Anhbaque’s Blog

Just another WordPress.com weblog

Bài 23. Những động thái mới của Trung Quốc về vấn đề biển nam Trung Hoa

Posted by anhbahoa on November 26, 2009

Bài 23

Những động thái mới của Trung Quốc

về vấn đề biển nam Trung Hoa

南シナ海問題における中国の新動向

Lời giới thiệu

Dưới đây là bài viết của chuyên gia quốc phòng NB vào tháng 9/2007. Từ đó đến nay động thái về quân sự trên biển Đông đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là việc phô trương sức mạnh của Hải quân TQ và các lực lượng tuần tra của cảnh sát biển , tuần ngư, đã mở ra các chiến dịch bắt giữ ngư dân VN đánh cá một cách thô bạo xảy ra liên tục để chứng minh chủ quyền của mình trên biển Đông trong giữa năm 2008 đến nay cho thây tác giả đã quá chủ quan và lạc quan trong nhận định về những ý đồ của TQ trong vấn đề biển “Nam Trung Hoa”. Tuy nhiên bài viết cho thấy mối tương quan giữa ASEAN-TQ và các nước lớn chung quanh như Mỹ và Nhật Bản, trong đó hé lộ những ý tưởng gắn bó chiến lược giữa  NB và các nước ASEAN để đối phó với âm mưu bành trướng của TQ trên vùng biển nầy. Đó là phát hiện lý thú mà nhóm Chuyển ngữ Bauvinal muốn giới thiệu với bạn đọc gần xa.

Lê Hoàng

飯田 将史

IIda Masafumi

Lê Hoàng chuyển ngữ

Kỷ Yếu Nghiên Cứu Quốc Phòng, số 1 tập 10 (tháng 9/2007)

Tóm tắt

Cho đến giữa thập kỷ 1990, TQ mang ý đồ mở rộng sự thống trị bằng sức mạnh trên vùng biển Nam Trung Hoa, gây ra một mối đe dọa mới của TQ đối với Đông Nam Á. Nhưng kể từ sau hậu bán thập kỷ 90, TQ đã có thái độ hợp tác với các nước ASEAN về vấn đề nầy. Thí dụ, đối với VN là nước đối nghịch lớn nhất, TQ đã xúc tiến đường lối đối thoại để phân định đường biên giới của khu vực đặc quyền kinh tế EEZ lãnh hải trên vịnh Bắc Bộ cũng như trên đất liền. Trong vấn đề biển đông, TQ tỏ tư thế sẵn sàng giải quyết thông qua thương thảo như đã thấy qua việc thực hiện thăm dò tài nguyên tay ba với VN và Philippines. Bối cảnh của sự thay đổi nói trên phát xuất từ yêu cầu bảo đảm sự ổn định của khu vực chung quanh—là nhân tố không thể thiếu—đối với sự phát triển kinh tế của TQ, cần thiết phải ngăn ngừa sự tăng cường quan hệ giữa Đài Loan và các nước ASEAN về vấn đề chủ quyền trên biển đông, và sự can thiệp của các nước lớn nằm ngoài vòng tranh chấp  như Nhật bản hay Mỹ hoặc không để mối liên kết giữa các nước nầy với ASEAN ngày càng gắn bó hơn.

Mở đầu

Vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông mà chủ yếu là quần đảo Trường Sa (Nam Sa quần đảo) vốn là điểm đối đầu nghiêm trọng và ngấm ngầm từ xưa đến nay giữa TQ và các nước ASEAN và cũng là vấn đề bảo đảm an ninh cho eo biển Đài Loan và bán đảo Triều Tiên ở vùng Đông Bắc Á. Năm 1974, TQ đã dùng vũ lực chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa (Paracel) thuộc chủ quyền của Nam Việt Nam, năm 1988 giao chiến với hải quân VN, giết hại 80 binh sĩ để chiếm đóng rặng San hô Johnson thuộc quần đảo Trường Sa. Vào thập kỷ 90, TQ gia tăng việc chiếm giữ các đảo ở quần đảo Trường Sa, năm 1992 lập ra “Luật lãnh hải”, sẵn sàng dùng vũ lực để bảo vệ chủ quyền các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa, năm 1995 tiến chiếm rặng đá ngầm Mischief(Mỹ tế) thuộc chủ quyền của Philippines.

Tuy nhiên kể từ hậu bán thập kỷ 90, thái độ đối phó của TQ về vấn đề nầy đã  thay đối rõ rệt. Nghĩa là từ thái độ cứng rắn không từ nan việc sử dụng vũ lực chuyển sang tư thế hợp tác đối thoại với các nước liên quan để làm lắng dịu vấn đè tranh chấp. TQ đã đồng ý việc thương thảo đa phương như yêu cầu của các nước ASEAN, và đồng ý ký vào “Tuyên bố về hành động của các nước liên quan về vấn đề biển Nam Trung Hoa” vào năm 2002 (Qui tắc ứng xử trên biển đông—ND chú). Vào năm 2005 đã cùng với VN và Philippines bắt đầu điều tra về tài nguyên dưới đáy biển Đông. Với những hợp tác về vấn đề biển Nam Trung Hoa như trên, mối lo ngại về sự uy hiếp của TQ đối với các nước ASEAN dần được giảm bớt. Đến năm 2003 TQ và ASEAN đã kí kết hiệp ước xây dựng quan hệ đối tác chiến lược.

Sự thay đổi về cách đối phó của TQ đối với vấn đề biển Đông đã ảnh hưởng rất lớn đến chính sách đối với TQ của các nước ASEAN cũng như tình hình trên biển Đông vốn là đường thông thương quan trọng và là nhân tố không thể không xét đến khi nghiên cứu về chính sách an ninh quốc phòng và đối ngoại của Nhật Bản. Bài viết nầy một mặt xác nhận lập trường cơ bản của TQ đối với vấn đề biển Đông, rà soát lại những phương thức đối phó của TQ trong thương thảo đối với VN là nước đối đầu mạnh mẽ nhất trong vấn đề nầy (1). Cuối cùng là phân tích những nhân tố gây nên.

AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ (1838) bởi Linh Mục J.L.Taberd

TABULA GEOGRAPHICA EMPERII ANAMITICI (1838)

Trong họa đồ này, ngay điểm của quần đảo Hoàng Sa), linh mục Taberd có ghi chú: Đảo Cát Vàng. Linh mục là người đã viết trong cuốn sách “Univers, Histoire et Description de Tous Les Peuples, de Leurs Religions, Moeurs et Coutumes (1833)” là người Việt Nam gọi đảo Paracel là Cát Vàng (Hoàng Sa).

1. Căn cứ của chủ quyền lãnh hải(*phụ chú)

TQ cho rằng tất cả các quần đảo trên biển Đông như quần đảo Trường Sa (Pratlys—Nam Sa), Hoàng Sa (Paracel—Tây sa), Quần đảo san hô Maccle field(Trung Sa), Platas(Đông Sa) và cả các vùng đặc quyền kinh tế chung quanh đều thuộc lãnh hải của TQ. Về quần đảo TS là nơi xảy ra nhiều tranh chấp về chủ quyền với các nước ASEAN, TQ đã đưa ra 3 căn cứ như dưới đây khi chủ trương nó là của họ (2):

Một là, rằng TQ là nước phát hiện quần đảo Trường Sa sớm nhất. Theo chính phủ TQ, người TQ phát hiện quần đảo TS từ thời Hán, hơn 2000 năm trước. Thời Đông Hán(25-220 năm) Dương Phu đã ghi lại trong “Dị Vật Chí”『異物誌』”biển ở Kỳ Đầu Trương Hải cạn và có nhiều đá ngầm”. “Trương Hải”「張海」là tên gọi biển Nam Trung Hoa của người TQ thời bấy giờ, “Kỳ đầu”「崎頭」là các quần đảo ở biển Đông gồm cả HS và TS,và các rặng đá san hô, bãi cát, đá ngầm…Thời Đường (năm 618-907) hay Đời Tống (960-1279) các thư tịch về địa lí gọi TS và HS là “Cửu Nhủ Lỗ Châu”「九乳螺洲」, Thạch Đường「石塘」, “Trường Sa 「長沙」 、”Thiên lý Thạch Đường” 「千里石塘」 、”Thiên lý Trường Sa”「千里長沙」 、”Vạn lý Thạch Đường 「万里石塘」 、”Vạn Lý Trường sa” 「万里長沙」…

Trong bản đồ trong tập “Bản đồ họa quốc gia-thủ đô các triều đại của “Hỗn Nhất Cương Lịch Đại Quốc Đô Chi Đồ”『混一疆理歴代国都之図』 xuất bản vào thời Minh (1368-1644) có ghi “Thạch Đường”「石塘」 và “Trường Sa” 「長沙」, nhìn vào vị trí của bản đồ nầy thì “Thạch Đường” là đúng ở vị trí của Trường Sa ngày nay. Trong tập “Canh Lộ Mộ”『更路簿』 vào đời nhà Thanh (1636-1911), ngư dân có ghi lại tên gọi và vị trí của các đảo, đá san hô, bãi cát, Than, Châu, trong đó tên gọi số 83 là quần đảo TS(Pratlys).

Hai là, TQ là nước khai thác và kinh doanh đầu tiên quần đảo TS. Lịch sử của những hoạt động của người Hoa ở những quần đảo trên biển Nam Trung Hoa đã có hơn 1000 năm. Trong “Quãng Châu Ký”『広州記』 thời Phổ Đại (năm 265-420) ghi “Huyện San Hô Châu(Đông Viễn) cách 500 lý về phía Nam, người xưa đã bắt cá, san hô”. Trong hiện vật chôn cất tìm thấy ở quần đảo trên biển Đông có cả đồ gốm thời Nam Triều (năm 420-589). Dù muộn đi nữa thì những ngư dân đời nhà Minh đã đến quần đảo TS để đánh bắt hải sản. Trong cuốn “TQ Hải chỉ nam” xuất bản năm 1866 ghi rõ hàng năm vào tháng 12 hoặc tháng giêng, có khoảng 200 tàu đánh cá rời cảng Hải Nam  ra TS để mua hải sản với các ngư dân bản địa và xuôi gió mùa Tây Nam để trở về quê hương.

Ba là, TQ cho rằng họ là người hành xử quyền cai quản sớm nhất đối với quần đảo TS. Theo chủ trương nầy, TQ đã xác định khu hành chính của quần đảo trên biển Nam Trung Hoa từ đời nhà Đường, đặt các quần đảo nầy dưới quyền cai quản dưới chính phủ TQ. Trong “Nguyên Sử” và bản đồ trong “Nguyên Đại Cương Vực Đồ Tự[元代疆域図叙』 thì quần đảo TS thuộc lãnh thổ của nhà Nguyên và có ghi lại việc hải quân của nhà Nguyên đã ra tuần tra quần đảo TS. Trong nhiều bản đồ thời nhà Thanh, vẽ quần đảo TS là một phần nằm trong bản đồ của TQ.

Vào năm 1932 và 1935, Bộ tham mưu, Bộ Ngoại giao, Bộ Hải quân, Bộ Giáo dục và Ủy ban Mông-Tạng của Trung Hoa Dân Quốc xác định 132 tên gọi của các đảo ở biển Nam TH, những đảo nầy được đặt trong quản lý chung của các quần đảo TS, HS, Maccles field bank(Trung Sa), Pratas(Đông Sa) và theo TQ thì quần đảo TS là quần đảo bị NB chiếm đóng đã được trao trả. Trong thế chiến thứ hai, NB đã chiếm đóng quần đảo TS và đã đặt dưới sự cai quản của Đài Loan.  “Tuyên bố Cairo” giữa ba nước Mỹ-Anh-Nga Xô viết  vào năm 1943 qui định “phải trao trả cho TQ (Trung Hoa Dân Quốc) tất cả những khu vực mà NB đã cướp đoạt của nhà Thanh như đảo Bành Hồ, Đài Loan, Mãn Châu” một trong những mục đích chiếm đoạt của cuộc chiến, và“Tuyên bố Postdam” năm 1945 cũng đã xác nhận tương tự. Sau khi NB thua trận, TQ chủ trương rằng Đảo Đài Loan bao gồm cả vùng quản lý trước đây là quần đảo TS đã được trao trả về TQ, vì vậy từ đó chủ quyền của TQ về quần đảo TS nầy đã được khôi phục(3).

2. Mở rộng chiếm đóng bằng vũ lực

Nước CHNDTH cho rằng quyền cai quản quần đảo TS đã được trao trả cho TQ sau khi NB bại trận nhưng trên thực tế quân đội của Trung Hoa Dân Quốc(THDQ) là người đã đứng ra tiếp thu những hòn đảo nầy. Đảo Ba Bình (Itu Aba) là đảo lớn nhất trong quần đảo TS đã được hải quân THDQ tiếp quản từ quân đội NB, và Đài Loan vẫn  cai quản từ đó cho đến ngày nay(4). Sau khi tuyên bố độc lập, TQ không đủ lực lượng hải quân, chẳng có thể tiếp thu các quần đảo trên biển Nam TH. Muốn tiến ra các quần đảo trên biển Nam TH, TQ phải chờ cho đến khi  có một lực lượng hải quân đủ mạnh mới có thể thực hiện được.

TQ bắt đầu tiến quân ra biển Nam TH từ năm 1974 khi tiến hành chiếm đóng quần đảo HS. Sau khi quân Pháp rút lui vào giữa thập kỷ 1950, Nam Việt Nam chủ trương quần đảo HS và TS là của mình và đã chiếm đóng một phần quần đảo TS và một phần phía Tây quần đảo HS, còn TQ chỉ chiếm giữ phía Đông quần đảo HS. Tình huống nầy kéo dài gần 20 năm nhưng đến tháng 1/1974 thì Hải quân TQ đã tấn công vào quân Nam VN và chiếm đóng toàn bộ quần đảo HS (5).

Vào thời kì nầy sự thất trận của Nam Việt Nam đã trở nên rõ ràng, quân Nam VN trên quần đảo HS không đủ sức chống trả lại cuộc tấn công của quân đội TQ, hơn nữa là quân đội Mỹ cũng đã thu hẹp việc chi viện cho quân dội Nam VN vì vậy cho dù TQ có tấn công vào quần đảo HS thì khả năng can thiệp của nước Mỹ hầu như không  thể. Mặt khác TQ đang chi viện cho miền Bắc VN vì vậy miền Bắc cũng không thể phản đối việc quân đội TQ chiếm giữ quần đảo HS. Với bối cảnh quốc tế thuận lợi nói trên , TQ đã ra tay cưỡng đoạt quần đảo HS bẵng quân sự một cách dễ dàng.

Với chiến thắng (cuộc chiến chống Mỹ–ND chú) cuộc nội chiến, chính quyền Hà Nội ra tuyên bố chủ quyền của mình trên hai quần đảo HS-TS, phê phán việc TQ chiếm giữ HS, đặt quần đảo TS của chính quyền Sài gòn cũ dưới quyền kiểm soát của mình. Quan hệ giữa VN-TQ trở nên căng thẳng, chiến tranh Trung-Việt bùng nổ vì vấn đề Cămpuchia. Trong khi quan hệ hai nước dang căng thẳng, vào tháng 3/1988 một lần nữa TQ sử dụng sức mạnh quân sự tiến chiếm một số đảo VN đang trú đóng ở quần đảo TS. Quân VN đã đụng độ với quân TQ ở dãy san hô Johnson thuộc quần đảo TS mà VN đang chiếm giữ, khoảng 80 người bị phía TQ sát hại và bị thương. Với chiến thắng ở dãy san hô Johnson, TQ đã tiến chiếm thêm một số hòn đảo thuộc quần đảo TS. Đây cũng là thời điểm chính quyền Gorbachov ở LX đang xúc tiến chính sách hòa hoãn Đông-Tây theo thuyết ngoại giao mới, tích cực cải thiện quan hệ Xô-Trung. Mặt khác, LX cũng đã giảm bớt sự giúp đỡ cho VN dù vẫn giữ quân hệ đồng minh nhưng không có khả năng tích cực can thiệp vào sự xung đột Trung-Việt chung quanh vấn đề quần đảo TS. Có thể nói rằng TQ đã không có lý do gì để chần chừ trong việc sử dụng sức mạnh quân sự để tái chiếm các đảo nầy.

Bước vào thập ký 1990, TQ đã mở rộng việc lấn chiếm các đảo thuộc quần đảo TS. Ngày 25/2/1992 Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc TQ(quốc hội TQ—ND chú) quyết định “Luật lãnh hải và khu vực tiếp giáp”(gọi tắt là Luật lãnh hải), được ban bố rộng rãi theo chỉ thị của Chủ tịch Nước Dương Thượng Côn. Luật  lãnh hải nầy ghi rõ quần đảo TS là thuộc lãnh thổ của TQ, và rằng để ngăn ngừa tàu bè nước ngoài đi lại gây hại cho lãnh hải, “nước CHNDTH có quyền thực thi mọi biện pháp cần thiết”. Ra Qui định việc “truy đuổi khẩn cấp” những tàu bè nước ngoài vi phạm luật pháp của TQ, trong đó ghi rõ là TQ sẽ sẵn sàng sử dụng cả Tàu chiến lẫn máy bay để đối phó.(6)

Những qui định của Luật lãnh hải của TQ đã gây nên một sự lo lắng cho các nước ASEAN gồm các nước có yêu cầu về chủ quyền trên quần đảo TS. Việc tiến chiếm ở quần đảo trên biển Đông không chỉ nhắm vào VN mà còn có khả năng năng đối phó cả với các nước ASEAN.  Hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 25 ở Manila vào tháng 7/1992 đã ra tuyên bố ASEAN về vấn đề biển Nam TH ” nhấn mạnh đến việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông theo phương pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực, yêu cấu các nước liên quan tự kiềm chế và đề xuất việc cần xây dựng qui ước cho hành động quốc tế trên biển Đông (7).

Tiếp theo những qui định  vế luật lãnh hải của TQ, tháng 5 năm ấy VN đã kí hợp đồng cung cấp quyền thăm dò cho một công ty khai thác dầu mỏ của Mỹ trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình và cam kết sẽ bảo vệ những hoạt động của công ty nầy. Tháng 7 VN đã cho quân đổ bộ lên đảo Gaven(8).

Mối lo ngại của các nước ASEAN về việc TQ mở rộng tiến quân vào biển Đông đã trở thành hiện thực vào năm 1995. TQ đã xây dựng cơ sở kiên cố trên dãy Mischief thuộc chủ quyền của Philippines. Ngày 8/2/1995 Tổng thống Ramos họp báo xác nhận TQ  đã xây dựng nhiều dãy nhà kiên cố trên dãy Mischief và nhiều tàu chiến của TQ trú đóng chung quanh. Chính phủ Philippines đã phản đối thông qua đại sứ quán của TQ nhưng chính phủ cho rằng đó chỉ là những cơ sở tránh bão do ngư dân xây dựng theo chủ trương của chính quyền địa phương, bác bỏ kháng nghị của phía Philippines. Nhằm đối phó với những hành động nêu trên của TQ, hội nghị ngoại trưởng các nước ASEAN đã nhóm họp tại Singapore ra “tuyên bố ngoại trưởng về tình hình gần đây ở biển Nam Trung Hoa”. Trong tuyên bố nầy, các ngoại trưởng ASEAN đã bày tỏ mối “lo ngại sâu sắc” trước một loạt tình huống  gây ảnh hưởng hòa bình và an ninh trên biển Nam TH, yêu cầu nhanh chóng giải quyết vấn đề gần đây ”(9). Nhưng phía TQ không rút quân ra khỏi Mischief, cho quân đội đồn trú thường xuyên và tiếp tục chiếm cứ.

3. Đề xuất “Gác tranh cãi, cùng khai thác chung”

Kể từ thập niên 1970, TQ đã dùng sức mạnh quân sự, sử dụng như một thủ doạn để uy hiếp, để ngày càng mở rộng chi phối trên biển Đông, mặt khác đưa ra phương châm “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” như một chính sách chính thức. Theo giải thích của phía TQ chính sách “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” là phương châm để giải quyết vấn đề chủ quyền trên đảo Senkaku với Nhật Bản và đó là đề xuất của Đặng Tiểu Bình (10)

Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình sang thăm Nhật Bản vào tháng 10/1978, trong buổi hội đàm với Thủ tướng Fukuda Takeo, Ông nói rằng không cần phải gấp vội giải quyết vấn đề chủ quyền các đảo Senkaku, giao cho các thế hệ tương lai tìm ra được phương cách giải quyết. Tháng 5 năm sau (1979 Đặng Tiểu Bình lại phát biểu trong lần Nghị sĩ Suzuki Zenko sang thăm TQ rằng có thể tính đến việc  khai thác  chung nguồn tài nguyên chung quanh quần đảo Senkaku, không đụng đến vấn đề chủ quyền. Tháng 6 năm 1980, TQ chính thức đưa ra đề nghị cùng khai thác tài nguyên ở chung quanh quần dảo Senkaku thông qua con đường ngoại giao. Đây là lần đầu tiên TQ công bố lập trường muốn giải quyết việc tranh chấp lãnh thổ và quyền lợi trên biển với các nước chung quanh theo mô hình “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác”.

Năm 1986, TQ nói rằng cũng có thể áp dụng phương thức “Gác lại tranh cãi, cung nhau khai thác” trong vấn đề tranh chấp lãnh hãi ở biển Nam Trung Hoa. Phó tổng thống Raul của Philippines hội đàm với Đặng Tiểu Bình khi sang thăm TQ vào tháng 6/1986, ĐTB nói “Chúng ta phải gác lại vấn đề Nam Sa, không thể để cho vấn đề nầy cản trở quan hệ hữu nghị giữa TQ với Philippines hay các nước khác”, nhấn mạnh đến việc cần phải gác lại vấn đề chủ quyền. Tháng 4/1988 ĐTB còn nói với Tổng thống Akino lúc bà sang thăm TQ rằng “Khi nghĩ đến quan hệ hữu nghị giữa hai nước, chúng tôi thấy cần phải gác lại một thời gian vấn đề nầy để tìm con đường cùng khai thác”, chính thức đề nghị “gác lại những điểm khác nhau, cùng nhau khai thác”. Tuy nhiên cùng lúc ĐTB vẫn không quên nhấn mạnh chủ quyền của TQ đối với quần đảo TS.

Theo Bộ Ngoại Giao TQ, nội dung của chủ trương “gác lại tranh cãi, cung nhau khai thác” gồm 4 điểm như sau:

(1)Chủ quyền lãnh thổ của các khu vực liên quan là thuộc về TQ

(2)Khi chưa có đủ điều kiện để giải quyết toàn diện vấn đề tranh cãi về chủ quyền lãnh thổ, thì tạm ngưng tranh luận, gác lại vấn đề nhưng điều nầy không có nghĩa là TQ từ bỏ chủ quyền lãnh thổ.

(3)Có thể khai thác chung ở vùng có tranh chấp về chủ quyền.

(4)Mục đích của việc khai thác chung là nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau thông qua hợp tác, tạo điều kiện để giải quyết rốt ráo vấn về chủ quyền lãnh thổ.

Giải thích nầy cho thấy tiền đề lớn của phương châm “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” là thừa nhận  TQ vẫn có chủ quyền ở những quần đảo đang  tranh chấp. Nếu hiểu đúng thì phương châm “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” của TQ có nghĩa là  “chủ quyền là thuộc về TQ, không tranh cãi, cùng nhau khai thác”(Chủ quyền thuộc ngã, cách trí tranh luận, cộng đồng khai thác 主権属我、擱置争議、共同開発)(11)

Có thể nói, như vậy mục tiêu cuối cùng của “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác”nhằm tạo điều kiện để buộc các nước phải chấp nhận chủ quyền ở những đảo đang tranh chấp thông qua việc thực hiện “cùng nhau khai thác”. Chúng tôi không cho rằng mối quan tâm của TQ về thực chất là đặt nặng đến những lợi ích thực tế trong việc khai thác chung .

4.Thương thảo song phương Việt-Trung

Quan hệ Trung-Việt được bình thường hóa vào tháng 1/1991 mặc dù vào thời điểm nầy ngoài việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, còn tồn tại những mâu thuẩn về đường phân giới trên vịnh Bắc Bộ và trên đất liền. Trong bản thông cáo chung liên quan đến việc bình thường hóa quan hệ hai nước, bày tỏ ”Hai bên đông ý tiếp tục những biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và ổn định khu vực biên giới giữa hai nước, khôi phục sự qua lại hữu nghị truyền thống của nhân dân quanh vùng biên giới, thúc đẩy làm phát triển hơn nữa biến biên giới  Trung-Việt thành biên giới hòa bình và hữu nghị” đồng thời nhất trí rằng “ về vấn đề lãnh thổ tồn tại giữa hai nước, hai bên sẽ thông qua đàm phán để giải quyết một cách hòa bình”(12)

Trong bản tuyên bố chung không hề đề cập đến vấn đề cụ thể như vấn đề chủ quyền Quần đảo TS hay đường biên giới trên Vịnh Bắc Bộ, có thể cho rằng hai nước Trung-Việt đã không đạt đến một sự thỏa thuận nào cụ thể về vấn đề chủ quyền lãnh thổ-lãnh hải. Có thể nói điểm đột phá trong quan hệ Trung-Việt là chuyến đi thăm TQ của TBT Lê Khả Phiêu vào tháng 2/1999. TBT Giang Trạch Dân lúc hội đàm với TBT Lê Khả Phiêu sang thăm “hữu nghị chính thức” đã đánh giá cao ” Việc giao lưu và hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và quân sự đã phát triển không ngừng và ngày càng được củng cố”,  nói rằng ”TQ muốn xây dựng một quan hệ hợp tác toàn diện, láng giềng hữu nghị, ổn định lâu dài hướng tới tương lai”(16 chữ vàng—ND chú)

Về động thái mới của TQ trong vấn đề biển Nam TH, và những vấn đề còn tồn tại giữa hai nước “Việc giải quyết nhanh chóng vấn đề lãnh thổ và biên giới giữa hai nước là hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước. Sự phát triển sâu đậm của quan hệ hợp tác toàn diện láng giềng hữu nghị Trung-Việt và nhận thức chung của lãnh đạo hai nước sẽ tạo điều kiện tốt đẹp để hai nước giải quyết các vấn đề lịch sử  để lại. Nếu hai bên  xuất phát từ đại cuộc  theo quan điểm  chiến lược và hữu nghị để tăng tốc quá trình đàm phán trên tinh thần “hiệp thương hữu nghị, công bằng hợp lý, nhường nhịn lẫn nhau” thì có thể tin tưởng rằng chắc chắn sẽ hoàn thành sứ mệnh lịch sử to lớn và vinh quang”. TBT Lê Khả Phiêu đã đáp lại rằng hai nước sẽ xây dựng  một đường biên giới hòa bình, hữu nghị ổn định, giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước một cách nhanh chóng với sự nổ lực chung và trách nhiệm cao” (13).

Bàn thông cáo chung Trung-Việt được công bố sau cuộc hội đàm đánh giá chuyến đi thăm TQ của TBT Lê Khả Phiêu đã đóng góp quan trọng trong việc xây dựng một quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước và hai Đảng trong thế kỷ 21, tích cực đem lại hòa bình, ổn định và phát triển cho khu vực” và ghi rõ hai bên đã “nhất trí xây dựng quan hệ hợp tác toàn diện, láng giềng hữu nghị lâu dài và ổn định hướng đến tương lai trên cơ sở nhận thức chung của lãnh đạo hai Đảng và hai nước Trung –Việt”. Hơn thế nữa hai nước còn xác nhận việc giải quyết một cách hòa bình vấn đề biên giới, cho biết “sẽ kí kết hiệp ước về biên giới trên đất liền trong năm 1999 và trong năm 2000 sẽ giải quyết đường phân giới trên vịnh Bắc Bộ thể hiện quyết tâm xây dựng đường biên giới giữa hai nước thành đường biên giới hòa bình ổn định và phát triển  ”

Với sự thỏa thuận nầy của lãnh đạo hai nước, tháng 12/1999 TQ và VN đã lần lượt kí kết “Hiệp ước cắm mốc biên giới trên đất liền”, tháng 12/2000 “Hiệp định về đường phân chia ở thềm lục địa, vùng biển đặc quyền kinh tế và lãnh hải trên Vịnh Bắc Bộ” và “Hiệp định hợp tác về nghề cá trên Vịnh Bắc Bộ”. Như vậy các vấn đề cơ bản được gác lại lúc bình thường hóa quan hệ thì hai vấn đề liên quan đến chủ quyền đã được giải quyết, riêng tranh chấp về chủ quyền trên biển Đông thì chưa đạt được thỏa thuận, vẫn đang được hai nước thương thảo. Dù vậy có thể nói quan hệ hợp tác giữa hai nước phát triển rất nhanh trong những năm gần đây. Sự hợp tác trên vịnh Bắc Bộ là một thí dụ cụ thể.

Các quần đảo trên biển Đông

Hơn thế nữa, để tránh việc tàu đánh cá nhỏ vượt đường biên, đụng độ gây xung đột, hai bên còn lập ra “khu vực tranh xung đột tàu thuyền nhỏ” không dùng vũ lực bắt giam, xử phạt các tàu đánh cá cở nhỏ vi phạm. Từ tháng 1/2006 hai bên tiến hành điều tra chung về nguồn tài nguyên ngư nghiệp ngoại vi trên vịnh Bắc Bộ.

Vịnh Bắc bộ là vùng rất giàu tài nguyên ngư nghiệp, những cuộc đụng độ trên ngư trường nầy giữa ngư dân hai nước không lúc nào ngưng. Trong cuộc đàm phán về hiệp định phân chia ranh giới ở Vịnh Bắc Bộ, từ quan điểm bảo vệ lợi ích thiết thực cho ngư dân nước mình, phía TQ đòi hỏi phía VN phải cùng lúc kí kết hiệp định hợp tác về nghề cá và cuối cùng hai bên đã đạt đến việc kí kết hai hiệp ước xác định đường phân chia ranh giới trên Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác về nghề cá cùng lúc. Điểm chủ yếu của Hiệp định hợp tác về nghề cá việc đặt ra “khu đánh cá chung ngoài biên giới”. Hai nước đồng ý xác định vùng biển rộng 33,000 cây số vuông tiếp giáp vùng biển đặc quyền kinh tế (EEZ) theo qui định của Hiệp định đường ranh giới, là “khu đánh cá chung ngoài biên giới”. Khu đánh cá chung nầy có thời hiệu là 12 năm và sau thời hiệu nầy sẽ tự động gia hạn trong mỗi 3 năm. Ủy ban hỗn hợp Trung Việt về nghề cá trên Vịnh Bắc Bộ được thành lập hằng năm xác định số thuyền đánh bắt của hai bên trong vùng biển đánh cá chung. Hai nước đã có thể thực hiện việc giám sát, quản lý chung ở vùng biển thuộc lãnh hải của nhau tính từ đường ranh giới vào vùng biển nước mình. Phát xuất từ thực tế khó có thể đuổi ngư dân TQ ra khỏi vùng biển thuộc lãnh hải VN, ngoài khu đánh bắt chung nêu trên, hai nước còn đặt ra “vùng biển đệm trên đường biên giới” cho phép tàu đánh của TQ được phép khai thác trong 4 năm (**xem phụ chú).

Vấn đề hợp tác nghề cá trên vịnh Bắc Bộ giữa TQ-VN diến ra thuận lợi, việc hợp tác tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động trong khu vực nầy cũng diến ra tích cực. Vào tháng 9/2006 Hai nước Trung-Việt đã triển khai hoạt động điều tra chung lần đầu tiên về “khu đánh bắt chung”. Tại hoạt động kiểm tra chung nầy đội tàu kiểm soát của TQ và đội tàu cảnh sát biển của VN đã kết hợp thành một biên đội đi vào vùng đặc quyền kinh tế của nhau để kiểm tra hoạt động đánh bắt của tàu đánh cá nước mình. Tháng 4/2006 hải quân của hai nước cũng đã bắt đầu tuần tra chung trên biển  thuộc vịnh Bắc Bộ. Đây là hành động dựa trên đề xuất của phía VN.Hai nước đã kí kết ”Hiệp định tuần tra chung ở vịnh bắc Bộ của hải quân Trung-Việt” vào tháng 10/2005. Đây cũng là lần đầu tiên hải quân của TQ tiến hành tuần tra chung với hải quân của nước ngoài cho thấy quan hệ hữu nghị hợp tác hải quân của hai nước Trung-Việt ngày càng thắt chặt hơn. Hơn thế nữa TQ và VN bắt đầu tiến hành việc khai thác chung nguồn khí đốt thiên nhiên và dầu mỏ vắt ngang đường ranh giới giữa hai nước trên vịnh Bắc Bộ.

Bản đồ 1: Khu vực ngoài của Vịnh Bắc Bộ

Cuối năm 2005, Tổng công ty Dầu hỏa Hải dương TQ và Công ty Dầu hỏa Việt nam đã kí kết “hiệp định khung hợp tác khí đốt thiên nhiên và dầu hỏa trên Vịnh Bắc Bộ”. Việc hợp tác kinh tế giữa hai nước Trung-Việt đang phát triển theo những dự án có qui mô rộng lớn  hơn vịnh Bắc Bộ. “Một vòng đai hai hành lang” kinh tế là dự án hợp tác kinh tế có qui mô như vậy. Tháng 10/2004 Thủ tướng Ôn Gia Bảo sang thăm VN, đã hội đàm với TBT Nông Đức Mạnh. Bản tuyên bố chung Trung Việt ghi rõ rằng “Trong khuôn khổ của Ủy ban hợp tác mậu dịch và kinh tế của chính phủ hai nước,(lãnh đạo hai nước) đã đồng ý thiết lập nhóm chuyên gia để tích cực nghiên cứu  khả năng xây dựng  hai hành lang kinh tế một vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ, “Côn Minh-Lao Cai-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh” và “Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng- Quảng Ninh”(16)

Theo bản tuyên bố chung nầy hai con đường thông thương giữa Côn Minh (tỉnh Vân Nam) và Khu Dân tộc tự trị Choang ở Nam Ninh thuộc Tỉnh Quảng Tây với Quảng Ninh sẽ được nối kết là bước cụ thể hóa dự án xây dựng vòng đai kinh tế bao quanh Vịnh bắc Bộ. Một Ủy ban chỉ đạo hợp tác giữa hai nước Trung-Việt đã được thiết lập vào tháng 1/2006 để làm phát triển sâu đậm hơn nữa việc hợp tác kinh tế hai nước TQ-VN, Lần họp lần thứ nhất của Ủy ban nầy đã diến ra tại Hà Nội với sự chủ trì của Ủy viên quốc vụ viện Đường Gia của TQ và Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Gia Khiêm. Ủy ban chỉ đạo hợp tác nhắm tăng cường chỉ đạo vĩ mô của cơ chế hợp tác hiện có, thống nhất toàn thể chương trình hợp tác của các ngành, các cấp của hai nước, giải quyết các vấn đề nẩy sinh nghiêm trọng trong quá trình hợp tác và quyết định về nguyên tắc mỗi năm sẽ nhóm họp một lần. Về Ủy ban chỉ đạo hợp tác nầy, Ông Đường Gia đánh giá cao rằng “Việc lập ra Ủy ban chỉ đạo hợp tác ở cấp cao nầy là một quyết định chiến lược trong tầm nhìn xa vào tương lai của lãnh đạo hai nước, hai Đảng trong tình hình mới, làm tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác nhằm tiến tới một quan hệ hợp tác toàn diện mạnh mẽ và lâu dài, láng giềng thân thiện hữu nghị Trung Việt”(17)

Bản đồ 2: Bản đồ của Công Ty Dầu Khí Hải Dương Trung Quốc. Vào năm 2002, hai vùng dầu khí LD29-1 (nằm phía Việt Nam của đường trung tuyến) và LD20-1 (nằm vắt ngang đường trung tuyến) bắt đầu bị Trung Quốc khai thác.

Ngay sau khi phiên họp lần thứ nhất của Ủy ban chỉ đạo hợp tác kết thúc TBT Hồ Cẩm Đào đã sang thăm Việt Nam. Những phát biểu của Hồ Cẩm Đào trong chuyến viễng thăm nầy và nhìn vào bản tuyên bố chung được công bố sau đó, có thể thấy được những nét đặc trưng của chính sách đối với VN của TQ.

Trước tiên, một là TQ đã tìm thấy lợi ích khi VN “bị” Đảng Cộng Sản thống trị một cách ổn định. Trong cuộc hội đàm với Nông Đức Mạnh,  Hồ Cẩm Đào đã đánh giá cao sự lãnh đạo của đảng CSVN, phát biểu “Dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN, nhân dân VN đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới một cách toàn diện, đất nước đang trên đà phồn vinh. Đảng, chính phủ và nhân dân TQ ủng hộ chính sách đối ngoại và đối nội đã được Đại Hội 10 của Đảng CSVN xác định, mong rằng  nhân dân VN sẽ sớm xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa công nghiệp hiện đại giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Tiếp đó, Hồ Cẩm Đào còn đề nghị “hai bên sẽ tiếp tục giao lưu sâu hơn để Đảng giữ vững sự thống trị và củng cố lý luận của chủ nghĩa xã hội và thực tiển nhằm đóng góp vào việc xây dựng đất nước của mỗi bên”(18)

Trong tình hình tan rã của các nước xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, đối với TQ, VN là một trong số ít nước còn lại có cùng chế độ xã hội chủ nghĩa. Nếu VN thành công trong việc phát triển kinh tế và đảm bảo ổn định chính trị dưới sự thống trị của Đảng CS, thì đó cũng sẽ là chứng cứ hùng hồn chứng minh sự đúng đắn về sự thống trị độc quyền của Đảng CS ở TQ. Đối với VN cũng là điều tương tự, có thể nói VN và TQ đang ở trên một mối quan hệ dựa lẫn qua lại để cùng nhau “chính thống hóa”(chứng minh sự đúng đắn của—-ND chú) củng cố sự thống trị độc đảng của  đảng CSTQ cũng như đảng CSVN ở mỗi nước với những thành tích đã đạt được .

Đặc trưng thứ hai, TQ xem trọng sự phát triển quan hệ mậu dịch-kinh tế với VN. Tại cuộc hội đàm với TBT Nông Đức Mạnh, CT Hồ Cẩm Đào đã đề nghị “hai nước kiên trì nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, thực hiện phồn vinh và phát triển chung”, cho rằng “Nắm chắc kế hoạch vĩ mô, thực hiện việc mở rộng chiều sâu hiệp định hợp tác mậu dịch-kinh tế giữa hai nước, triển khai ý tưởng hợp tác xây dựng “hai hành lang một vành đai ” theo tuần tự vững chắc, nâng cao mức chuẩn của hợp tác mậu dịch-kinh tế giữa hai nước. Qua việc mở rộng qui mô và cải thiện cơ cấu mậu dịch, đạt trọng tâm vào việc nắm chắc những sản phẩm thương mại chủ yếu sẽ nâng việc hợp tác mậu dịch-kinh tế giữa hai nước vào một giai đoạn mới”. Trong bản tuyên bố chung Trung-Việt sau cuộc hội đàm nầy, hai bên đã đồng ý “mở rộng hơn nữa hợp tác mậu dịch-kinh tế, nâng cao về chất và tầm mức của hợp tác” thực hiện mục tiêu đưa kim ngạch mậu dịch song phương lên 15 tỷ đô la vào năm 2010, tăng tốc qui trình xây dựng”hai hành lang một vòng đai kinh tế”(19).

Để làm sâu hơn quan hệ hợp tác mậu dịch-kinh tế với VN, TQ sẽ cung cấp những cơ sở để xây dựng duy trì quan hệ tốt đẹp với VN đồng thời TQ còn đặt kỳ vọng việc làm nầy sẽ giúp kinh tế vốn trì trệ ở vùng Tây Nam TQ phát triển. Thí dụ Khu tự trị Quảng Tây của dân tộc Choang tiếp giáp với biên giới Việt Nam đang có kế hoạch thực hiện thông qua việc hợp tác kinh tế với VN (20). Kim ngạch mậu dịch với VN của khu tự trị dân tộc Choang đã tăng lên rõ rệt, năm 2005 đạt mức 980 triệu đô la, tương đương với ¾ kim ngạch mua bán với các nước ASEAN. Trong 7 năm liên tiếp Khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây là đối tác đứng hàng đầu trong các nước ASEAN. Từ năm 2004 “Hội chợ Quảng Tây-ASEAN” được mở ra hàng năm tại Nam Ninh thuộc khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây nhằm tăng cường quan hệ đầu tư, mậu dịch giữa TQ và ASEAN. Trục giao thông từ Nam Ninh kéo dài đến Singapore, lấy lưu vực sông Mêkong và khu vực hợp tác kinh tế bao quanh Vịnh Bắc Bộ làm hai cánh như đề án xây dựng ”Một trục hai cánh” của Bí thư Lưu Kỳ Bảo của khu tự trị nầy, biến khu vực hợp tác kinh tế vòng đai Vịnh Bắc Bộ thành cứ điểm mậu dịch cho TQ và các nước ASEAN với hi vọng khu vực nầy sẽ là vùng phát triển mới ở ven biển Tây Thái Bình Dương trong tương lai(21).

Vị trí Lào Cai trong một vành đai hai hành lang Kinh tê Việt-Trung

Và ba là trên cơ sở lợi ích chung về chính trị và kinh tế, TQ sẽ tăng cường quan hệ với VN theo tầm nhìn chiến lược. Sau Đại hội Đảng lần thứ 16 của Đảng CS TQ, TQ đã triển khai “ngoại giao với các nước chung quanh”  theo phương châm “láng giềng thân thiện, xem lân bang là đối tác “(Dự Lân Vi Thiện, Dĩ lân Vi Bàn 与隣為善、以隣為伴 ) trong đó đặt vị trí của VN rất cao.

Thủ tướng Ôn Gia Bảo trong lần sang thăm VN vào tháng 10/2004, trong cuộc hội đàm với TBT Nông Đức Mạnh, nhấn mạnh “Đảng và chính phủ TQ trước sau vẫn rất xem trọng  quan hệ với VN, đặt vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại với các nước chung quanh của TQ”(22). CT Hồ Cẩm Đào trong lần sang thăm VN vào tháng 11/2006 cũng cho rằng “Trung-Việt, hai bên đều đứng trên quan điểm chiến lược toàn cục để nắm chắc phương hướng chính xác của việc làm phát triển quan hệ ”. Bản tuyên bố chung Trung-Việt đưa ra sau đó đã xác nhận “Hai nước Trung-Việt có chung lợi ích chiến lược trên nhiều vấn đề quan trọng”, đồng ý sẽ là “Ổn định lâu dài,  láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện hướng đến tương lai để phát triển quan hệ Trung Việt, mãi mãi là láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”( “tinh thần 4 tốt”) của nhau.

Từ những đặc trưng trên, chúng ta có thể nhận định rằng TQ sẽ nổ lực làm phát triển quan hệ hợp tác toàn diện với VN trong những năm sắp đến. Với phương châm “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Nam TH đang dần lắng dịu trở lại, TQ sẽ tiếp tục mục tiêu xây dựng “đối tác chiến lược” với VN trên cơ sở tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế.

5. Bối cảnh của việc “mềm mỏng” trong đối phó của TQ

Như chúng ta đã thấy trong việc TQ chiếm đóng dãy đá ngầm Mischief, cho đến nửa thập kỷ 1990, thái độ của TQ đối với vấn đề TS rất cứng rắn, gây đe dọa rất lớn đối với các nước ASEAN. Nhưng kể từ hậu bán thập kỷ 1990 thái độ của TQ trở nên vô cùng mềm mỏng đối với vấn đề nầy như chúng ta đã thấy qua việc làm phát triển quan hệ với VN.

Sau khi chiếm đóng dãy đá ngầm Mischief vào năm 1995, TQ đã tăng cường việc xây dựng các cơ sở trên dãy đá nầy nhưng không triển khai việc chiếm cứ thêm các đảo, dãy đá khác. Mặt khác, TQ đã đáp ứng việc thương thảo đa phương với các nước ASEAN trong vấn đề TS kể từ những năm cuối thập kỷ 1990. Kể từ khi vấn đề chủ quyển trên biển Nam TH trở nên nghiêm trọng, phía ASEAN đã kêu gọi TQ thương thảo nhằm mục đích lập ra một qui chế “phạm vi hành động” trên biển Đông nhằm mục đích tránh xung đột bằng vũ lực và duy trì nguyên trạng.

Trước việc nầy, TQ đã tỏ ra khó chịu đối với việc đàm phán chính thức trong khuôn khổ đa phương về vấn đề biển Nam TH nhưng vào tháng 10/1999 phía TQ đưa ra bản dự thảo cho phía ASEAN, đề nghị “Qui tắc ứng xử” và bắt đầu bước vào đàm phán cấp thứ trưởng với các nước ASEAN (23). Cuộc đàm phán giữa TQ và ASEAN đã gặp nhiều khó khăn vì ý kiến khác nhau về phạm vi áp dụng giữa các nước liên quan, mãi đến tháng 11/2001 mới có thể đạt được sự đồng thuận. Ngoại trưởng các nước ASEAN và TQ đã kí kết vào bản “Tuyên bố về hành động của các nước liên quan đến biển Nam TH”

Bản tuyên bố nầy kêu gọi việc tranh chấp chủ quyền giữa các nước liên quan sẽ giải quyết một cách hòa bình, không đòi hỏi bằng cách dùng vũ lực hay uy hiếp bằng vũ lực, không bố trí người đến trú đóng ở những hòn đảo không có người, chủ động thông báo (cho các nước liên quan) những cuộc diễn tập quân sự và đảm bảo việc tự do đi lại trên biển (24).

Sự đồng ý nầy là một “Tuyên ngôn Hành Động”(Declaration on the Conduct) thiếu sức ép buộc như một “qui tắc hành động”(Code of Conduct) mà ASEAN yêu cầu, phía TQ cũng cho rằng tuyên ngôn nầy “không phải là một văn bản pháp lý” mà là “một văn bản chính trị”(25). Thế nhưng trong “Tuyên Ngôn Hành Động” nầy còn ghi là các nước liên quan nhất trí nổ lực tiến đên một sự thỏa thuận về “Qui tắc hành động”. Trong bản “Tuyên ngôn đối tác chiến lược hướng đến hòa bình và phồn vinh” kí kết giữa ASEAN và TQ vào tháng 10/2003, xác nhận sẽ thực hiện “Tuyên Ngôn Hành Động “ cam kết sẽ tiếp tục thương thảo về phương pháp  “theo dõi”(giám sát-follow-up) việc thực hiện bản tuyên ngôn nầy (26). Hơn nữa trong “Kế Hoạch hành động”(Action Plan) trong 5 năm theo “Đối tác chiến lược”đạt được vào tháng 11/2004, có ghi rõ là TQ và ASEAN sẽ họp định kỳ ở cấp cao để thực hiện “Tuyên Ngôn Hành Động”, nổ lực hướng đến việc thông qua “qui tắc hành động” cuối cùng. (27)

Tiếp theo  thỏa thuận “Tuyên ngôn Hành Động”, TQ đã bước sang việc khai thác cụ thể chung ở biển Nam TH. Vào ngày 1/9/2004 Công ty Dầu hỏa Hải dương TQ và công ty Dầu Hỏa quốc gia Philippines đã đồng ý thực hiện việc thăm dò điều tra dịa chấn chung. VN đã phản đối thỏa thuận này nhưng vào ngày 14/3/2005 hai công ty nầy đã mời thêm Tổng công ty dầu khí VN tham gia, đạt thỏ thuận chung giữa ba nước vể việc thăm dò địa chấn. Vùng biển thăm dò lên đến 143,000 km vuông, sử dụng sóng địa chấn trong 3 năm, lần 2 và lần 3 sẽ thu các dự liệu dưới biển để xác nhận trữ lượng Dầu mỏ và khí đốt. Chi phí của việc điều tra nầy sẽ do 3 công ty đảm trách  và cả 3 đều cùng sở hữu các dự liệu thu thập được. Sau 3 năm điều tra kết thúc các bên sẽ tiếp tục xem xét co nên tiếp tục điều tra sâu thêm nữa hay không. Việc thực hiện cuộc điều tra chung nầy được xem là không ảnh hưởng gì đến chủ trương về chủ quyền các các nước(28)

Phía TQ xem thỏa thuận nầy là bước thực tiển đầu tiên của chủ trương “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác”,đánh giá cao, xem biện pháp là bước tiến quan trọng trong việc thực hiện “Tuyên Ngôn hành Động”(29). Như vậy, lý do TQ mềm dẽo hóa đối sách trong vấn đề biển Nam TH có thể phát xuất từ nhu cầu muốn gắn kết quan hệ với các nước ASEAN. Đối với TQ, các nước ASEAN là lân bang tiếp giáp TQ, nếu quan hệ với các nước nầy không ổn định sẽ gây bất lợi cho việc duy trì tình hình quốc tế ổn định—là điều kiện không thể thiếu– để phát triển kinh tế của TQ. Mặt khác ASEAN đứng thứ 4 trong đối tác mậu dịch của TQ, là một đối tác kinh tế quan trọng có nhiều tư bản Hoa thương đầu tư vào TQ. Hơn thế nữa , ASEAN còn giữ vai trò trung tâm trong Hợp tác Đông Á (10 +3) hay Hội nghị thượng đỉnh Đông Á vì vậy việc duy trì quan hệ tốt đẹp với ASEAN rất quan trọng trong việc xây dựng một Cộng Đồng Đông Á  trong chiến lược của TQ ở tương lai. Phó viện trưởng viện nghiên cứu đối ngoại của TQ, Tần Á Thanh cho rằng “Để có thể xây dựng quan hệ hợp tác chiến lược với ASEAN, TQ phải xử lý vấn đề một cách khí khái  mang phong cách của một nước lớn, phải hiểu được và quan tâm một cách hợp lý đến lợi ích của nước đối tác, phải biết nhân nhượng nhất định trên một số vấn đề theo một tầm nhìn lâu dài”(30). Có thể nói rằng thái độ mềm mỏng của TQ trong vấn đề biển nam TH là một bước nhượng bộ để duy trì “quan hệ đối tác chiến lược” với ASEAN.

Các tuyến hàng hải từ Trung Đông sang Nhật Bản

Hai là, việc tranh thủ ra tay hòa hoãn mối quan hệ căng thẳng với các nước ASEAN về vấn đề chủ quyền trên biển Đông cũng là để ngăn chận việc Đài Loan lợi dụng vấn đề nầy hòng tiếp cận các nước Đông Nam Á. Vào thập kỷ 1990, Đài Loan đẩy mạnh các hoạt động tăng cường quan hệ với các nước ĐNÁ theo cái gọi là “Chính sách hướng Nam” [南向政策」. Nguyên tổng thống Lý Đăng Huy, hay Tổng thống Đài Loan Trần Thủy Biền (đương nhiệm) thuộc phe đòi Đài Loan độc lập bị TQ phê phán, đã nổ lực mở rộng “không gian sống chung quốc tế” của Đài Loan, thực hiện những chuyến đi thăm các nước ĐNA không chính thức. Việc Đài Loan tiến gần với các nước ĐNÁ cũng do từ nhận thức cho rằng TQ là mối đe dọa chung cho cả hai vì vậy đối với TQ việc ngăn chận ASEAN tiếp cận Đài Loan là một việc quan trọng nhằm làm giảm thiểu mối lo ngại về sự uy hiếp của TQ đang bùng lên ở các nước ĐNÁ vì vấn dề chủ quyền ở biển Nam TH.

Hơn thế nữa, Đài Loan đòi hỏi chủ quyền trên toàn quần đảo TS, đang chiếm đóng đảo Ba Bình(Đảo Thái Bình—Itu Aba) lớn nhất, và cũng là người trong cuộc trong vấn đề biển Nam TH, vì vậy việc tăng cường khuôn khổ giải quyết vấn đề(chủ quyền) riêng với ASEAN sẽ làm cho Đài Loan không còn có cơ hội để thương lượng với ASEAN về vấn đề nầy. Ông Dương Thanh thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược quốc tế của Trường Trung Ương Đảng CSTQ cho biết phát xuất từ cục diện lớn(đại cục) từ lợi ích của quốc gia—một lợi ích chủ yếu—rằng “việc giải quyết vấn đề biển Nam TH một cách thỏa đáng giữa TQ và các nước ASEAN là rất quan trọng”(31).

Hình ảnh thường thấy sau hội nghị cấp cao ASEAN

Ba là ngăn chận  các nước lớn khác, đặc biệt là Mỹ nhảy vào can thiệp vấn đề biển nam TH. Nước Mỹ vẫn giữ thái độ bàng quang đối với vấn đề chủ quyền ở biển Đông nhưng quan tâm lo lắng vấn đề nầy sẽ gây ra tình huống ngăn cản sự đi lại tự do trên biển(32). Mặt khác,sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ giữa Mỹ và các nước ASEAN về thực chất là đã khắng khít hơn vì lo ngại trước động thái mở rộng (phạm vi hoạt động) của Hải quân TQ. Nếu vấn đề ở biển nam TH trở nên nhạy cảm thì có khả năng nước Mỹ nhảy vào can thiệp vấn đề nầy với lí do là để đảm bảo sự tự do đi lại trên vùng biển nầy đồng thời có khả năng các nước ASEAN cũng sẽ tăng cường quan hệ với không quân Mỹ. “Một số nước ASEAN tương đối dành được một môi trường quốc tế thuận lợi trong vấn đề biển Đông nhờ vào sự cân bằng chiến lược giữa các nước lớn. Chủ trương của Chính sách Châu Á-Thái Bình Dương của nước Mỹ đã tạo điều kiện để cho các nước ASEAN duy trì lợi ích hiện có bằng sức mạnh của các nước ngoài khu vực”(33)

Cho nên điều quan trọng đối với TQ là xử lý vấn đề biển Nam TH một cách êm thắm, không để cho nước Mỹ lợi dụng vấn đề nầy để can thiệp. Thứ trưởng Ngoại giao Vương Nghị của TQ nói rằng “ý nghĩa của Tuyên Ngôn Hành Động ASEAN là xử lý tốt vấn đề biển Nam TH thông qua đối thoại với các nước trong khu vực, TQ đã phát ra tín hiệu rõ ràng với bên ngoài rằng có khả năng duy trì hòa bình và ổn định của vùng biển Nam TH thông qua đối thoại”(34). Có người cho rằng hợp tác giải quyết hợp lý vấn đề biển Nam TH với các nước ASEAN “sẽ ngăn ngừa được việc các nước lớn lợi dụng vấn đề biển Đông làm con cờ để “bao vây” TQ (35).

Và điểm cuối cùng là TQ cần phải bảo đảm nguồn tài nguyên năng lượng—không thể thiếu được—cho việc phát triển kinh tế liên tục từ nay về sau. Đi cùng với sự phát triển kinh tế nhảy vọt, nhu cầu về năng lượng của nền kinh tế TQ ngày càng tăng gấp bội. Về dầu hỏa, từ năm 1993 TQ đã trở thành nước thuần nhập khẩu dầu mỏ, hiện nay là đứng hàng thứ hai sau Mỹ trong số các nước tiêu thụ dầu mỏ trên thế giới.(35)

Theo ông  Xa Trường Ba, giám đốc trung tâm nghiên cứu chiến lược tài nguyên dầu mỏ-khí đốt thiên nhiên thuộc Bộ Tài Nguyên TQ, nhu cầu vè dầu mỏ năm 2010 là 380 triệu tấn và 2020 là 450 triệu tấn.(37)

Tuy nhiên đối với TQ việc xem khả năng khai thác dầu khí ở biển Nam TH như một biện pháp đảm bảo nguồn năng lượng hiện nay không mang tầm quan trọng cho lắm. Những năm gần đây TQ nổ lực thực hiện việc nhập khẩu ổn định năng lượng cũng như dành quyền khai thác dầu khí thông qua việc tăng cường hợp tác với các nước sản xuất năng lượng. Đồng thời tích cực tham gia đấu thầu quốc tế đối với các mỏ dầu có trữ lượng lớn đã qua điều tra, thăm dò. Điều nầy có nghĩa là trước mắt TQ không cảm thấy gấp vội bắt tay khai thác biển Nam TH mà chi phí khai thác có thể rất cao và chưa được điều tra toàn diện trong khi trên thế giới vẫn còn rất nhiều khu vực có thể hoạt động cung cấp ổn định năng lượng cho mình. Tất nhiên, nhìn về lâu dài, rõ ràng việc khai thác nguồn tài nguyên trên biển Nam TH mang một ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế của TQ, rất nhiều khả năng cho thấy TQ sẽ hành động để dành phần. Nếu như kết quả điều tra Trung-Việt-Phi tốt đẹp thì có khả năng TQ sẽ có chính sách đối phó mới nhằm đảm bảo quyền lợi và bước vào khai thác qui mô ở vùng biển nầy. Vì vậy,có thể nói rằng thay vì làm xấu đi quan hệ với các nước ASEAN nhằm bảo đảm tài nguyên ở vùng biển chung quanh quần đảo TS mà trước mắt không lấy gì cấp bách thì một mặt kéo các nước vào tiến hành điều tra chung để xác nhận trữ lượng tài nguyên, tránh đụng chạm với nước khác là phương sách tốt nhất đối với TQ trong tình cảnh hiện nay.

Kết

TQ là quốc gia đầu tiên thủ tướng Abe Shinzo sang thăm vào tháng 10/2006 sau khi nhiệm chức. Hai bên đã đồng ý hướng đến việc xây dựng một “quan hệ chiến lược cùng có lợi”, bắt đầu cho thấy dấu hiệu cải thiện quan hệ Nhật-Trung đã xấu đi trong thời kì của chính quyền Koizumi. Tháng 4 năm sau Thủ tướng Ôn Gia Bảo sang thăm NB,đạt được một nhận thức chung với phía NB, rằng  “hai nước sẽ cùng nhau đóng góp một cách tích cực vào ổn định, hòa bình và phát triển của Châu Á cũng như thế giới”, lập ra “Đối thoại cấp cao kinh tế Nhật-Trung” nhằm tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế, đồng thời tăng cường giao lưu quốc phòng như cho các tàu chiến sang thăm qua lại hay bộ trưởng quốc phòng viếng thăm NB…. Hơn thế nữa, TQ đã bày tỏ lòng biết ơn việc NB cho TQ vay ODA đóng góp vào phát triển kinh tế của TQ, đặt kì vọng vào việc mở rộng hơn nữa vai trò xây dựng của NB trong xã hội quốc tế, “đồng tình và thông cảm với quan tâm nhân đạo của nhân dân NB” trong vấn đề bắt cóc của Bắc Triều Tiên(***Phụ chú) và tỏ ra hết sức tích cực để cải thiện quan hệ đối với NB.(39)

Mặt khác, NB luôn luôn cảnh giác cao độ các chính sách đối với NB của TQ. Trước hết là vấn đề khai thác tài nguyên ở biển Đông TH, trong tinh huống giữa TQ và NB còn nhiều vấn đề không thể bỏ qua như lãnh thổ, chủ quyền giữa hai nước, TQ vẫn tiến hành cấp tốc việc hiện đại hóa sức mạnh quân sự trong khi xã hội quốc tế đang đòi hỏi TQ phải minh bạch mà TQ hằng che dấu. Một bộ phận của NB cũng có khuynh hướng NB nên chia sẻ một nhận thức chung với các nước ASEAN—đang có vấn đề chủ quyền trên biển Nam TH– đối với TQ. Nhưng như chúng tôi đã trình bày trong bài viết nầy, TQ đang có những thay đổi lơn trong cách đối phó và mối quan ngại về sự uy hiếp của TQ đối với các nước ĐNÁ đang lắng dịu rõ rệt.

Tháng 5/2007 trong khi sang thăm TQ, Chủ tịch nước VN Nguyễn Minh Triết đã trả lời phỏng vấn của báo giới truyền thông TQ rằng “vấn đề lãnh thổ giữa hai nước là vấn đề trong nhà”, cho biết không có vấn đề gì hai nước Việt-Trung không giải quyết được. Cho biết VN sẵn sàng làm cầu nối giữa TQ và ASEAN ra sức  thúc đẩy quan hệ giữa hai bên ngày càng phát triển(40). Nhận thức đúng đắn về  sự thay đổi của TQ trong chính sách đối với các nước ASEAN như chúng ta đã thấy qua cách ứng phó trong vấn đề biển Nam TH và những tiến triển của quan hệ ASEAN-TQ theo sau là vô cùng cần thiết trong việc vạch ra chính sách Đông Á và chính sách đối Trung của NB sắp tới.

=========================================================Phụ chú:

(*)xem thêm ”Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa –

Thử phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc” của Từ Đặng Minh Thu

Thời đại mới, số 11-  tháng 7/2007

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai11/200711_TuDangMinhThu.htm

“Chủ quyền quốc gia Việt Nam trên vùng biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa” của Đinh Kim Phúc

Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 4(75)-2009

(**) xem thêm http://www.mofa.gov.vn/vi/cs_doingoai/cs/ns04081808401148

(***) Vấn đề bắt cóc người Nhật về Bắc Triều Tiên xảy ra trong khoảng thòi gian từ năm 1977 đến 1983. Theo công bố của chính phủ NB thì đã có 12 vụ bắt cóc về Triều Tiên với 8  Nữ và 8  Nam ở NB, trong khi  phía Triều Tiên xác nhận là 13 người (6 Nam 7 Nữ).   Có nguồn tin khác cho biết con số người bị bắt cóc lên đến 70-80 người. Đây là một trong những vấn đề ngăn cản việc bình thường hóa quan hệ Nhật-Triều. Hiện nay,vấn đề “bắt cóc” này vẫn chưa được hai nước giải quyết ổn thỏa.(HLT chú)

xem thêm:

http://en.wikipedia.org/wiki/North_Korean_abductions_of_Japanese

http://www.japanesestudies.org.uk/discussionpapers/2007/Ito2.html

=========================================================

Chú thích:

(1)中越間の領土・領海問題についてベトナム側の視点から考察したものとして、庄司智孝「ベトナム・中国間の国境線画定・領土問題」 『防衛研究所紀要』第8巻第3号( 2 0 0 6 年3月) 5 3 ~ 6 7 ページが参考になる。

Vấn đề lãnh hải-lãnh thổ Trung-Việt nhìn từ Việt Nam có thể tham khảo Shoji Michitaka”Vấn đề lãnh thổ-phân định biên giới Việt-Trung” Kỷ yếu nghiên cứu quốc phòng quyển thứ 8, tập 3(3/2006) trang 53-67

(2) 以下の記述については「南海問題」 『中国外交辞典』 (世界知識出版社、 2 0 0 0 年) 2 3 8 ページ、 「中国対南沙群島擁有主権的歴史依拠」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 0 年 1 1 月 2 2 日)

những chi tiết trong bài viết lấy từ “Vấn đề Nam Sa”[Từ điển ngoại giao Trung quốc](NXB Tri Thức Thế Giới năm 2000) trang 238 “Căn cứ lịch sử chủ quyền quần đảo Nam SA của TQ”(BNGTQ home page 22.11.2000). Tham khảo

<http : //www.fmprc.

gov.cn/chn/ziliao/wzzt/2305/t10648.htm> および “Historical Evidence to Support China’s Sovereignty

over Nansha Islands,” November 17, 2000 <http: //www.fmprc.gov.cn/eng/topics/3754/t19231.htm>

(3)「中国対南沙群島擁有主権的法理依拠」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 0 年 1 1 月 2 2 日)

<http: //www.fmprc.gov.cn/chn/ziliao/wzzt/2305/t10649.htm> を参照。

(4)「南沙太平島」(台湾・行政院海巡署南部地区巡防局ホームページ)

<http: //www.cga.gov.tw/south/taiping/> を参照。

(5) Ramses Amer, “The Territorial Disputes between China and Vietnam and Regional Stability,” Con-

temporary Southeast Asia, Vol. 19, No. 1, June 1997, p. 87.

(6)「中華人民共和国領海及毘連区法」 『人民日報』 1 9 9 2 年2月 2 6 日。

(7) “ASEAN Declaration on the South China Sea,” July 22, 1992 <http: //www.aseansec.org/politics/pol_agr5.htm>.

(8)『読売新聞』1992年7月19日。この記事で中国軍が上陸した岩礁名がダラク礁となっているが、正確にはガベン礁であると思われる。

(9) “Statement by the ASEAN Foreign Ministers on the Recent Development in the South China Sea,” March 18, 1995 <http: //www.aseansec.org/politics/scs95.htm> .

( 1 0 )「擱置争議、共同開発」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 0 年 1 1 月7日)<http: //www.fmprc.gov.cn/chniliao/2159/t8958.htm> 。英語版は “Set aside dispute and pursue joint development,” November 17,2000 <http: //www.fmprc.gov.cn/eng/ziliao/3602/3604/t18023.htm> を参照。

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 1 1 )「南海問題」 『中国外交辞典』 2 3 8 ページ。

( 1 2 )「中越発表聯合公報」 『人民日報』 1 9 9 1 年 1 1 月 1 1 日。

( 1 3 )「江沢民与黎可漂挙行会談」 『人民日報』 1 9 9 9 年2月 2 6 日。

( 1 4 )「中越聯合声明」 『人民日報』 1 9 9 9 年2月 2 8 日。

( 1 5 ) 以下、トンキン湾における両国の協力に関する記述は、江淮「北部湾:中越合作之湾」 『世界知識』 2 0 0 6 年第 2 4 期、 2 7 ~ 2 9 ページによる。防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 1 6 )「中越発表聯合公報」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 4 年 1 0 月8日) <http: //www.fmprc.gov.cn/chn/wjb/zzjg/yzs/gjlb/1338/1339/t163636.htm> 。

( 1 7 )「中越双辺合作指導委員会首次会議在河内挙行」 『人民日報』 2 0 0 6 年 1 1 月 1 2 日。

( 1 8 )「胡錦濤同越共中央総書記農徳孟越南国家主席阮明哲会談」 『人民日報』 2 0 0 6 年 1 1 月 1 7 日。防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 1 9 )「中越聯合声明」 『人民日報』 2 0 0 6 年 1 1 月 1 8 日。

( 2 0 ) [1]亜平・梁思奇・蒋桂斌「北部湾:区域経済合作新接口」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 6 年6月5日、 3 8

~ 4 0 ページ。

( 2 1 ) 杜新・劉偉「 “一軸両翼”推動和諧共贏」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 6 年 1 0 月 3 0 日。

( 2 2 )「温家宝会見越共総書記農徳孟」 『人民日報』 2 0 0 4 年 1 0 月8日。

( 2 3 )「外交部発言人答記者問 東盟“南海地区行為準則”第二次磋商」 『人民日報』 2 0 0 0 年8月 3 1 日。

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 2 4 ) “Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea,” November 4, 2002 <http: //www.

aseansec.org/13165.htm>.

( 2 5 )「中国与東盟簽署南海各方行為宣言」 『人民日報』 2 0 0 2 年 1 1 月5日。

( 2 6 ) “Joint Declaration of the Heads of State/Government of the ASEAN and the PRC on Strategic Partnership for Peace and Prosperity,” October 8, 2003 <http: //www.aseansec.org/15266.htm>.

( 2 7 ) “Plan of Action to Implement the Joint Declaration on ASEAN-China Strategic Partnership for Peace and Prosperity,” December 8, 2004

<http: //www.aseansec.org/16806.htm>.

( 2 8 )「中菲越簽署南海地震聯合勘探協議」 『人民日報』 2 0 0 5 年3月 1 7 日、 「中菲越打破僵局開発南海」 『環

球時報』 2 0 0 5 年3月 1 7 日および張学剛「南海:共同開発大歩走」 『世界知識』 2 0 0 5 年第7期、 3 2 ~

3 3 ページ。

( 2 9 )「変争議之海為合作之海(短評) 」 『人民日報』 2 0 0 5 年3月 1 6 日。

( 3 0 ) 王健君・劉新宇「胡錦濤越南之旅詮釈中国周辺戦略」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 5 年第 4 5 期( 1 1 月7日)

5 3 ~ 5 4 ページ。

( 3 1 ) 楊青「正確認識和処理南海権益争端」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 6 年第3期(1月 1 6 日) 3 9 ページ。

( 3 2 ) Joshua P. Rowan, “The U.S.-Japan Security Alliance, ASEAN, and the South China Sea Dispute,” Asian Survey, Vol. 65, No. 3, May/June 2005, pp. 429-431.

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 3 3 ) 鞠海龍「南海問題能 和平解決 」 『世界知識』 2 0 0 7 年第3期、 3 0 ページ。

( 3 4 )「朱鎔基出席東盟有関会議和訪問柬埔砦取得成功」 『人民日報』 2 0 0 2 年 1 1 月5日。

( 3 5 ) 譚再文「南海共同開発的国際政治経済学」 『南洋問題研究』 2 0 0 5 年第3期、 1 3 ページ。

( 3 6 ) 十市勉「中国のエネルギー戦略と日本」 『東亜』 2 0 0 4 年7月号、 1 1 ~ 1 2 ページ。

( 3 7 )「中国、 2 0 1 0 年の石油生産量が2億トンに」 『人民網日本語版』 2 0 0 5 年 1 2 月 1 2 日。

( 3 8 ) 楊青「正確認識和処理南海権益争端」 3 9 ページ。

( 3 9 )「日中共同プレス発表」 (日本国外務省ホームページ 2 0 0 7 年4月 1 1 日)<http: //www.mofa.go.jp/mo-faj/area/china/visit/0704_kh.html>。

(40)「将越中関係推向新高度――訪越南国家主席阮明哲」『人民日報』2007年5月19日。

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

(いいだまさふみ 研究部第6研究室主任研究官)

www.nids.go.jp/dissemination/kiyo/pdf/bulletin_j10_1_4.pdf

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: