví dụ, tại Nhật năm 2004 tiêu thụ chỉ 45,8% so năng lượng tiêu thụ cho một đơn vị sản phẩm vào năm 1973. Ngành hóa chất tỉ lệ này là 53,1%; ngành giấy và bột giấy 53,6%; ngành thép 67,5%; và ngành xi măng 86,1%.[22 Chuyển đổi cơ cấu công nghiệp  –rời xa các khu vực vật liệu tốn kém năng lượng  như ngành thép và hóa dầu, tiến đến các khu vực tiêu thụ ít năng lượng như điện tử– về thực chất cũng giúp cho sụt giảm tổng hợp nhu cầu năng lượng tại Nhật. Nói chung, ngành công nghiệp nguyên vật liệu không tốn kém năng lượng tại Nhật đã phát triển gần gấp đôi tốc độ so ngành nguyên vật liệu  tiêu hao  đối ứng từ những những năm 70. Sự khác biệt này đặc biệt sâu sắc trong khoảng thập niên 1975-1985, do được thúc đẩy mạnh mẽ bởi chính sách công nghiệp [23] Hệ quả là phần đóng góp của công nghiệp nguyên liệu trong sản xuất công nghiệp của Nhật rơi từ 33 xuống còn 21% trong thời gian 1975-2005, trong khi ở khu vực cơ khí và máy móc ít tiêu thụ năng lượng hơn đã  phát triển từ 30 lên 53%.[24] Nhật Bản cũng đã chủ động theo đuổi những chính sách năng lượng chuyển đổi để gia tăng  sự độc lập với xăng dầu nhập khẩu . Quan trọng nhất trong số này là sự hỗ trợ cho năng lượng nguyên tử mà ít nơi nào trên thế giới sánh kịp, trừ ra Pháp, Thụy Sĩ, Nga và Hàn Quốc. Năm 1973 chỉ có 0,6% năng lượng chủ yếu cung cấp tại Nhật Bản là nguyên tử lực, nhưng tỉ suất đó tăng cao 13,7% vào năm 1998.[25]  Sau nhiều năm với nền kinh tế lao đao, chính trị cãi cọ và luật lệ bị phá bỏ từ trong và sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, chính phủ Nhật mới đây đã bắt đầu nhấn mạnh lại vai trò nguyên tử lực và xây dựng lại chính sách nhất quán để hỗ trợ nó. Tập quán khôn ngoan trong chính sách kinh tế đối ngoại của người Nhật từ lâu đã nổi bật ở tính hám lợi, và hiệu quả ghê gớm trong chiến lược quốc gia giúp cho nước Nhật đủ sức đối phó với các vấn đề kinh tế thế giới. [26] Tuy nhiên, điều gây ấn tượng trong lĩnh vực năng lượng là việc các công ty quốc doanh, hoặc những công ty theo đường lối chính phủ Nhật lại không mấy nổi bật, và không được chính quyền hỗ trợ mấy. So với TQ hoặc ngay cả với Mỹ là nơi luôn làm xuất sắc nhất, việc hỗ trợ công ty quốc doanh  không thuộc phạm vi nỗ lực của chính phủ Nhật trước khi nội các Abe ra đời, nhưng thà để thiếu sót còn hơn là đã cố gắng mà không mang lại hiệu quả tương đối .[27] Trong bàn thảo về đảm bảo an ninh năng lượng, cách tiếp cận của Nhật Bản và TQ khác biệt rõ rệt ở 3 chọn lựa cuối cùng. Căn cứ vào khác biệt địa lý, Nhật Bản cho đến nay vẫn chủ yếu chấp nhận dựa vào nguồn cung cấp dầu từ Trung Đông cho thị trường dài hạn của mình. Nhật Bản kiên định dựa vào một số ít các nguồn cung ở vịnh Péc xích  – đặc biệt là Á rập Saudi, các tiểu vương quốc Á rập Thống nhất và Iran – cho hơn 80% tổng lượng nhập khẩu.[28] Khác hẵn với Nhật, TQ đã có những nỗ lực thực sự để tránh xa nguồn từ Trung Đông, đưa đến tỉ lệ phụ thuộc vào khu vực trên trong năm 2005 chỉ khoảng 45%, nhỉnh hơn phân nữa con số của Nhật. Mặc dù TQ trong chừng mực nào đó đã tận dụng căng thẳng địa chính trị giữa Mỹ và Iran để lấn vào mối quan hệ truyền thống đặc biệt giữa Nhật và Iran, [29] điều gây ấn tượng nhiều hơn là sự phát triển mạnh các mối liên hệ mới với các nhà sản xuất năng lượng châu Phi mà Nhật hầu như không can dự. TQ đã moi được gần một phần ba tổng dầu nhập khẩu từ châu Phi trong năm 2005; [30] lục địa này chỉ là nhà cung cấp bên lề của Nhật Bản. Thực vậy, trong năm 2006-2007 Angola cạnh tranh gay gắt với Á Rập Saudi trong vai trò nhà xuất khẩu dầu lớn nhất thế giới xuất sang TQ. Lượng dầu nhập từ Angola của TQ trong năm 2005 đạt hơn 7 triệu tấn, hơn gấp ba mức nhập năm 2002. Phản ảnh sự phụ thuộc sâu sắc lẫn nhau về năng lượng với châu Phi, TQ đã dành một sự ưu tiên đáng kể cho lục địa này trong chính sách ngoại giao của mình, lại càng góp phần đẩy mạnh hơn nữa việc nương tựa vào nhau trong vấn đề năng lượng giữa hai quốc gia. Cuối năm 2006, Bắc Kinh bảo trợ cho hội nghị tổng kết Châu Phi – TQ tại TQ, trong đó có 48 vị đứng đầu các chính phủ châu Phi tham dự.[31]

Chủ tịch Hồ Cẩm Đào của TQ cũng dành quyền ưu tiên đáng kể cho các nhà sản xuất năng lượng châu Phi khi ba lần đích thân thăm viếng ở cuộc gặp thượng đỉnh vừa qua, tỏ rõ quan điểm khi thăm viếng các quốc gia như Angola và Nigeria là những nước xuất khẩu dầu nhiều nhất cho TQ. Thủ tướng Nhật Koizumi, rất quan tâm về việc kiếm được sự ủng hộ của châu Phi trong đề nghị của Nhật được trở thành thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ, đã không thăm viếng bất kỳ nhà sản xuất năng lượng lớn nào trong chuyến công du châu Phi của ông.

Trung Quốc cũng sử dụng các công ty quốc doanh một cách năng động và hiệu quả hơn so Nhật Bản. Đặc biệt Công ty Dầu khí Quốc gia TQ (CNOC) đã trở nên cực kỳ xông xáo ở hải ngoại, thí dụ như đang tiến bước thành một nhà điều phối thị trường chủ yếu ở châu Phi và Kazakhstan. CNOC đã nhận được sự hỗ trợ đáng kể của chính phủ trong nỗ lực này. Các công ty phát triển năng lượng của Nhật Bản thì không năng động như thế, mặc dù các áp lực chéo về ngoại giao tại Iran và vài nơi khác cũng có lúc làm chậm sự tiến triển. Dù được mệnh danh là một quốc gia theo chủ nghĩa xã hội, TQ đã sử dụng cơ chế thị trường, như các chủ trương IPO nhằm tư bản hóa dài hạn thuận lợi các nhu cầu điều tra khai thác thử về mặt năng lượng tương lai, để làm đòn bẩy cho sức mạnh của các công ty quốc doanh như CNOC trên thị trường quốc tế.

Các tiêu điểm trong sự cạnh tranh Trung-Nhật

Mặc dù sự cạnh tranh năng lượng trực tiếp Trung-Nhật trong thập kỷ qua có phần lắng dịu lạ thường, do chiến lược năng lượng của Nhật Bản là hướng về chuyển đổi cơ cấu quốc nội , vẫn còn một khả năng sự ganh đua song phương sẽ bùng phát chắc chắn trong tương lai.

Nhu cầu dầu mỏ gia tăng nhanh chóng tại TQ, tác động qua lại các mối căng thẳng do mở rộng địa chiến lược sẽ là chất xúc tác quan trọng. Một điểm khác có thể là sự cố kết và khăng khăng trong chính sách ngoại giao năng lượng của Nhật Bản, khi mà những nét chính của nó bắt đầu hé lộ  trong vòng hai năm qua, và lại trở nên rõ nét dần dưới thời thủ tướng Abe.

Biểu lộ kịch tính gần đây nhất của sự cạnh tranh năng lượng Trung-Nhật đã cận kề giới hạn: vùng biển Đông Trung Hoa. Các ước đoán thay đổi tùy theo trữ lượng thực tế, nhưng các trữ lượng dầu mỏ lẫn khí đốt thiên nhiên dường như là đáng kể. TQ ước lượng trong mức từ 175 đến 210 nghìn tỉ cubic feet khí thiên nhiên, trong khi Nhật Bản ước lượng về dầu “vượt xa số 94,5 tỉ thùng dầu chất lượng cao” [32]

Sự hấp dẫn của các vùng trữ lượng này, đặc biệt đối với TQ, càng tăng thêm bởi sự cận kề với các khu vực có nhu cầu về năng lượng gia tăng nhanh dọc theo bờ biển đông nam TQ, như đã chỉ ra ở Hình I, nơi mà có ít nguồn năng lượng thay thế. Vùng trữ lượng khí đốt ở biển Đông Trung Hoa là đặc biệt cuốn hút TQ, cho ra chất khí có hiệu quả cao như  là một loại nhiên liệu cho gia đình, và các đặc tính thân thiện môi trường của nó. TQ và Nhật Bản đã chấp nhận các tiêu chuẩn khác nhau khi ấn định khái niệm của họ về EEZ trong khu vực, phía Nhật thì chấp nhận nguyên tắc ở khoảng giữa đường ranh, phía TQ thì nhấn mạnh việc định hình thể EEZ của mình dựa trên thềm lục địa sẵn có trong vùng biển tương đối nông ở biển Đông Trung Hoa.[33]

Điểm tập trung cho xung đột gần đây là vùng mỏ khí Chunxiao/Shirakaba, chỉ có 4 km bên phía TQ cách đường biên trung tuyến, TQ đã bắt đầu ráo riết các hoạt động thăm dò từ tháng 5-2004. Tháng 5-2005, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) cho phép các công ty Nhật thăm dò trong vùng tranh chấp trên. Vào tháng 9-2005, tàu chiến TQ xuất hiện tại vùng đang sôi động này, ngay trước cuộc bầu cử quốc gia của Nhật. Và giữa tháng 10-2006 đến tháng 1-2007, TQ bắt đầu thực sự hút lên cả dầu lẫn khí từ vùng biển Đông Trung Quốc này, cấp thẳng về lục địa mặc cho phía Nhật Bản phản đối. Lối thoát của cuộc tranh chấp nầy vẫn chưa có gì là chắc chắn, nhưng khả năng về một sự thỏa hiệp đang lên cao. TQ cần khí đốt thiên nhiên, cũng như cần tài trợ cho phát triển đại qui mô. Nhật Bản, dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe, dường như muốn thấy vài dấu hiệu nới lỏng căng thẳng với TQ, qua bằng chứng cuộc viếng thăm của ông Abe đến Bắc Kinh vào tháng 10-2006, ngay cả khi Nhật chuẩn bị phản đối TQ trên các vấn đề an ninh bao quát hơn, và để đạt được sự mặc nhận từ cộng đồng thế giới nhu cầu tăng cường vị thế của quân đội Nhật Bản. Các cuộc thảo luận cấp cao đã không chính thức mang hai quốc gia đến gần nhau hơn về vấn đề này kể từ mùa thu năm 2006.  Những điểm tập trung quan trọng khác cho sự xung đột  –khó đoán trước hơn vụ việc biển Đông Trung Hoa– rõ ràng vẫn còn đó trong số những quan hệ năng lượng đáng quan tâm khó khăn nhất với Nga, đặc biệt về chính sách ngoại giao đường ống dẫn dầu. Nhập khẩu năng lượng của TQ từ  Nga đã tăng lên, Nga là nhà cung cấp dầu lớn thứ năm cho TQ trong năm 2004. Nhưng Nhật Bản cũng có tham vọng mạnh mẽ lấy được trữ lượng dầu và trữ lượng khí đốt của Nga — đứng hàng phần ba  thế giới trong việc cung cấp khí đốt lẫn dầu mỏ . Giữa năm 2003 và 2005 hai quốc gia đã cùng nhau lâm vào một cuộc chiến về đấu giá cay đắng và không ngã ngũ về một đường ống dẫn dầu từ giếng dầu Angarsk phía bắc hồ Baikal. Mặc dù thích Nhật Bản hơn TQ vào năm 2004, đến tháng 4 năm 2005  Moscow gần như từ chối giá chào mời 12 tỉ đô la của người Nhật giúp tài trợ để xây dựng đường ống,[34] mà lại thích giá chào thấp hơn của TQ, rút lui khỏi vị trí ưu đãi trong một thỏa thuận giới hạn về lãnh thổ với Nhật đã được duy trì hơn một thập kỷ. Sau rốt, với tham vọng ràng buộc càng nhiều khách hàng châu Á càng tốt, Nga quyết định phân nhánh đường ống dự kiến 4.188 km tại Skovorodino gần biên giới Nga-Trung, điểm giữa của toàn tuyến. Làm thế sẽ cung cấp 20 triệu tấn dầu hàng năm cho TQ và 10 triệu tấn dầu sẽ được vận chuyển đường sắt đến bờ biển Thái Bình Dương cho Nhật. Việc xây dựng theo kế hoạch thỏa hiệp trên đã được triển khai vào tháng 4 năm 2006. [35]

Trong năm 2006 Nga còn buộc hai công ty kinh doanh chủ chốt của Nhật là Mitsubishi và Mitsui phải chịu bất lợi mà tái thương thảo về chiến lược và vị thế lâu dài trong dự án khí thiên nhiên hóa lỏng Sakhalin II, sử dụng danh nghĩa quan tâm đến môi trường làm chốt chặn, và các mối quan tâm về năng lượng của TQ là yếu tố hậu trường phức tạp cho khát vọng năng lượng của Nhật Bản. Iran là một điểm nhấn tiềm năng khác trong mối quan hệ năng lượng Trung-Nhật. Ở Iran, cả  Nhật Bản và TQ đều được phân bổ để khai thác giếng dầu chủ yếu riêng biệt trong thời kỳ 2003-2005 –người Nhật tại Azadegab và người TQ tại Yadaravan.[36] Nhưng người Iran trong phạm vi cần tiếp tục cuộc khủng hoảng hạt nhân, đã có nhiều thúc đẩy buộc người Nhật và người Trung phải cạnh tranh lẫn nhau.

TQ cột chặt với Iran về địa chính trị, và Nhật Bản gặp khó khăn khi kháng cự vì quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật, là sự thất vọng đặc biệt cho khát vọng của người Nhật vì nó có thể làm rắc rối trầm trọng quan hệ Trung-Nhật, cả đến quan hệ Mỹ-Nhật. Về mặt lâu dài vấn đề chủ yếu trong mối liên hệ năng lượng Trung-Nhật hiển nhiên phải là các nhiệm vụ tương ứng của hai gã khổng lồ châu Á tại vịnh Ba Tư. Hiện tại Nhật Bản đứng sát mí là khách hàng lớn nhất thế giới về dầu của vịnh Péc-xích, nhưng nhu cầu gia tăng nhanh chóng của TQ sẽ hầu như chắc chắn thay đổi tình hình đó. Sự ganh đua Hán-Nhật sẽ ra sao tại vùng Vịnh, đặc biệt khi nhu cầu năng lượng của

TQ gia tăng gấp nhiều lần mức hiện tại, và khi sự can dự của người Mỹ vào Trung Đông thay đổi, là một câu hỏi cực kỳ quan trọng cho tương lai địa chính trị thế giới, điều đó hiện rõ trong tâm trí các nhà hoạch định chính trị Nhật Bản như Thủ tướng Shinzo Abe đang chuẩn bị cho chuyến công du ngoại giao quan trọng vào tháng 5-2007 thăm Trung Đông. Triển vọng vực dậy sự hợp tác –khác với thập kỷ 70 và 80 nhưng tuy nhiên cũng theo lô gíc– dường như tương đối sáng sủa, đặc biệt nếu được Mỹ khuyến khích. Rõ ràng TQ rất cần kỹ thuật bảo toàn năng lượng của Nhật Bản, cũng như sự lui tới vùng biển Đông Trung Hoa đang tranh chấp. Và chính phủ Abe dường như thiên về xây dựng cầu nối phi quân sự với TQ bởi những lý do tự thân rộng rãi hơn về chính trị và ngoại giao. Bên cạnh việc bảo toàn năng lượng, kỹ thuật năng lượng sạch là một lĩnh vực khác cho triển vọng hợp tác. Như đã nêu trước đây, 70% năng lượng tiêu thụ chủ yếu của TQ là than đá, và sự ô nhiễm không khí tác động trực tiếp đến Nhật dưới dạng mưa a-xít. Thực tế khắc nghiệt này đã dẫn đến hai quốc gia cùng hợp tác trong kỹ thuật than sạch qua dự án METI’s Green Aid Plan từ năm 1992. Trong năm 2003, Nhật Bản và TQ thành lập liên doanh Fushun Hubo Clean Coal Co., Ltd., nhằm sản xuất than sạch tại thành phố Fushun thuộc tỉnh Liêu Ninh.[38] Ưu tiên cao mà TQ sắp sửa giao phó xử lý về vấn đề năng lượng và môi trường, là nơi sự hợp tác của Nhật Bản sẽ rất có ý nghĩa, đã được Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đột ngột phát biểu khi khai mạc Quốc Hội tại Bắc Kinh vào tháng 3-2007.[39] Ông Hồ đã tái xác nhận trọng tâm tăng trưởng nhanh nền kinh tế là ưu tiên quốc gia, những cũng cảnh báo rằng sự tăng trưởng có thể bị kiềm hãm nghiêm trọng bởi các vấn đề năng lượng và môi trường. Kế hoạch năm năm hiện hành của TQ kêu gọi  giảm bớt tiêu thụ năng lượng 20% mỗi đơn vị GDP, nhưng Ông Hồ thừa nhận rằng mục tiêu trên không thể đạt được trong năm đầu tiên của kế hoạch. Ông kêu gọi nỗ lực gấp đôi trên cả hai mặt bảo toàn năng lượng và giảm mức xả ô nhiễm. Một lĩnh vực khác có tiềm năng khơi dậy sự hợp tác là năng lượng hạt nhân. Năm 2006, TQ loan báo rằng sẽ đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy điện hạt nhân, từ công suất 8.700 megawatt hiện tại lên 40.000 megawatt vào năm 2020.[40] Cùng năm 2006, Nhật Bản cũng loan báo về kế hoạch nâng tỷ lệ sản xuất điện năng nguyên tử lực từ 29% trong năm 2004 lên 30-40% trong năm 2030, và tái xác nhận tầm quan trọng của hợp tác tư nhân trong lĩnh vực nguyên tử lực như là một khu vực trọng yếu trong hợp tác năng lượng với châu Á, bao gồm cả TQ.[41] Chỉ có một câu hỏi là khi nào các căng thẳng địa chiến lược, và chu kỳ tái phát sự bất tín nhiệm nhau giữa hai chàng khổng lồ châu Á lên đến điểm mà kiểu dàn xếp thực dụng— thường thấy  trong mối lợi ích toàn cầu— sẽ có thể giải quyết bằng chính trị giữa hai bên. Phía Mỹ, trong khi tái xác nhận sự đồng minh với Nhật Bản như là một đồng minh chính ở Thái Bình Dương, cần phải tái xác nhận rằng họ thấy được sự quan trọng hợp tác năng lượng của Trung-Nhật, và thực ra là Mỹ-Trung-Nhật.[42]

HÌNH III: VIỄN CẢNH CHẮC CHẮN VỀ GIA TĂNG NHU CẦU DẦU MỎ Ở TQ

Nguồn: Bộ Năng lượng Mỹ. Quang cảnh về Năng lượng hàng năm, ấn bản 2005

Japan, China, India, South Korea

Source: US Department of Energy.  Annual Energy Outlook, 2005 edition.

*                              *

*

Nhận xét của Nhóm chuyển ngữ Bauvinal.Info.free.fr

Bản báo cáo của Kent E. Calder* kết hợp với bài viết của GS Evan A. Feigenbaum** (mới đăng trên Bauvinal) sẽ cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tương đối toàn diện về chiến lược năng lượng và sự “cạnh tranh trong hợp tác” Trung-Nhật trong bối cảnh địa-chính trị chịu ảnh hưởng trực tiếp của Hoa Kỳ trong khu vực Châu Á-TBD hiện nay.

Nhu cầu năng lượng tăng đến mức độ chóng mặt do phát triển kinh tế của TQ trong mấy thập kỷ qua đã làm cán cân tương quan cung-cầu năng lượng trên thế giới thay đổi, TQ vội vã thực hiện chính sách “quân sự hóa” nền kinh tế, tăng cường lực lượng hải quân một cách ồn ào cũng như đặt lại vấn đề chủ quyền đơn phương trên biển Đông theo đường “lưỡi bò” của họ bất chấp những thỏa thuận song phương với Việt nam hay đa phương với các nước Asean về “cách ứng xử trên biển Đông” là những động thái đang làm cho các nước trong khu vực lo lắng cũng như tuyến đường biển đi lại trên biển Đông có nguy cơ rơi vào khủng hoảng.

Điều nầy vô hình trung củng cố những lập luận tương tự như Feigenbaum , cho rằng quyền khống chế làm bá chủ biển đông của hải quân Hoa kỳ là sự đối trọng tất yếu chống xu thế nầy, không đếm xỉa gì đến vị trí , vai trò và quyền lợi của Việt Nam và các nước đông nam á khác—là những người trong cuộc dọc theo biển Đông– bị xem là nước nhỏ, “ăn theo” dưới “cái ô bảo trợ ” về quân sự của Hoa kỳ.

Liệu những mỏ dầu và khí dốt trữ lượng cao ở khu vực chung quanh quần dảo Trường Sa sẽ phải như thế nào khi tham vọng của các nước lớn ngày càng hiện rõ, nhu cầu về năng lượng của TQ cần được giải đáp như thế nào để không gây chiến tranh hay lấn chiếm cục bộ trên biển đông, hủy hoại sự ổn định và hợp tác song phương và đa phương của Việt nam trong tương lai không xa ?

Thiết nghĩ những vấn đề quan trọng nầy cần được các nhà nghiên cứu Việt nam quan tâm nhiều hơn, đề xuất những phân tích và có kiến giải hợp lý đóng góp vào việc củng cố hòa bình và phát triển kinh tế của đất nước cũng như của khu vực.

———————————————————————————————-

· *trình bày cách đây 2 năm (2007)

· **China’s Military Posture and the New Economic Geopolitics – Tình hình Quân đội Trung Quốc và Tân Địa chính trị Kinh tế”được viết cách đây gần 10 năm (1999), tình hình quốc phòng ở Trung Quốc hiện nay đã được tăng cường với ngân sách gấp bội, hình thành 3 hạm đội trên biển..v..v…dù vậy, cán cân tương quan lực lượng cơ bản vẫn không thay đổi , mở ra thời kỳ kích thích chạy đua vũ trang ở khu vực Châu Á-TBD trong khi TQ cố tình phô diễn chính sách “Phú Quốc Cường Binh” trên biển Đông và vùng biển quốc tế bằng những cuộc tập trận qui mô chưa từng có.

HÌNH IV: CẢI TIẾN SỬ DỤNG HIỆU QUẢ NĂNG LƯỢNG TẠI NHẬT


Chú: Tính toán lấy số liệu 1973 làm mức 100

Source: Energy Conservation Center. Handbook of Energy and Economic Statistics in

Japan, 2006 edition, pp. 68-69.

Chú: Tính toán lấy số liệu 1973 làm mức 100

Nguồn: Trung tâm Bảo tồn Năng lượng. Sổ tay thống kê năng lượng và kinh tế tại Nhật, ấn bản 2006, các trang 68 và 69.

Nguồn: Bộ Năng lượng Mỹ. Quang cảnh về Năng lượng hàng năm, ấn bản 2005

Japan, China,India, South Korea

Source: US Department of Energy.  Annual Energy Outlook, 2005 edition.

Chú thích:

*1 Đọc Nicholas Kristof, “The Rise of China”, Foreign Affairs, November/December, 1993, Volume 72, Issue 5.

2* Đọc Kent E. Calder, “Simmering Sino-Japanese Rivalries”, Foreign Affairs, April/May, 2006, pp. 1-11.

3* Năm 2004 Nhật Bản tiêu thụ khoảng 5,35 triệu thùng. Đọc U.S. Department of Energy. Country Analysis Brief, at: http://www.eai.doe.gov/emeu.cabs/china.html.

[4] Dean Acheson đã thúc giục cấm vận dầu mỏ đối với Nhật để trả đũa lại việc Nhật xâm lược Đông Dương năm 1940, một động tác đưa đến cuộc tấn công gấp gáp Trân Châu Cảng vào tháng 12/1941. Đọc Daniel Yergin. The prize : the epic quest for oil, money, and power. 1991. New York : Simon and Schuster.

[6] Như đã dẫn

[7] Thuật ngữ này đã được dùng trong một phạm vi khác là kỹ nghệ, xem Daniel Okimoto. Pioneer and Pursuer: The Role of the State in the Evolution of the Japanese and American Semiconductor Industries. Stanford: Stanford University Northeast Asia-United States Forum on International Policy, 1983.

[8] BP Statistical Review of World Energy, June, 2006 edition, p. 11.

[9] Như trên đã dẫn. Nhật Bản, dĩ nhiên, có danh hiệu GDP hơn gấp 3 lần của TQ, mặc dù nhu cầu về dầu mỏ là ít hơn một phần ba số của TQ.

[10] Trang mạng của Tanaka Akihiko về những tài liệu pháp lý trong các mối liên hệ Hán Nhật:

http://www.ioc.u-tokyo.ac.jp/~worldjpn/

documents/texts/JPCH/19780216.O1J.html

[11] Trung Quốc Thời báo, xem tại: http://www.chinadaily.com.ch/en/doc

[12] Trang mạng về Hợp tác Kinh tế Nhật Bản – TQ: http://www.jc-web.or.jp/lt/2.htm

[13] Trang mạng của Tanaka Akihiko về những tài liệu pháp lý trong các mối liên hệ Hán Nhật:

http://www.ioc.u-tokyo.ac.jp/~worldjpn/documents/

texts/JPCH/19780216.O1J.html

[14] Đọc trang mạng Sự Kết hợp Kinh tế Nhật Bản-TQ: http://www.jc-web.or.jp/lt/2.htm

[15] Tổng kết Thống kê Năng lượng Thế giới, Tập đoàn Dầu khí Anh Quốc, ấn bản 6-2006, trang 20.

[16] Tổng kết Thống kê Năng lượng Thế giới, Tập đoàn Dầu khí Anh Quốc. ấn bản 2006. [có trên mạng]

http://www.bp.com/productlanding.do?categoryId=6842&contentId=7021390

(19) See Aaron L. Friedberg. “Going Out”: China’s Pursuit of Natural Resources and Implications for the PRC’s Grand Strategy. Seattle: National Bureau of Asian Research, Volume 17, Number 3, September, 2006, p. 30.

[20] Về khuynh hướng trước đây, đọc Raymond Vernon. Two Hungry Giants: The United States and Japan in the Quest for Oil and Ores. Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press, 1983.

[21] Đường lối về Tài nguyên và Năng lượng, Bộ Kinh tế Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản. Bạch thư về năng lượng, ấn bản 2006 [có trên mạng]. http://www.enecho.meti.go.jp/topics/hakusho/

2006EnergyHTML/html/i2120000.html

[22] Trung tâm Bảo toàn Năng lượng: Sổ tay thống kê năng lượng và kinh tế tại Nhật, ấn bản 2006, các trang 68-69.

[23] Trung tâm Bảo toàn Năng lượng: Sổ tay thống kê năng lượng và kinh tế tại Nhật, các trang 62-63

[24] Bộ Kinh Tế, Thương mại và Công nghiệp, Chủ trương về Tài nguyên và Năng lượng. Bạch thư Năng lượng, ấn bản 2006. Có sẵn trên mạng tại:

http://www.enecho.meti.go.jp/topics/hakusho/

2006EnergyHTML/html/i2120000.html.

[25] Trung tâm Bảo toàn Năng lượng. Sổ tay, trang 36.

[26] Chalmers Johnson. MITI và phép lạ người Nhật. Stanford: Stanford University Press, 1982

[27] Về mức độ hiệu quả của chính phủ Mỹ trong ngoại giao năng lượng, đọc Stephen Krasner. Defending the National Interest: Raw Materials Investments and U.S. Foreign Policy. Princeton: Princeton University Press, 1978. Trong năm 2005-2007 Krasner giữ chức Giám đốc Kế hoạch Chính sách trong chính quyền Mỹ.

[28] Năm 2004, 89,5% nhập khẩu dầu của Nhật đến từ Trung Đông, gồm 26,2% từ Á rập Saudi, 256% từ các tiểu vương quốc Á rập Thống nhất và 15% từ Iran. Xem trên đã nêu., các trang 152-153.

[29] Thí dụ, TQ tiếp cận Iran trong lúc Nhật và Iran đang thương thảo về các vấn đề ở mỏ dầu Azadegan. Mặc dù Iran dọa Nhật là sẽ chuyển hợp đồng sang ký với TQ nếu phía Nhật không tán thành các điều khoản mình, Teheran trong thực tế đã không làm vậy.

[30] Tài Chính Thời Báo, số ngày 19 tháng 10-2006

[33] On the technical details of this conflict, see Selig Harrison.  Seabed Petroleum in Northeast Asia..

[34] Kyodo News, May 19, 2005 and April 27, 2005.

[35] Kyodo News, April 28, 2006.

[36] Vào tháng 10-2004, công ty quốc doanh Sinopec, một trong ba công ty dầu mỏ chủ chốt của TQ, kết thúc đàm phán một thỏa thuận kéo dài 30 năm trị giá 70 tỉ đô la với người Iran về việc phát triển giếng dầu Yadaravan và mua 250 triệu tấn khí thiên nhiên hóa lỏng.

[38] Sinocast China Business Daily News, 13/102003.

[39] Đọc Thời báo New York, 5/3/2007.

[40] Tin AFP, ngày 24/3/2006.

[41] Các lĩnh vực khác của sự hợp tác bao gồm bảo toàn năng lượng, kỹ thuật than sạch, năng lượng thay thế, và năng lượng tồn trữ. Đọc: Agency for Natural Resources and Energy. New National Energy Strategy (Digest). 2006. [có sẵn trên mạng] http://www.enecho.meti.go.jp/english/index.htm

[42] Thêm bước khẳng định cho chiều hướng này là ở Hội thảo cấp bộ trưởng về năng lượng vào tháng 12-2006 tại Bắc Kinh, có tham gia bộ trưởng năng lượng các nước Nhật, TQ, Nam Hàn, Ấn Độ và Mỹ. Họ đã thảo luận về an ninh năng lượng, sự ổn định và sự phát triển bền vững, bao gồm hợp tác trong kỹ thuật than sạch và nguyên tử. Để biết tóm lược, xin xem tờ Xinhua News Agency, số ngày 18/12/2006.

research.yale.edu/eastasianstudies/japanworld/calder.pdf

Tác giả xin bày tỏ sự  đánh giá cao đặc biệt đến cô Yukie Yoshikawa qua sự hỗ trợ nghiên cứu của cô cũng như các  góp ý trong bài này.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: