Anhbaque’s Blog

Just another WordPress.com weblog

Bài 19: Chuỗi ngọc trai: Đối mặt với khiêu khích của thế lực TQ trỗi dậy suốt vùng duyên hải châu Á

Posted by anhbahoa on November 23, 2009

Bài 19

Chuỗi ngọc trai: Đối mặt với khiêu khích của thế lực TQ trỗi dậy suốt vùng duyên hải châu Á *

String of Pearls: meeting the challenge of China’s rising Power

Christopher J. Pehrson

Tháng 7 năm 2006

Nhóm chuyển ngữ Bauvinal.info

Bản báo cáo của Trung tá Christopher J. Pehrson phản ánh cách lập luận của người có tầm nhìn ôn hòa, “nhu-cương” linh hoạt trước động thái tăng cường quân đội và mở rộng khả năng kiểm soát trên biển trên một khu vực rộng lớn từ đảo Hải Nam trên biển Đông kéo dài đến Ấn độ dương qua eo biển Malacca được gọi là “Chuỗi Ngọc Xanh” và còn có thể xa hơn khi lực lượng Hải-không quân và tên lửa của TQ phát triển trong tương lai. Tác giả đã cung cấp rất nhiều thông tin đang tham khảo cho những ai quan tâm đến âm mưu bành trướng của TQ…. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhóm chuyển ngữ Bauvinal.info

Ấn phẩm này là công việc của chính phủ Mỹ như đã chỉ dẫn trong tựa đề 17, bộ mã sách Mỹ, phần 101. Thế nên nó thuộc lĩnh vực công cộng, và dưới điều khoản của tựa đề 17, bộ mã sách Mỹ, phần 105, nó thuộc dạng phóng bản quyền.

SƠ LƯỢC VỀ TÁC GIẢ

Christopher J. Pehrson là trung tá Không lực Hoa Kỳ đương nhiệm tại bộ phận Không quân thuộc Lầu Năm Góc. Ông đã từng là chỉ huy phi đội và nắm giữ một số vị trí điều hành trong phi đội, phi hành đoàn, và ở các cấp chỉ huy quan trọng.

Ông có hơn 3.200 giờ bay, trong đó có 350 giờ bay chiến đấu, trong vai trò Sĩ quan Điện tử Chiến thuật của máy bay EF-111 và Chỉ huy Huấn luyện Phi cơ loại C-130, và đã tham gia ngẫu nhiên trong cuộc chiến ở Iraq, Afghanistan, Bosnia, và Indonesia. Đại tá Pehrson tốt nghiệp Trường Huấn luỵen Sĩ quan Phi đội, Đại học Chỉ huy Quân sự và Điều hành Tổng quát, và Đại học Quân đội.

Ông có bằng Cử nhân Khoa học của Viện Đại học Michigan, bằng Đại học Khoa học của Viện Đại học Boston, bằng Đại học Khoa học của Học viện Kỹ thuật Hàng không, và bằng Đại học Nghiên cứu về Chiến lược của Học viện Không quân.

Ông xem xét cấu trúc của lực lượng Mỹ và sắp đặt sao cho đáp ứng các thách thức của một nước TQ đang trỗi dậy trong trật tự thế giới sau chiến tranh lạnh. Cuối cùng, ông đưa ra các đề xuất nhằm vào sự hợp tác an ninh khu vực và các chương trình quân sự đối đầu với quân sự, bao gồm các đề nghị về sự hợp tác an ninh khu vực và các chương trình quân sự đối đầu với quân sự với TQ.

Báo cáo này xem xét “Chuỗi ngọc trai” như là một sự tiến triển bộ phận hàng hải trong chiến lược tổng thể quốc gia của TQ và đề xuất một chiến lược tương ứng của Mỹ trong phạm vi quan hệ Mỹ-Trung về môi trường an ninh toàn cầu. “Chuỗi ngọc trai” không chỉ là một chiến lược hải quân hay quân sự. Nó cũng không chỉ là một chiến lược khu vực. Nó là một biểu thị của tham vọng TQ nhằm đạt đến trạng thái sức mạnh to lớn hơn và đảm bảo một tương lai có quyền tự quyết, hòa bình và thịnh vượng. Đối với Mỹ, một nước TQ trỗi dậy mang đến cơ hội lớn lao, nhưng cơ hội này đầy dẫy những mối nguy tiềm tàng. Với nghệ thuật lãnh đạo táo bạo và sự khôn ngoan biết nhìn xa trông rộng, Mỹ và TQ có thể gặt hái những phần thưởng do sự hợp tác chiến lược song phương mang lại đồng thời ngăn ngừa được tai họa một cuộc đối đầu thù địch.

Quan điểm diễn giải trong báo cáo này là của tác giả và không nhất thiết phản ảnh chính sách của chính phủ hay trong vị thế của các Bộ Không quân, Quân đội, Quốc phòng hay chính phủ Mỹ. Báo cáo này nói rõ là dành cho công chúng, phân phối không giới hạn.

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn tới nhiều cá nhân đã làm phương tiện giúp đỡ cho dự án nghiên cứu này. Cố vấn chuyên ngành của tôi, Giáo sư Lawrence Grinter, cung cấp hướng dẫn cần thiết và các định hướng để giữ tôi bám sát công việc. Người tài trợ cho nghiên cứu của tôi, Thiếu tá John Anderson, Joint Staff J5, Phân khu Đông Nam Á, đã cung cấp sự hiểu biết sâu sắc giúp tập trung vào nghiên cứu này và đảm bảo sự thích hợp của nó đến an ninh quốc gia Mỹ và chính sách quốc phòng. Thêm nữa, tôi nhận ra sự giúp đỡ vô giá của Giáo sư Toshi Yoshihara và Giáo sư Xiaoming Zhang, thành viên phân khoa tại Đại học Không Quân. Là những chuyên gia đích thực về an ninh châu Á và chính sách đối ngoại của Mỹ, họ đã nâng tầm hiểu biết của tôi, thách thức sự thừa nhận của tôi và cung cấp sự phản hồi thích đáng cùng phê bình xây dựng. Sự giám thị và thêm thắt của họ là vô giá, tuy nhiên tôi chịu trách nhiệm một mình về các sai sót hoặc thiếu sót nằm trong tài liệu này.

Bình luận về báo cáo này được hoan nghênh và được chuyển cho: Giám đốc, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Đại học Quân sự, 122 Forbes Ave, Carlisle, PA 17013-5244.

*****

Toàn bộ các chuyên khảo của Viện Nghiên cứu Chiến lược (SSI) đều có trên trang chủ SSI cho việc truy cập. Bản in bìa cứng của báo cáo này cũng có thể đặt hàng tại trang chủ của chúng tôi. Trang chủ của SSI có địa chỉ là: http://www.StrategicStudiesInstitute.army.mil.

*****

Viện SSI có phát hành hàng tháng bản tin thư điện tử để cập nhật cho cộng đồng an ninh quốc gia về nghiên cứu của các nhà phân tích trực thuộc Viện, các phát hành gần đây hay sắp sửa, và các hội nghị sắp tới do Viện bảo trợ.

Mỗi bản tin cũng cung cấp bài bình luận về chiến lược do một trong các nhà phân tích của chúng tôi. Nếu bạn có quan tâm đến việc nhận bản tin này, xin vui lòng đóng góp tại trang chủ của chúng tôi ở địa chỉ:

http://www.Strategic Studies Institute.army.mil/newsletter/newsletter.cfm.

LỜI NÓI ĐẦU

Đại học Quân sự Hoa Kỳ, cũng như các đại học khác dành cho thành phần cao cấp, cung cấp một môi trường xuất sắc cho những sĩ quan trong quân đội có chọn lọc và viên chức chính phủ nhằm phản ảnh và sử dụng kinh nghiệm nghề nghiệp của mình để khám phá sâu rộng hơn những vấn đề chiến lược. Nhằm đảm bảo những nghiên cứu phát triển của những học viên này phục vụ được cho Quân đội và các nhà lãnh đạo Bộ Quốc Phòng, Viện Nghiên cứu về Chiến lược phát hành những tài liệu chọn lọc trong loạt bài “Hồ sơ Carlisle về Chiến lược An ninh” của mình.

ANTULIO J. ECHEVARRIA II

Giám đốc Nghiên cứu

Viện Nghiên cứu về Chiến lược

TÓM LƯỢC

Sự trỗi dậy của lực lượng hàng hải TQ đang chạm trán với lực lượng hàng hải Mỹ dọc theo tuyến thông thương trên biển (SLOCs) nối liền TQ với các tài nguyên năng lượng sống còn từ vùng Trung Đông và Châu Phi. Từ ngữ “Chuỗi ngọc trai” mô tả sự biểu lộ trỗi dậy ảnh hưởng địa chính trị của TQ thông qua nỗ lực gia tăng chiếm hữu các cụm cảng và phi trường, mở rộng các mối liên hệ ngoại giao đặc biệt, và hiện đại hóa lực lượng quân sự trải dài từ vùng biển Nam Trung Hoa xuyên eo biển Malacca, băng qua Ấn Độ dương, và đến vùng vịnh Ả Rập. Một câu hỏi đặt ra bởi “Chuỗi ngọc trai” là không biết liệu sự gia tăng ảnh hưởng của TQ là phù hợp với chiến lược “phát triển hòa bình” mà Bắc Kinh đã khẳng định, hoặc nếu TQ một ngày nào đó sẽ cược vào vị trí ông trùm trong khu vực. Đây là một tình huống chiến lược phức tạp có thể quyết định đường hướng tương lai mối quan hệ của TQ với Mỹ, cũng như của TQ với các nước láng giềng toàn khu vực. Mục đích của bài này là phân tích “Chuỗi ngọc trai” trong ngữ cảnh môi trường an ninh toàn cầu hậu kỳ cuộc chiến tranh lạnh và nhằm mục đích đưa ra những lời khuyên cho chính sách và chiến thuật của Mỹ. Nói một cách khác, sự cam kết nghiêng về kết quả được hỗ trợ một đội quân thực dụng vây quanh là chiến lược tốt nhất để gây ảnh hưởng và thúc đẩy TQ tham gia vào cộng đồng quốc tế như là một người giữ tiền “đặt cược” có trách nhiệm. Nghệ thuật lãnh đạo táo bạo và sự khôn ngoan biết nhìn xa trông rộng sẽ giúp Mỹ và TQ gặt hái những phần thưởng của sự hợp tác chiến lược và ngăn ngừa được tai họa một cuộc đối đầu thù địch.

Chuỗi ngọc trai:

Đối mặt với khiêu khích của thế lực TQ trỗi dậy suốt vùng duyên hải châu Á

Chúng ta giữ tầm mắt trong những ngọn sóng đại dương khổng lồ như núi vươn tận trời xanh, và chúng ta để mắt tới những vùng man di nấp sau làn sáng xanh hư ảo xa vời, trong khi bưồm của chúng ta sừng sững giương cao, ngày đêm tiếp tục hành trình như sao trời, băng qua sóng cao cuồng nộ như đang dẫm chân trên đường phố thênh thang.

]

I- TQ hướng ra biển: Ngày xưa và hiện tại

Năm 2005 đánh dấu sinh nhật lần thứ 600 kinh nghiệm đầu tiên của TQ như là một lực lượng hàng hải. Năm 1405, Hoàng đế Vĩnh Lạc(Yongle) của triều Minh gởi một “đội tàu bảo vật” gồm 62 chiếc dưới sự chỉ huy của Thái Giám Trịnh Hòa(Zheng He). Bốn chiếc trong đoàn tàu là những chiếc tàu bưồm gỗ lớn nhất từng được đóng, từ nào đến giờ, dài hơn 400 bộ và rộng 160 bộ. Trong đoàn tàu còn có loại tàu đặc biệt cho chở ngựa, tàu thiết kế để chở nước ngọt, tàu tiếp tế, chở binh sĩ, và tàu lớn quân sự để phòng ngự. Đội tàu lên đường tiến vào biển sâu với 27.800 người và hàng ngàn tấn hàng hóa TQ cho mục đích thương mại suốt cuộc hành trình. Để so sánh, 87 năm sau đó tức vào năm 1492, Columbus lên tàu đi vào chuyến du hành định mệnh với vỏn vẹn 3 tàu và 87 người. Tàu đô đốc của ông, chiếc Santa Maria, chỉ vừa đủ chuẩn đi biển với chiều dài 75 bộ. [2]

Thuyền của Trịnh Hòa (121m) so với thuyền của Columbus (26m)

Ngày nay, tiếp theo nhiều thế kỷ ngự trị của hàng hải Tây phương đã bắt đầu bằng Columbus, một nước TQ trỗi dậy đang bước đi vững chắc việc mở mang ngành hàng hải của mình vượt khỏi ngoại biên lãnh thổ. Sự vươn mình ấn tượng của TQ đặt ra những mối phức tạp về thách thức và cơ hội cho Mỹ, cả trong mặt khu vực lẫn toàn cầu.

Mối quan tâm và ảnh hưởng ngày càng tăng của TQ từ vùng biển Nam Trung Hoa qua Ấn Độ dương và tiến vào vịnh Ả Rập được mô tả như là một “Chuỗi Ngọc” tiếp cận tiềm năng đó đối với Mỹ là một sự khiêu khích mang tính khu vực rất phức tạp. Mục đích của báo cáo này là xem xét những vấn đề cơ bản liên quan đến sức mạnh hàng hải của TQ , phân tích “Chuỗi ngọc trai” trong khung cảnh chiến lược phát triển hùng hậu của TQ, và đưa ra những khuyến cáo mang tính thông tin cho các chương trình và chính sách của Hoa Kỳ nhằm đối mặt những tiềm năng thách thức đặt ra bởi “Chuỗi ngọc trai ” nầy.

Theo sau lời giới thiệu này, phần thứ nhì sẽ định nghĩa “Chuỗi ngọc trai”, giải thích động cơ đàng sau nó, và mô tả nó liên quan ra sao đến phát triển chiến lược quốc gia của TQ. Tác giả sẽ phân tích “Chuỗi ngọc trai” sâu hơn trong phần III. Trước hết ông ước định tổng chiến lược của TQ về “phát triển trong hòa bình” trong khung cảnh môi trường an ninh toàn cầu và sự can dự vào của chính sách đối ngoại của Mỹ. Phần này xem xét các thách thức an ninh khu vực mà “Chuỗi ngọc trai” có thể mang đến cho Mỹ.

Các lĩnh vực đặc biệt quan tâm bao gồm sự cạnh tranh ảnh hưởng khu vực, quan hệ của TQ với các nhà nước “đểu cáng”, và những nỗ lực hiện đại hóa ra sao của Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA), đặc biệt là không quân PLA (PLAAF) và hải quân PLA (PLAN), ảnh hưởng tới sự vận động của “Chuỗi ngọc trai”.

Tác giả xem xét lại các lĩnh vực hội tụ và phân tán với sự lưu tâm về quyền lợi quốc gia cả hai phía TQ và Mỹ và sau đó thăm dò những phản ứng có thể xảy ra phía Mỹ đối phó lại các thách thức của “Chuỗi ngọc trai”. Các dự kiến chiến lược của Mỹ gồm từ một sự hứa hẹn tiếp cận lạc quan đến một chiến lược ngăn chận bi quan như thời chiến tranh lạnh. Dựa trên những phân tích trên, phần ba đi đến kết luận với những đề xuất về một chiến lược thực dụng của Mỹ đối với TQ là chấp nhận tồn tại độc lập, cam kết hướng về kết quả với quân đội bao quanh như một biện pháp bảo đảm an toàn.

Phần IV nới rộng những đề xuất về việc thực thi chiến lược thực dụng này có lưu ý tới mặt khí tài quân sự. Tác giả đề cập đến sự thích đáng ở vị thế toàn cầu của Mỹ, bao gồm các lực lượng dưới biển và trên trời.

II- Chiến thuật nổi trội hàng hải của TQ: Chuỗi ngọc trai

Trên quy mô toàn cầu, TQ tăng cường hoạt động bảo vệ an ninh năng lượng qua những phương cách mà nó báo trước là sẽ trực tiếp cạnh tranh về tài nguyên năng lượng với Mỹ. Điều này tạo ra khả năng xung đột giữa hai quốc gia.

Ủy ban Mỹ-Trung, Báo cáo Quốc hội năm 2005 [3]

Chuỗi ngọc trai là gì ?

Mỗi “viên ngọc trai” trong “Chuỗi ngọc trai” là một mối liên hệ đến ảnh hưởng địa chính trị hay hiện diện quân sự của TQ.[4] Đảo Hải Nam, vừa mới nâng cấp các cơ sở quân sự, là một “viên ngọc trai”. Việc nâng cấp phi đạo trên đảo Phú Lâm (Woody) nằm ở vùng quần đảo Hoàng Sa(Paracel) 300 hải lý phía đông Việt Nam, là một “viên ngọc trai”. Một cơ sở làm công-ten-nơ cho tàu thủy tại Chittagong, Bangladesh, là một “viên ngọc trai”. Xây dựng một cảng nước sâu tại Sittwe, Myanmar, là một “viên ngọc trai”, và cũng như thế với việc xây dựng một căn cứ hải quân tại Gwadar, Pakistan.[5]

Các dự án xây dựng cảng và phi trường, những cam kết ngoại giao, và đẩy mạnh hiện đại hóa tạo nên thực chất “Chuỗi Ngọc Trai” của TQ. Các “hạt ngọc trai” nối nhau từ bờ biển lục địa TQ qua các vùng duyên hải biển Nam Trung Hoa, eo biển Malacca, băng ngang Ấn Độ dương, và đi vào vùng duyên hải biển Ả Rập và vịnh Péc-xích. TQ xây dựng các mối quan hệ chiến lược và mở mang khả năng tạo lập sự hiện diện sớm của mình dọc theo hải lộ liên lạc (SLOCs) nối TQ với vùng Trung Đông

Bản chất của những Viên Ngọc Trai.

Việc phát triển những “viên ngọc trai” mang tính địa chính trị chiến lược này không gặp một sự đối đầu nào, do không có chứng cứ về tham vọng đế quốc hay thực dân mới. Việc phát triển “Chuỗi Ngọc Trai” có thể, thực tế mà nói, không rõ ràng là một chiến lược được chính quyền trung ương TQ chỉ đạo.

Nhận thức của Washington về thực tế chiến lược của TQ là một quan điểm có thể không được Bắc Kinh chia sẻ, nhưng một thực tế tồn tại là những lợi ích về kinh tế và ngôn từ chính trị hoa mỹ đã cám dỗ nhiều nước tỏ ra dễ dãi với những tham vọng chiến lược của TQ.

Phương tiện cảng tại Gwadar chẳng hạn, là một triển vọng “hai bên cùng thắng”(cùng có lợi) cho cả TQ lẫn Pakistan. Cảng tại Karachi hiện đang nắm giữ 90% thương mại đường biển của Pakistan, nhưng vì nó nằm kề cận Ấn Độ nên cực kỳ yếu ớt đối với việc cấm vận. Điều này đã xảy ra trong cuộc chiến Ấn Độ-Pakistan năm 1971 và lại bị đe dọa lần nữa trong cuộc xung đột Kargil năm 1999.[6]

Gwadar nằm 450 dặm phía tây Karachi là một làng đánh cá nhỏ mà Pakistan đã xác định là một vị trí cảng có tiềm năng vào năm 1964 nhưng thiếu phương tiện để xây dựng.[7]

Một cảng hiện đại tại Gwadar sẽ nâng tầm năng lực chiến lược của Pakistan dọc theo bờ biển so với Ấn Độ. Về phía TQ, giá trị chiến lược của Gwandar là khoảng cách 240 dặm từ eo biển Hormuz. TQ cung ứng phương tiện để mở mang Gwandar và lót đường cho quyền tiếp cận trong tương lai qua việc tài trợ phần lớn dự án 1,2 tỉ đô la và cung ứng chuyên viên kỹ thuật gồm hàng trăm kỹ sư. [8]

Từ khi việc xây dựng bắt đầu năm 2002, TQ đã đầu tư gấp 4 lần so Pakistan và đóng góp một khoảng phụ trợ 200 triệu đô la cho việc xây dựng một đường cao tốc nối liền Gwandar với Karachi. Trong tháng 8-2005, Thủ tướng TQ Ôn Gia Bảo(Wen Jiabao) đã thăm viếng Pakistan để dự lễ kỷ niệm hoàn thành giai đoạn một của dự án Gwadar và lễ khai trương của 3 bến tàu đầu tiên trong số 12 bến tàu đa tải trọng.[9]

Dự án Gwandar đã nâng tầm cam kết về chiến lược, ngoại giao và kinh tế giữa Pakistan và TQ. Những nước khác cũng được hưởng lợi từ chiến lược mới của TQ. Vào tháng 11-2003, TQ ký một hiệp ước với Căm pu chia về việc cung cấp khí tài quân sự và huấn luyện đổi lại quyền chọn cách thức xây dựng tuyến đường sắt từ miền Nam TQ đến Vịnh Thái Lan [10]

TQ cũng đưa ra một dự án đầy tham vọng 20 tỉ đô la xây dựng một con kênh băng ngang vùng Kra Isthmus của Thái Lan giúp tàu bè đi tắt qua điểm thắt nút tại eo biển Malacca.[11]

Mặc dù kế hoạch này bị xếp lại do vị trí lãnh đạo tại Thái Lan hay bị lung lay và chống đối chính trị ở Indonesia, Malaysia và Singapore, nó đã hé lộ ra phạm vi và qui mô tham vọng của TQ thúc đẩy phía sau Chuỗi các viên ngọc trai.

Phát triển của TQ từ bành trướng nền kinh tế và gia tăng ảnh hưởng toàn cầu cho đến sự lớn mạnh quân sự nhất thiết phải đòi hỏi về năng lượng, đưa ra những thách thức hết sức lớn lao cho cấp lãnh đạo TQ trong việc điều động khối khổng lồ lộn xộn về cấu trúc, kỹ thuật và thay đổi xã hội. Các nhà lãnh đạo sáng suốt của TQ có ba mối lo nặng trĩu: sự sống còn của chế độ, tính toàn vẹn lãnh thổ, và ổn định trong nước. [12]

Sự sống còn của chế độ là mối quan tâm hàng đầu của Đảng Cộng sản TQ (CCP), và giới lãnh đạo đảng hiểu rất rõ là thành công của họ xoay quanh sự hài lòng của dân chúng và khả năng của nhà nước trong việc bảo vệ các quyền lợi quốc gia. Sự sụp đổ của khối Xô Viết và chấm dứt chiến tranh lạnh đã phơi bày chủ nghĩa cộng sản ra như một sự khánh kiệt ý thức hệ với một hệ thống kinh tế rạn nứt.

Trong cương vị một nước cộng sản chủ chốt còn sót lại, giới lãnh đạo TQ đã tìm phương cách tránh lâm vào số phận của khối Xô Viết và các chế độ cộng sản Đông Âu khác qua việc quay lưng lại với truyền thống ý thức hệ chủ nghĩa Mác – chủ nghĩa Lê Nin – chủ nghĩa Mao và chấp nhận một “nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”, một cách nói trại ra để che đậy mỏng manh cho chủ nghĩa Tư bản kiểu TQ.[13]

CCP đã duy trì quyền kiểm soát độc đoán giữa một rừng thay đổi về đổi mới kinh tế xã hội, và chừng khi nào các đổi mới chưa bị lệch đường, nền kinh tế còn tiếp tục phát đạt, và sự trỗi dậy chủ nghĩa quốc gia còn nằm trong tầm kiểm soát, thì những kỳ vọng về tồn tại của chế độ sẽ không bị hăm dọa.

Từ cuối cuộc chiến tranh lạnh, TQ đã có nhiều tiến bộ liên quan đến sự toàn vẹn lãnh thổ. Mặc dù việc thống nhất Đài Loan dai dẵng là một vấn đề tranh cải và các tranh chấp lãnh thổ vẫn còn, những việc như chấm dứt khiếu nại với Nhật Bản về chủ quyền quần đảo Diaoyutai (Senkaku) đã giúp TQ ổn định và giải giới vũ khí thành công biên giới lãnh thổ Bắc và Trung Á.[14]

TQ trở nên nhiều ảnh hưởng hơn ở Trung Á dưới sự bảo hộ của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), mà các nước thành viên gồm TQ, Nga, Kazakhstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, và Tajikistan cùng một số nước thành viên quan sát là Ấn Độ, Pakistan, Iran và Mông Cổ.[15]

Trên vùng biên giới Tây Nam, một tranh chấp lãnh thổ lâu đời với Ấn Độ trên phần đất TQ kiểm soát của Kashmir và đông bắc Ấn Độ đang cho thấy dấu hiệu chậm chạp nhưng thực ra có tiến bộ.

Trong thời gian Thủ tướng Vajpayee sang thăm TQ năm 2003, Ấn Độ lần đầu tiên thừa nhận các khiếu nại của TQ về Tây Tạng và TQ đáp lại bằng cách công nhận khiếu nại của Ấn Độ đối với vùng Sikkim của tiểu bang Himalaya.[16]

Ngay cả với sự thừa nhận Đài Loan, chính sách của TQ cố gắng giữ thăng bằng “cây gậy” áp lực ngoại giao và quân sự với “củ cà rốt” ràng buộc lợi ích kinh tế hỗ tương giữa hai bờ eo biển.[17]

Các nhu cầu gia tăng phát triển kinh tế là động lực thúc đẩy phía sau sự cải tiến các quan hệ với láng giềng. Thành công trong phát triển kinh tế được nhận thức như là chìa khóa cho sự ổn định trong nước, lĩnh vực thứ ba trong mối quan tâm chiến lược tại TQ. Chính quyền trung ương tập trung hướng nội, và căn bản chính trị nội địa thúc đẩy các chính sách kinh tế và đối ngoại. Những thay đổi đến hệ thống kinh tế và quyết định đi theo đường lối toàn cầu hóa tạo ra những chuyển dịch chủ yếu trong xã hội TQ.

Sự khác biệt giữa bùng nổ (về kinh tế) ở vùng duyên hải và phát triển chậm chạp ở vùng nội địa, tác động của cuộc cách mạng thông tin, tham nhũng tràn lan, và sự nảy ra khác biệt giai cấp do phân tầng nền kinh tế chỉ là một vài thí dụ về lực phá vỡ đang tác động đến cơ cấu xã hội tại TQ. Các thay đổi này va chạm với bản chất sâu sắc của chủ nghĩa cộng sản và hệ thống chính trị độc đoán được các nhà lãnh đạo và các nhóm đặc lợi tại TQ ưa chuộng

Nhiều cuộc biểu tình do bất mãn xã hội gần đây bao gồm biểu hiện chống đối chính phủ của nông dân, phản đối của công nhân chờ việc, và các nhóm hoạt động tôn giáo như Xa Luân Công.[19]

Mặc dù sự trấn áp không căng thẳng như vụ trấn áp thẳng tay xảy ra tại Quảng trường Thiên An Môn vào tháng 6-1989, chính quyền TQ lưu tâm đến sự bất đồng quan điểm và đã chuẩn bị phản ứng lại bất bình xã hội bằng cách sử dụng sức mạnh cụ thể để ép buộc và thuyết phục.

Ưu tiên và băn khoăn của chế độ thừa hưởng từ cuộc Cách mạng Văn hóa và những thời kỳ xã hội lộn xộn khác là làm sao duy trì ổn định trong nước bằng cách nuôi dưỡng nền kinh tế đạt mức thịnh vượng nhằm thỏa mãn các đòi hỏi và kỳ vọng của người dân.[20]

Những mối quan tâm lớn nhất của TQ -sống còn của chế độ, toàn vẹn lãnh thổ, và ổn định trong nước- không chối cãi được là liên quan đến mặt kinh tế. Kinh tế là sức mạnh lớn nhất và cũng là điểm yếu nhất của TQ, và do đó nó là trục giao điểm của chính sách và chiến lược của TQ. Để giữ vững phát triển kinh tế, TQ phải lệ thuộc ngày càng tăng nguồn năng lượng và nguyên liệu từ nước ngoài. SLOCs (viết tắt của cụm từ Sea Lane of Communications—Tuyến thông thương trên biển) có vai trò cực kỳ quan trọng vì hầu hết ngoại thương của TQ là qua đường biển, và TQ chỉ có chút ít thành công trong việc mở mang đáng tin cậy đường ống dẫn dầu và khí từ Nga hoặc Trung Á. Do lấy năng lượng làm nền tảng cho nền kinh tế, chính sách kinh tế của TQ tùy thuộc vào sự thành công của chính sách năng lượng.[21]

Đảm bảo SLOCs cho năng lượng và nguyên liệu sẽ hỗ trợ chính sách năng lượng TQ và là động lực chủ yếu đàng sau “Chuỗi ngọc trai”. Điều này cho thấy bằng cách nào và tại sao “Chuỗi ngọc trai” gắn liền với đại chiến lược quốc gia của TQ

Truy tìm năng lượng.

Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Hong Kong, và Singapore được gán là “Những con hổ châu Á” do họ đã giữ vững tốc độ nhanh chóng trong phát triển kinh tế và công nghiệp hóa từ thập kỷ 60 đến thập kỷ 90. TQ trỗi dậy trong thế kỷ 21, sự trỗi dậy của “Con Rồng châu Á”, có tiềm năng bỏ xa sự phát triển của “Những con hổ châu Á”. Từ khi bắt đầu đổi mới nền kinh tế dưới thời Đặng Tiểu Bình, TQ đã có mức tăng trưởng gộp bình quân năm sản phẩm quốc nội (GDP) là 9,4%. Từ 1978, ngoại thương đã phát triển từ chưa đầy một phần trăm so nền kinh tế thế giới, tức 20,6 tỉ đô la, lên đến hơn 4%, tức 851 tỉ đô la trong năm 2005.[22]

Chỉ số GDP của TQ lớn hàng thứ ba trên thế giới, cỡ khoảng 1 phần 7 của Mỹ, nhưng vì dân số của TQ đã lên đến 1,3 tỉ người, nếu tính trên căn bản đồng vốn trên đầu người, thì TQ thuộc cỡ hạng thứ 100 trên thế giới và được xem như một quốc gia đang phát triển có thu nhập thấp.[23] Nhiều nhà kinh tế tin rằng với khả năng còn tiềm ẩn là sự trỗi dậy nhanh chóng của tầng lớp trung lưu, TQ có tiềm năng tiếp tục phát triển ấn tượng trong nhiều năm tới nữa.[24] Sự phát triển của TQ không ngừng đòi hỏi gia tăng về năng lượng nhiên liệu. Yêu cầu năng lượng chủ yếu của TQ, 70%, hiện đang đáp ứng bằng than đá – TQ hiện đang là nhà sản xuất và người tiêu thụ than lớn nhất trên thế giới.[25] Hai mươi lăm phần trăm nhờ vào dầu mỏ, ba phần trăm do khí thiên nhiên và số còn lại 2% do các nguồn năng lượng khác, gồm cả nguyên tử lực và thủy điện.[26]

Mặc dù than đá vẫn giữ thế trội, tiêu thụ dầu mỏ vẫn được mong đợi phát triển ở mức bình quân năm là 5,8% trong 10 năm tới.[27] Năm 1985, TQ là nhà xuất khẩu dầu lửa lớn nhất vùng Đông Á;[28] năm 1993, TQ trở thành nước nhập khẩu dầu thô; và trong năm 2004, TQ nhảy vọt qua mặt Nhật Bản để trở thành nước nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ nhì trên thế giới.[29] Khoảng 40% nhu cầu mới về dầu mỏ trên thế giới có thể quy cho sự đòi hỏi tăng cao về năng lượng của TQ.[30] Đảm bảo có được tài nguyên dầu mỏ ở nước ngoài sẽ là cần thiết vừa cho việc tiếp tục phát triển kinh tế và, vì phát triển là viên đá nền cho ổn định nội địa tại TQ, vừa cho sự sống còn của chế độ Cộng sản TQ.[31]

Đảm bảo các tuyến giao thông trên biển.

Chiến lược địa chính trị được phong cho là “Chuỗi ngọc trai” trỗi dậy khi nguồn dầu mỏ từ nước ngoài trở thành trọng tâm quyết định cho nhu cầu năng lượng của TQ. Các nỗ lực tranh đoạt năng lượng của TQ bành trướng toàn cầu xuyên qua Trung Đông, Trung Á, Châu Phi, và Châu Mỹ.[32]

Bảng 1 liệt kê nguồn dầu thô nhập vào TQ theo khu vực và quốc gia. Lưu ý rằng hơn 70% lượng dầu nhập khẩu của TQ đến từ Trung Đông và Châu Phi, toàn bộ số này đều được vận chuyển bằng đường biển.

Mặc dù TQ tìm kiếm các tuyến cung cấp đảm bảo hơn và giảm thiểu sự lệ thuộc vào một số giới hạn nhà cung cấp năng lượng, song vận tải biển từ Trung Đông và Châu Phi vẫn còn là cách chủ yếu để nhập khẩu dầu mỏ trong tương lai dự đoán được. TQ đã biểu lộ một sự ủy thác dài hạn đếm các nguồn cung cấp này qua bằng chứng là các mối giao hảo với các nhà xuất khẩu dầu Trung Đông và Châu Phi. Ả Rập Saudi là nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho TQ, và công ty dầu mỏ quốc gia Saudi, Aramco, là người đầu tư 25% cổ phần trong khu phức hợp lọc hóa dầu lớn nhất TQ.[33]

TQ vừa mới ký một thỏa thuận hợp tác dầu và khí thiên nhiên kéo dài 25 năm với Iran, một thỏa thuận lớn chưa từng thấy, trị giá trên 70 tỉ đô la.[34]

Ở Châu Phi, TQ đã đầu tư 3 tỉ đô la để mở mang các mỏ dầu chưa khai thác hết mức ở Sudan, bao gồm 930 dặm đường ống, một xưởng lọc dầu và một cảng biển.[35]

Hiện thời, cung cấp năng lượng qua đường vận tải biển là phương cách có thể thực hiện tốt nhất của TQ. Họ có các dự án năng lượng ở vùng Trung Á, thí dụ như một thỏa thuận phát triển các vùng mỏ dầu và khí ở Kazakhstan và các hợp đồng xây dựng đường ống ở Kyrgyzstan và Turkmenistan, và còn một số hệ thống khác nữa, nhưng các dự án đều chứng tỏ chi phí cao, hậu cần khó khăn và rất phức tạp do thiếu cơ sở hạ tầng ở miền tây TQ.[37]

Trung Á cũng bị khó khăn do mất ổn định khu vực càng thêm vào bất trắc cho tương lai phát triển và mức độ tin cậy trong giao kết dài hạn. Tập đoàn Dầu hỏa Quốc gia TQ (CNPC) đã thương thảo một hợp đồng mua bán với nhà khổng lồ dầu mỏ người Nga, Yukos, trong năm 2003, nhưng sự hợp tác đổ vỡ khi chính phủ Nga đầu tiên là lột trần Yukos và sau đó chấp nhận mức bỏ thầu cao hơn của Nhật Bản cho dự án này.[38] Trong một tương lai có thể đoán trước được, TQ sẽ lệ thuộc nặng nề vào đường hàng hải quốc tế, đi qua eo biển Malacca và các điểm tắc nghẽn khác, để nhập dầu mỏ từ Trung Đông và Châu Phi.

Ni Lexiong, một giáo sư nghiên cứu về chính trị tại Đại học Phổ thông Thượng Hải và là giám đốc của Viện nghiên cứu về Văn hóa Chiến tranh và Chính trị Quốc tế, là người đề xướng mạnh mẽ việc phát triển sức mạnh trên biển để bảo vệ SLOCs cho TQ. Mặc dù không phải là một phát ngôn viên chính thức của CCP hay PLA, ông viết những vấn đề về chiến lược, quốc phòng và đề xuất TQ cần gia tăng mạnh mẽ ngân sách cho hải quân, coi ý niệm về sự hợp tác quốc tế một cách tin cậy có thể giữ SLOCs luôn được mở là một loại “tiểu thuyết lãng mạn” cần khuyến mãi, và rằng TQ không nên e sợ việc kích động một phản ứng mạnh mẽ từ phía Mỹ đối với việc TQ xây dựng căn cứ hải quân.[39]

Bảng 1. Nhập khẩu dầu mỏ của TQ phân theo nước sản xuất

Các nhà chiến lược TQ như Ni Lexiong nghĩ rằng việc chiếm hữu đường biển là một điều kiện không thể thiếu được và là yếu tố quyết định cho sự trỗi dậy của TQ. Tính mong manh của SLOCs được nhận thấy như là một mối nguy địa chính trị vì các phương tiện chống đỡ hiện thời của TQ cho tuyến biển này là cực kỳ hạn chế, như điểm cổ chai tại eo biển Malacca cho thấy rõ nhất. SLOCs nối liền TQ với Châu Phi và Trung Đông đi ngang qua eo biển Malacca, một hành lang hẹp được các nước Singapore, Malaysia và Indonesia liên kết điều hành việc thông thương. Có đến 95% dầu sử dụng ở TQ được vận tải bằng đường biển, và 80% trong số đó phải đi ngang qua eo biển trên.[40]

Tàu bè qua lại eo biển trên cực kỳ đông đúc, và nơi đó là thiên đường cho hải tặc và khủng bố. Theo báo cáo thường niên về hải tặc của Cục Hàng hải Quốc tế, 37 tai nạn đã xảy ra ở eo biển Malacca trong năm 2004, rất nhiều trong số đó “dính líu đến thủy thủ đoàn bị bắt cóc đòi tiền chuộc” hoặc “bị tấn công bởi súng máy và súng phóng lựu”.[41] Malacca nằm trong “tuyến vận tải dầu mỏ huyết mạch trên biển” của TQ, nhưng nó lại ngoài tầm với của Hải quân TQ.[42] Vấn đề eo biển Malacca là một ví dụ chủ yếu cho lý do TQ theo đuổi chiến lược “Chuỗi Ngọc Trai”.

III- PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC

Sự lệ thuộc vào các nguồn cung cấp tài nguyên và năng lượng từ nước ngoài, đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên, đóng một vai trò quan trọng hình thành nên chính sách và chiến lược của TQ. Những mối quan tâm đó là yếu tố rất lớn trong sự giao hảo giữa Bắc Kinh với Angola, Trung Á, Indonesia, Trung Đông (kể cả Iran), Nga, Sudan, và Venezuela – nhằm theo đuổi các hợp đồng cung cấp dài hạn – cũng như sự giao hảo với các nước nằm ngang qua các vị trí cổ chai then chốt về địa chiến lược – nhằm đảm bảo lối thông thương. Bắc Kinh tin rằng họ cần phải có những mối giao hảo đặc biệt như trên mới đảm bảo được sự tiếp cận năng lượng từ đó có thể hình thành chiến lược quốc phòng và hoạch định sức mạnh trong tương lai. Biểu thị cho chuyển đổi như trên có thể bao gồm gia tăng đầu tư vào các đoàn tàu có khả năng viễn dương và, về tiềm năng mà nói, có nhiều hoạt động quân sự ở nước ngoài hơn.

Quân lực Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Bộ Quốc phòng, Báo cáo thường niên cho Quốc hội, 2005[43]

Phạm vi Chiến lược.

Với sự hiểu biết thế nào là “Chuỗi Ngọc Trai”, bằng cách nào và tại sao nó là một biểu thị cho sự phát triển của TQ, bây giờ chúng ta quay lại một phân tích nhiều tầng về những quan hệ mật thiết và tác động trở lại của “Chuỗi Ngọc Trai”. Phân tích này đầu tiên sẽ xem xét đại chiến lược của TQ về “phát triển một cách hòa bình” trong phạm vi môi trường an ninh toàn cầu và các mối quan hệ mật thiết của nó tới chính sách đối ngoại của Mỹ.

An ninh được đảm bảo nhờ tính ưu việt của Mỹ ở châu Á đã cho phép Mỹ đáp ứng một lợi ích chung cho khu vực qua việc tạo điều kiện tự do qua lại vùng biển khơi. Câu hỏi tiềm ẩn trong “Chuỗi ngọc trai” là một nước TQ trỗi dậy có còn tiếp tục nhường lại đảm bảo an ninh cho Mỹ hoặc nếu TQ một ngày nào đó sẽ đặt cược đòi quyền ưu việt trong khu vực. Những nỗ lực của TQ trong việc phát triển “Chuỗi ngọc trai” không chỉ hổ trợ “phát triển một cách hòa bình”, mà cũng hổ trợ một cuộc bao vây chiến lược khi cần thiết.

Qua việc liên tục đánh giá các phát triển địa chính trị khu vực cũng như đặc thù các khiêu khích quân sự, Mỹ cần phải luôn cảnh giác trước những dấu hiệu và cảnh báo nào để lộ ra hướng đi tương lai của chính sách và chiến lược của TQ. Chương này cũng đánh giá các khu vực có hội tụ hoặc phân tán các quyền lợi quốc gia nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ phức tạp của Mỹ-Trung và các yếu tố khác nhau có ảnh hưởng đến chính sách của cả hai quốc gia. Tiếp đó, bài phân tích sẽ vạch ra những dự kiến về chính sách của Mỹ trong việc phản ứng lại “Chuỗi Ngọc Trai” trước khi quay lại những khuyến cáo vĩ mô về quân sự cho Mỹ ở chương cuối cùng.

“Phát triển trong hòa bình” của TQ

Mỹ có thể đưa ra công thức phản ứng thích đáng đối với các khía cạnh địa chính trị và quân sự của “Chuỗi Ngọc Trai” TQ một khi thông hiểu được đại chiến lược của TQ trong phạm vi môi trường an ninh toàn cầu. TQ gia tăng sức mạnh về kinh tế, ngoại giao và quân sự đã thu hút sự chú ý những năm gần đây và ai cũng thắc mắc, “Thế giới, đặc biệt là Mỹ, sẽ phản ứng ra sao trước sức mạnh to lớn đang trỗi dậy này ?”.

Chính phủ TQ đã xác định 3 giai đoạn kế hoạch phát triển trong tầm 50 năm . Trong giai đoạn thứ nhất, từ 2000 đến 2010, TQ hy vọng gấp đôi GDP. TQ đang trên đường đạt đến mục tiêu này. Trong giai đoạn thứ nhì, kết thúc vào năm 2020, tổng GDP tăng gấp đôi một lần nữa sao cho GDP trên cơ sở vốn trên đầu người đạt khoảng 3.000 đô la. Trong giai đoạn cuối, từ 2020 đến 2050, TQ mong được đứng vào nấc thang giữa của những quốc gia tiên tiến như là một nước thịnh vượng, dân chủ và chủ nghĩa xã hội hiện đại.[44] Lúc đó TQ sẽ tuyên bố thành công trong việc hoàn thành chiến lược “phát triển trong hòa bình”.

Theo Avery Goldstein, “phát triển trong hòa bình” là một chiến lược của TQ bắt đầu vào giữa thập kỷ 90 nhằm giúp nền kinh tế phát triển và hiện đại hóa, trong lúc làm giảm nhẹ nguy cơ các nước khác có thể nhận thức TQ là một mối hiểm họa.[45] Ông đưa ra bốn yếu tố để giải thích cách tiếp cận của TQ. Đầu tiên là sự nhận thức của các nhà hoạch định chính sách TQ rằng một thế giới đa cực sẽ không xuất hiện vào thời kỳ cuối của cuộc chiến tranh lạnh. Bắc Kinh cho rằng Mỹ sẽ duy trì thế vượt trội như là bá chủ toàn cầu trong một thế giới đơn cực, và như thế, TQ buộc phải vận hành trong một môi trường mà Mỹ có thể hủy hoại các tham vọng của mình.[46] Yếu tố thứ nhì là sự công nhận TQ yếu kém liên quan so với các quốc gia hàng đầu trên thế giới. Bất chấp nền kinh tế phát triển nhanh chóng của TQ và các khả năng quân sự, vẫn còn tụt hậu rất xa đàng sau khả năng công nghiệp, hiện đại hóa, và kỹ thuật. Sự yếu kém này đặc biệt chua xót khi TQ chứng kiến lính Mỹ làm bá chủ trong chiến dịch Bão táp Sa mạc và ở Kosovo, soi sáng cho PLA thấy khả năng quân sự kém cỏi của mình ra sao so với Mỹ và các nước đồng minh.[47]

Thứ ba là sự nóng lòng về phản ứng đối nghịch của quốc tế trước việc một nước TQ trỗi dậy và khả năng Mỹ chấp nhận một chính sách ngăn chặn kiểu Chiến tranh Lạnh đối với TQ.[48]

Và thứ tư, căng thẳng tiếp diễn trước việc Đài Loan làm rõ với Bắc Kinh về việc Đài Loan ủy thác an ninh của mình cho Mỹ, và rất có khả năng xảy ra việc Mỹ can thiệp nếu như TQ sử dụng vũ lực để áp đặt tuyên bố chủ quyền trên hòn đảo này. Trong sự kiện xảy ra chiến tranh với Đài Loan, TQ sẽ phải đối đầu với Mỹ , một địch thủ có đẵng cấp quân sự vượt trội và gặp phải một sự lên án trên khắp thế giới.[49]

Bốn yếu tố trên có quan hệ mật thiết sâu rộng với cuộc cách mạng trong chính sách đối ngoại và quân sự của TQ. Là một quốc gia tương đối yếu kém, nhưng cũng là một nước đang lớn mạnh và có khát vọng toàn cầu, chính sách đối ngoại hiện nay của TQ đã được phác họa để nâng tầm danh tiếng của PRC như một nhân vật chịu trách nhiệm và hợp tác trên các vấn đề quốc tế. TQ tìm phương cách vỗ về các nước láng giềng rằng sức mạnh của mình có kiềm chế và không mang tính đe dọa. Phản ứng của Bắc Kinh đối với cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á vào cuối thập kỷ 90 là mách nước, xem như là một ví dụ cho nỗ lực này, cũng như sự theo đuổi chủ nghĩa đa phương của TQ qua việc tham gia Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và vị thế lãnh đạo của mình trong SCO và Hội nghị Thượng đỉnh các nước Đông Á.[50]

Một khía cạnh khác của chính sách đối ngoại TQ là đã phối hợp nỗ lực để cải thiện các quan hệ song phương với các cường quốc trên thế giới nhằm giảm thiểu nguy cơ các nước liên kết nhau trong một mặt trận thống nhất nhằm khóa chặt sự trỗi dậy của TQ.[51]

Do vậy, chiến lược “phát triển trong hòa bình” của TQ sẽ được hiểu như là có trách nhiệm và không hăm dọa, chỉ khơi dậy một ít quan tâm trên đấu trường quốc tế. Tuy thế, người ta phải nhận ra rằng đây rõ ràng là một chiến lược chuyển tiếp, trù tính cho vài thập kỷ cần thiết cho TQ trỗi dậy. Nếu TQ thành công trong việc nổi lên thành một cường quốc, liệu họ có tìm kiếm cơ hội tham gia vào các hệ thống quốc tế trong vai trò, dùng lời phát biểu của Quyền Bộ trưởng Robert Zoellick, một người giữ tiền đặt cược có trách nhiệm?[52]

Hoặc giả, với cái tát kinh tế và cơ bắp quân sự, liệu TQ có trở thành một thế lực phá hoại, theo chủ nghĩa xét lại, quyết định theo đổi hệ thống quốc tế theo hướng có lợi cho mình? [53] Câu trả lời tối hậu của TQ cho các vấn đề này chẳng những là không chắc chắn, mà đơn giản là không thể biết được. Ngay cả khi giới lãnh đạo TQ thành tâm trong các ý đồ hòa bình hiện nay, chúng ta cũng không thể nào biết được chính quyền TQ sẽ theo đuổi các quyền lợi của mình như thế nào trong nhiều thập kỷ tới, hoặc họ sẽ hành động ra sao trong một môi trường quốc tế đã thay đổi.[54]

Từ năm 1998, TQ đã dứt khoát nói rõ mong muốn của mình về một thế giới đa cực trong quan điểm “khái niệm mới về an ninh”, ngụ ý rằng TQ mong muốn “khoảnh khắc đơn cực” của Mỹ chấm dứt.[55] “Khái niệm mới về an ninh” của Bắc Kinh là một dấu hiệu cho thấy sự không hài lòng của TQ với hệ thống quốc tế nổi lên sau Chiến tranh Lạnh và là một phản ứng trực tiếp đến các chính sách và hành động mà TQ nhận thấy là mang tính hăm dọa, đặc biệt việc kéo dài liên minh của Washington với Nhật Bản, Úc và những quốc gia khác trong khu vực.[56] Trong tầm nhìn của Mỹ, “khái niệm mới về an ninh” của TQ đang làm bối rối trong luận điệu chống Mỹ và kêu gọi loại trừ ảnh hưởng khu vực của Mỹ của họ.[57]

Nếu như có những khu vực xung đột giữa TQ và Mỹ, thực ra, có thể vận dụng được chứ không hẵn là khó uốn nắn, thì cả hai sẽ còn cơ hội tạo một cửa sổ thông nhau về mặt chiến lược để đảm bảo cùng tồn tại trong hòa bình và hai bên cùng có lợi. Chính sách thận trọng và có xét đoán trong thời điểm vài thập niên tới sẽ cho cả hai quốc gia cơ hội để định lượng mức phát triển và học được liệu một sự thích nghi dài hạn có thể đạt được hay không.[58]

Qua thời gian, TQ sẽ học được liệu Mỹ có sẵn sàng chấp nhận một nước TQ hùng cường hơn với ảnh hưởng toàn cầu, và Mỹ sẽ học được liệu TQ có trỗi dậy như một cường quốc có trách nhiệm rồi sau đó là cùng tồn tại hòa bình mà không phải hy sinh những quyền lợi sống còn của Mỹ có thể được hay không.[59]

Đụng chạm quyền lợi chưa lan tỏa sang các vấn đề thông thường trong quan hệ Mỹ-Trung. Nhìn lại những khiêu khích tiềm tàng đưa ra bởi “Chuỗi Ngọc Trai” sẽ giúp chúng ta hiểu được chiến lược này phù hợp với việc “phát triển trong hòa bình” của TQ như thế nào và hiểu được ra sao mà nó có thể là một chiến lược rào đón thận trọng và có cân nhắc, hoặc ngược lại, là căn nguyên của sự đặt cược cho thống trị khu vực.

Những thách thức đưa ra bởi “Chuỗi ngọc trai”.

“Chuỗi ngọc trai” đưa ra một tình huống chiến lược phức tạp với nhiều khía cạnh. Mối quan tâm chủ yếu của các nhà hoạch định chính sách Mỹ là tiềm lực cạnh tranh với TQ về ảnh hưởng trong khu vực, về giao thiệp của TQ với các chính phủ xỏ lá ba que, và về sự hiện đại hóa quân sự. Sự sụp đổ của khối Xô Viết đã tạo điều kiện phát triển ảnh hưởng và sự hiện diện của TQ dọc theo “Chuỗi ngọc trai” trong vùng biển Nam Trung Hoa, Ấn Độ dương, và biển Ả Rập, qua việc cho phép Bắc Kinh tăng thêm chiến lược nới rộng. Gia tăng ảnh hưởng khu vực của TQ được lóe sáng lên không chỉ nhờ nền kinh tế mạnh mà còn do tham vọng chiến lược và một ý thức bất bình trong lịch sử. Sự sụp đổ của khối Xô Viết và quân đội Xô Viết rút lui khỏi Mông Cổ đã dỡ được gánh nặng biên giới phương bắc và phía tây TQ. Về phương nam, Việt Nam bị ân nhân Xô Viết cắt viện trợ và buộc phải rút lui khỏi Campuchia, cũng làm nhẹ gánh cho TQ. TQ cũng muốn tìm cách giảm nhẹ áp lực của Ấn Độ bằng cách cung cấp tên lửa và kỹ thuật vũ khí nguyên tử cho Pakistan.

Như vậy, với sự sụt giảm áp lực chiến lược ở biên giới trên cạn, TQ đang đòi hỏi các yêu sách trong vùng biển Đông Trung Hoa và Nam Trung Hoa, cũng như sử dụng ảnh hưởng trên vùng biển Ấn Độ dương. Vấn đề Đài Loan sẽ được đề cập đến sau trong bài này, nhưng điều cốt lõi là vấn đề này đã cố kết thành một nguyên trạng vì TQ bị ngăn cản bởi đảm bảo an ninh của Mỹ với Đài Loan và Đài Loan bị áp lực từ Mỹ phải kiềm chế việc tuyên bố độc lập một cách thẳng thừng . Hải giới bên ngoài Đài Loan, đặc biệt dọc theo “Chuỗi ngọc trai”, là khu vực mà TQ có thể tạo chiến lược lấn sân để bành trướng sức mạnh và tăng thêm ảnh hưởng. Cơ hội này, cộng thêm các động thái đã giải thích trước đây về đảm bảo các tuyến giao thương biển và các tuyến cấp năng lượng dọc theo đường huyết mạch SLOCs, là những giải thích tốt nhất “Chuỗi ngọc trai” trong phạm vi địa chính trị của nó.

Cạnh tranh bá chủ khu vực

Khi sức mạnh và ảnh hưởng của TQ vươn cao, tiến trình phát triển của họ sẽ được xác định bởi quyết định hoặc tham gia đầy đủ vào cộng đồng các quốc gia như là một người giữ tiền đặt cược có trách nhiệm hoặc là, như một lựa chọn khác, quyết định chơi theo luật riêng của mình. Hoạt động ngoại giao và kinh tế của TQ hướng về đảm bảo thị trường cho xuất khẩu, chiếm hữu tài nguyên năng lượng và nguyên liệu, và nâng cao tầm vóc quốc tế của mình. Đồng thời, TQ sử dụng các công cụ ngoại giao và kinh tế hùng mạnh của mình để cô lập Đài Loan và giảm thiểu ảnh hưởng của Mỹ vào khu vực. Thí dụ như vào tháng 7-2005, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã ký một bản hợp tác tuyên bố đưa ra bởi SCO kêu gọi Washington tháo dỡ căn cứ không quân tại Kyrgyzstan và Uzbekistan đã xây dựng trước đây để hỗ trợ cho cuộc chiến ở Afghanistan.[60]

Mặc dù SCO không nằm trong danh sách trong bảng lịch trình rút quân, đưa áp lực này lên phía Mỹ chỉ là một thí dụ cho sự mở rộng sốt sắng của TQ để thách thức ảnh hưởng của Mỹ trong một khu vực được xem như là sân sau của TQ.[61] Một thí dụ khác nữa là ở Hội nghị Thượng đỉnh các nước Đông Á (EAS), một diễn đàn mới của 16 quốc gia trong khu vực, đã cố tình loại trừ sự tham gia của Mỹ. Nga được mời như là một quan sát viên tại lễ khai mạc ở Kuala Lumpur tháng 12 qua, nhưng không có một sự mời gọi nào được đưa ra đối với phía Mỹ. TQ đã tìm cách sử dụng diễn đàn mới này như là một bệ đỡ cho sự gia tăng ảnh hưởng của mình và xem như đáp trả lại Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC), chỗ mà Washington là người tham gia chủ chốt.[62]

Thái độ của TQ tại SCO và EAS xem như là đối nghịch lại tuyên bố của Bắc Kinh rằng họ đang theo đuổi sự hòa hợp “phát triển trong hòa bình” với Mỹ. Những biến cố gần đây cũng để lộ ra những giới hạn của TQ trong sự tiết chế, chủ động vươn ra và tạo ảnh hưởng tốt đẹp. Trong một chuyến thăm viếng chính thức Australia, một nhân vật ngoại giao cao cấp TQ đã cảnh báo Canberra nên kiềm hãm việc đứng về phe Mỹ trong bất cứ hoạt động quân sự đột xuất nào có liên quan đến Đài Loan không đếm xỉa gì đến Hiệp ước Ủy thác ANZU của Australia.[63] TQ cũng áp lực với Thủ tướng sắp kế nhiệm của Singapore là phải gạt bỏ kế hoạch thăm viếng chính thức cấp nhà nước đến Đài Loan.[64] Sự giao thiệp Trung – Nhật, đã rất căng thẳng trong lịch sử, càng tệ thêm khi một tàu ngầm hạt nhân của TQ xâm phạm lãnh hải Nhật Bản gần vùng mỏ khí thiên nhiên đang tranh chấp vào tháng 11-2004.[65] Và mối bất hòa TQ với Hàn Quốc qua lịch sử của Vương triều Goguryeo thổi bùng phản ứng mạnh mẽ chủ nghĩa yêu nước ở cả hai quốc gia.[66]

Mặc cho những căng thẳng này, giới lãnh đạo TQ không đặt ra cho các chính phủ láng giềng những yêu cầu khắt khe hay làm áp lực buộc họ phải làm những điều mà lẽ ra họ không có ý làm. TQ nhận ra khả năng sự vươn lên tầm cỡ của mình có thể được diễn dịch đơn giản là một mối đe dọa cho các nước châu Á, cho nên đã theo đuổi một sự tiếp cận tổng thể là ôn hòa để gây ảnh hưởng, qua việc sử dụng các khoản đầu tư, các gói phát triển kinh tế và các cử chỉ ngoại giao.[67]

Cách cư xử của TQ phần lớn là kiên trì với chính sách và những lời hoa mỹ của họ. Kết quả là, theo cuộc khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu PEW vào tháng 6-2005, TQ được xem là thân thiện hơn cả Mỹ ở khu vực châu Á mặc cho bản chất độc đoán về chính trị trong nước của họ không thay đổi.[68] Sức mạnh mềm dẽo như thế, tuy nhiên, có thể không quyết đoán khi xảy ra khủng hoảng nên đã đẩy các chính phủ gặp lúng túng khi đưa ra quyết định.

Cán cân quyền lực suốt vùng “Chuỗi ngọc trai” đã chuyển dịch và sẽ tiếp tục dịch chuyển khi TQ càng lớn thêm sức mạnh và tầm cỡ. Các yếu tố làm thay đổi trong cán cân này chủ yếu là thay đổi về kinh tế, ngoại giao và “sức mạnh mềm”. Trong một thế giới đơn cực, ảnh hưởng của Mỹ có thể dường như nhỏ lại khi ảnh hưởng của TQ lớn lên, nhưng các quốc gia trong khu vực không bị ngăn cẳn trong việc duy trì mối quan hệ tốt đẹp với cả phía Mỹ lẫn TQ. Trong cuộc Chiến tranh Lạnh, hoặc trong bất kỳ thời điểm căng thẳng quốc tế nào, các quốc gia thường thì tự mình xếp hàng vào phía bên này hoặc bên kia, kết hợp chặt chẽ mối liên hệ về an ninh và tạo thành những khối quốc gia đồng minh.

Hiện nay, với Mỹ có một sức mạnh quân sự siêu đẳng không cần phải hỏi, các quốc gia đang khám phá ra rằng họ không phải chọn lựa bên nào trong đấu trường kinh tế hay ngoại giao. Về mặt quân sự mà nói, toàn bộ khu vực do Mỹ thống trị và sẽ còn tiếp tục thống trị như thế trong tương lai có thể dự đoán được, ước chừng qua nửa bán thế kỷ 21. Chừng nào mà TQ không tỏ thái độ hăm dọa quân sự và Mỹ còn khả năng đảm bảo cho ổn định khu vực, các nước còn được tự do kiếm chác mối lợi cho họ từ sự trỗi dậy của TQ về kinh tế và ngoại giao.

Mỹ phải mong muốn các nước như Pakistan, Myanmar, Cambodia và Việt Nam chào đón những lời đề nghị từ TQ. Ngay cả những đồng minh đáng tin cậy nhất của Mỹ trong khu vực, thí dụ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, và Philippines, cũng không ngừng tìm thấy nhiều quyền lợi bản thân khi cải thiện mối quan hệ với TQ. Mỹ thỉnh thoảng cũng phải cần những phát biểu dè dặt về sự hiện diện của mình trên toàn khu vực. Không cần phải nêu lên sự sụt giảm tình hữu nghị với Mỹ; đúng hơn nó là một dấu hiệu cho thấy rằng một khu vực yên ổn thì không cần có sự hiện diện của quân đội Mỹ.

Tuy nhiên, nhận thức này là một ảo tưởng vì an ninh là chuyện viễn vông. Mỹ có thể dàn xếp các vấn đề nhạy cảm về quân sự bằng cách giảm bớt sự hiện diện trông thấy hoặc giảm quân số, nhưng người Mỹ không thể chịu đựng được việc bỏ rơi sự giao phó về quân sự cho mình ở Châu Á. Trong trường hợp TQ chọn cách theo đuổi một đường lối manh động hơn, bằng cách tìm kiếm quyền bá chủ dọc theo “Chuỗi ngọc trai”, thì Mỹ cũng không thể bỏ qua khiêu khích này. Trong giai đoạn chuyển tiếp, ngay cả khi các quốc gia duy trì cân bằng mong manh trong mối liên hệ với Mỹ và TQ để theo đuổi lợi ích riêng mình, Mỹ cần phải giữ chặt các đồng minh của mình trong lúc khuyến khích TQ tham gia sâu hơn vào hệ thống quốc tế với tư cách người giữ tiền đặt cược.[69]

Quan hệ TQ với các nhà nước xấu xa

Tiếp cận của TQ tạo mối quan hệ với những quốc gia trong vùng “Chuỗi ngọc trai” dường như là phi luân lý nếu xét về mặt quan tâm đến nhân quyền hoặc là trung tính nếu xét về mặt ý thức hệ. TQ tập trung vào việc đạt được các mục tiêu chiến lược thực tiển và duy trì các mối quan hệ hữu hảo với “những chế độ xấu xa” tức những nhà nước có lịch sử và tai tiếng về tư cách đạo đức đáng chê trách đối với cộng đồng thế giới -ví dụ như chạy đua vũ trang, xâm phạm nhân quyền, gây hấn bằng vũ lực và chứa chấp khủng bố- mà không sử dụng ảnh hưởng của mình để thay đổi tư cách đạo đức hay những chính sách lầm lạc đó.[70]

Sự ràng buộc của TQ với các nhà nước xấu xa như Myanmar, Iran, và Sudan làm xói mòn những cố gắng của phương Tây trong việc cô lập hoặc tác động đến sự thay đổi ở những chế độ này.[71] Tại hội nghị thượng đỉnh EAS vào tháng 12-2005, TQ bất đồng quan điểm với các nước bạn bè Đông Nam Á trong việc chỉ trích gay gắt Myanmar và bác bỏ việc đề cập đến tình trạng ghê tởm về nhân quyền của nước này bằng cách cho rằng đó là vấn đề nội bộ do các nhà lãnh đạo quân sự ở Rangoon quyết định.[72] Trong phần kêu gọi của Quyền Bộ trưởng Zoellick về việc TQ nên trở thành một người giữ tiền đặt cược có trách nhiệm với hệ thống quốc tế, ông nhận định rằng hành động của TQ tôn trọng chương trình hạt nhân của Iran sẽ phô bày ra tính chất trầm trọng trong cách nhìn nhận của TQ về vhur trương không chạy đua vũ trang.[73]

Quyền Bộ trưởng Zoellick đã truyền đạt đến Bắc Kinh là Mỹ xem TQ là một thành viên bình đẵng và quan trọng trong hệ thống quốc tế hiện nay và TQ cần chia sẻ mối quan tâm duy trì hệ thống này. Ở Sudan, nơi CNPC kiểm soát hơn 40% sản lượng dầu và TQ là bạn hàng giao dịch lớn nhất trong nước, Bắc Kinh phải có đủ cách can gián và ảnh hưởng để làm dịu đi cách ứng xử của một nhà nước đã từng cho al-Qa’ida và các đội quân khác làm chốn dung thân, đã từng dính líu vào việc tiếp tay diệt chủng đang diễn ra tại vùng Darfur.[74] Bắc Kinh có thể cải thiện hình ảnh trên trường quốc tế của mình qua việc khuyến khích chuyển hướng chính sách ở Khartoum, nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy dấu hiệu muốn làm việc đó.[75]

Washington mong TQ dùng ảnh hưởng của mình làm đòn bẩy để tạo ra những thay đổi tích cực. Nếu TQ không thấu hiểu được các lợi ích do giác ngộ tư lợi như thế và tiếp tục theo đuổi những mục tiêu thiển cận, hẵn sẽ xảy đến những hệ quả là sự mất ổn định. TQ đang đứng tại ngả tư đường chiến lược và nếu Bắc Kinh không thừa nhận nhiệm vụ của một người giữ tiền đặt cược có trách nhiệm, thì Mỹ có thể viện đến việc tạo áp lực với TQ thông qua những hành động từ chính sách kinh tế không thân thiện đến công khai kêu gọi thay đổi chính trị và xã hội.[76] Nếu TQ vẫn ngoan cố và ban hành chính sách đi ngược lại quyền lợi của Mỹ, điều này sẽ là một cảnh báo rõ rệt cho sự treo giò về kinh tế, ngoại giao và ngay cả có quân sự đối đầu giữa Mỹ và TQ.

Hiện đại hóa quân sự của TQ

Việc hiện đại hóa của PLA là một biểu hiện rõ ràng trong việc phát triển sức mạnh quốc gia của TQ. Tập san Quốc phòng Tứ niên vào năm 2006 đã lưu ý rằng, về việc lớn mạnh và nổi lên thành một cường quốc, TQ có tiềm năng lớn nhất trong cạnh tranh quân sự với Mỹ và trong việc ngăn chặn các lổ hổng kỹ thuật quân sự từ trước đến nay vẫn là lợi thế truyền thống của quân đội Mỹ.

Bất chấp ngày nay TQ có ý đồ gì, lực lượng vũ trang được hiện đại hóa và hùng mạnh đã tạo khả năng quân sự cho TQ khiến Mỹ phải cân nhắc. Với mục tiêu trước mắt tập trung vào Đài Loan, những nỗ lực hiện đại hóa của PLA dường như đặc biệt nhằm vào việc chiến đấu với lực lượng hải quân Mỹ có thể được Đài Loan cầu viện và cũng nhằm vào việc ngăn cản Mỹ lui tới các vị trí căn cứ quân sự khu vực như ở Nhật Bản và Hàn Quốc.

Nhiều hệ thống vũ khí mới của TQ có khả năng hoạt động vượt khỏi eo biển Đài Loan. Việc bành trướng khả năng của sức mạnh quân đội TQ hăm dọa không chỉ Đài Loan–và do đó cả Mỹ– nhưng cũng khiêu khích đồng minh và bạn bè của Mỹ suốt vùng phía Tây Thái Bình Dương, Đông Nam Á, và Nam Á.[78] Không kềm hãm và mất cân đối, hiện đại hóa quân sự của TQ có thể dẫn đến một sự tái phân bố quan trọng về cán cân quyền lực xuyên suốt Thái Bình Dương.

TQ bắt đầu hiện đại hóa lực lượng vũ trang của mình và tìm mua các loại khí tài phức tạp sau khi quan sát thấy sự thành công mọi mặt và trình độ tinh thông kỹ thuật của liên minh do Mỹ dẫn đầu trong cuộc chiến vùng vịnh Péc-xích năm 1991. Việc này được báo hiệu bằng việc PLAAF mua 24 chiến đấu cơ tân tiến bay trong mọi thời tiết Su-27 từ Nga năm 1992, là cuộc phiêu lưu đầu tiên của TQ vào việc triển khai một lực lượng không quân thuộc loại hạng nhất. Năm 1993, TQ bắt đầu sở hữu loại tên lửa tiên tiến đất đối không, máy định vị tàu ngầm bằng âm thanh loại dạng kéo thành hàng, hệ thống ngư lôi có kiểm soát đa mục tiêu, hệ thống tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân, và kỹ thuật cải tiến tầm xa của các loại tên lửa hành trình bắn từ tàu ngầm.[79] Chiến đấu cơ Su-27s và những khí tài quân sự loại này tìm mua từ Nga đã nâng tầm khả năng sức mạnh tên lửa của TQ và nâng cao mức độ hăm dọa đối với Đài Loan.[80]

Năm 1999, TQ ký một hợp đồng với Nga mua 40 máy bay tiêm kích Su-30 và một hợp đồng cũng khoảng 40 máy bay nữa cũng đã ký năm 2001.[81] Trong thập niên 90, PLAN bày tỏ sự quan tâm đến việc sở hữu loại hàng không mẫu hạm, và gần đây giới lãnh đạo quân sự đã tuyên bố rằng TQ có ý định đóng hàng không mẫu hạm, là công cụ đúng đắn cho sức mạnh tên lửa.

Gát sang bên những lời khoa trương, không thấy có bằng chứng nào về TQ xúc tiến cho tham vọng này, hoặc vì TQ kiềm chế và đắn đo về chiến lược sao cho phù hợp với chiến lược chung của đất nước là “phát triển trong hòa bình”, hoặc vì PLAN không đủ mạnh mẽ và trưởng thành để đưa một hàng không mẫu hạm ra khơi mà không gánh lấy hiểm nguy thực sự.[82] Triển khai một hàng không mẫu hạm không thể diễn ra trong một đêm, và PLAN thì chắc chắn còn phải mất nhiều năm nữa mới có thể thực sự hạ thủy được một chiếc như vậy. Năm 1994, TQ bắt đầu hiện đại hóa đội tàu ngầm của mình với việc mua của Nga bốn chiếc tàu ngầm tấn công loại Kilo, tiếp đó là một hợp đồng mua thêm 8 chiếc nữa vào năm 2002.[83]

TQ cũng đã mua bốn khu trục hạm loại Sovremmeny có trang bị phi đạn hành trình tiên tiến SS-N-22 chống chiến hạm. Những tàu ngầm loại Kilo và khu trục hạm có phi đạn điều khiển đặt ra mối hăm dọa thực sự đến các hàng không mẫu hạm Mỹ và giúp TQ có tầm phát huy sức mạnh rộng hơn trên biển hơn bất cứ loại nào có được trước đây.[84]

Bảng 2 liệt kê các hệ thống vũ khí chủ lực có được trong việc hiện đại hóa quân sự của TQ và liệt kê hệ thống vũ khí đã đưa vào dự án hiện nay và đến năm 2020.

Hiện đại hóa quân sự            Liệt kê 2005            Liệt kê 2020

Quân đội Nhân dân TQ        (ước lượng)      (dự trù)    Ghi chú

Hải quân

Tham chiến trên mặt biển

DDG Type 51 16 11 Khu trục hạm Xô viết kiểu thập niên 70

DDG Type 52 (A, B, and C) 7 7 Khu trục hạm Xô viết kiểu thập niên 80

DDG Sovremmeny-class 4 12 Khu trục hạm Nga kiểu thập niên 80

Tàu ngầm

SSAN (older models) ~40 ~40 Nhiều loại tàu ngầm thời Xô viết kiểu cũ

SSAN Kilo-class 4 10 Tàu ngầm tấn công hiện đại Nga

Máy bay hải quân

Su-30 Flanker 24 48 Biến thể kiểu Su-27 tấn công hải quân

Không quân

Phi cơ Hải quân

Máy bay tiêm kích

JH-7 Jianhong —- 200 FBC-1 biến thể sản xuất để xuất khẩu

Su-30 Flanker 76 76 Biến thể của loại tiêm kích Su-27

Q-5 Fantan 300 300 Biến thể của loại tiêm kích J-6

Máy bay chiến đấu

J-11 115 200 Su-27SK sản xuất nhượng quyền

Su-27UBK Flanker 35 40 Mua từ Nga

J-10 48 xem chú* Dựa trên chiến đấu cơ Lavi của Israel

J-8 164 — Bắt nguồn từ loại 2 động cơ MiG-21

J-7 686 — Từ loại MiG-21, đã ngưng (?)

J-6 350 — Từ loại MiG-19, đã ngưng từ 2006

Máy bay ném bom

H-6 80 — Tu-16 cải tiến

H-9 — ??? Chờ đợi phát triển

Máy bay chở hàng H-6U 10 10 Cải tiến loại H-6, J-8 chỉ nhận hàng

IL-78 — 8 Nhập giới hạn từ Nga

Máy bay không vận

IL-76 20 50 Có khả năng đổ quân

Y-8 48 48 Loại An-12 sản xuất nhượng quyền

Y-7 100 100 Loại An-24 sản xuất nhượng quyền

*Sản xuất mô phỏng của loại J-10 này thay đổi từ ít nhất 300 đến nhiều nhất 1.200 chiếc.

Bảng 2. Hiện đại hóa quân sự TQ.[85]

Sở hữu vũ khí như hiện tại chưa thể kết luận là TQ ở thế hăm dọa đáng sợ về quân sự đối với phía Mỹ, mặc dù phương hướng hiện đại hóa là đáng báo động đối với nhiều nhà quan sát. Từ năm 1996, TQ đã gia tăng chi phí quân sự hơn 10% thực sự hàng năm trừ năm 2003.[86] Sự lớn mạnh trong khả năng sức mạnh tên lửa của TQ sẽ làm cho Mỹ và các nước phải đặt câu hỏi về ý đồ của TQ và điều chỉnh tình hình quân sự của họ một cách tương ứng. Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld đã cảnh báo, “Xây dựng tràn lan về quân sự một cách nhanh chóng và không minh bạch của TQ tăng thêm bấp bênh.”[87]

Đề cập đến cách điều hành của chính phủ Bush, Quyền Bộ trưởng Zoellick kêu gọi TQ hãy “công khai giải thích về chi phí quốc phòng, các dự định, học thuyết, và các diễn tập quân sự của mình để xoa dịu các mối quan tâm về việc xây dựng tràn lan và nhanh chóng về quân sự”.[88]

Ngoài tầm Đài Loan, việc tiến triển sức mạnh đường biển của TQ cho thấy PLAN (Hải quân nước CHNDTH-Peoples Liberation Army Navy) quan tâm đến việc bảo vệ SLOCs nhằm giữ thông suốt các “”cổ chai” nhằm bảo vệ tuyến đường thông thương và đảm bảo việc vận chuyển tài nguyên năng lượng không bị gián đoạn.[89]

Điều này phù hợp với sự bành trướng của TQ dọc theo “Chuỗi ngọc trai”, tuy nhiên với hoạt động bất thường của các “tàu đánh cá bằng lưới rà” thỉnh thoảng bị bắt gặp đang vẽ địa đồ đáy biển phục vụ cho hoạt động tàu ngầm, PLAN vẫn còn vận dụng mềm dẻo cơ bắp của mình ở bất kỳ vùng nước sâu nào.[90]

Chỉ là vấn đề về thời gian, có lẽ bị ám ảnh bởi một cuộc khủng hoảng an ninh hay năng lượng, trước khi TQ, được hậu thuẩn bởi tàu chiến mới mua sắm với hệ thống vũ khí hiện đại, cảm thấy cần phải triển khai sự hiện diện của quân đội vào khu vực “Chuỗi ngọc trai” càng nhanh càng tốt.

Hiện đại hóa quân sự của TQ làm bận tâm Mỹ do sự thiếu minh bạch của TQ và sự mơ hồ chẳng biết TQ muốn theo đuổi khả năng quân sự đến mức độ nào. Tuy nhiên, theo Henry Kissinger thì chính sách Mỹ tại Châu Á không để bị tự thôi miên với việc xây dựng căn cứ quân sự tràn lan của người TQ.[91]

PLA(Quân đội nước CHNDTH) đã chịu đựng sự lạnh nhạt trong nhiều thập niên trong khi Bắc Kinh tập trung vào nền kinh tế và đổi mới nội bộ tại TQ. Ngay cả lúc hiện tại đang được đánh giá cao, ngân sách quân sự của TQ còn ít hơn 20% so chi tiêu quốc phòng của người Mỹ, và chỉ nhỉnh hơn một chút ngân sách quốc phòng của nước Nhật “phi quân sự hóa”. Khi tính về mặt biên giới quốc gia, chi tiêu quốc phòng của TQ còn kém xa phí tổn quân sự tổng hợp của Nhật Bản, Ấn Độ và Nga.[92]

TQ phải tính toán những mối nguy và chi phí cho tầm cỡ quân đội trong chiến lược “Chuỗi ngọc trai” của mình. Chấp nhận xây dựng tràn lan về quân sự có thể sẽ tạo ra hậu quả mất cân bằng gây thiệt hại cho những quyền lợi của TQ. Ngay cả việc tăng lên sự hiện diện quân sự vượt hạn chế trước đây, nhằm “diệu võ giương oai”, hoặc như một rào ngăn trong trường hợp sự đảm bảo an ninh của Mỹ bị mất đột ngột, có thể mâu thuẩn với đường lối “phát triển trong hòa bình” của TQ và là một phản tác dụng về việc đạt tới những mục tiêu quốc gia lớn lao hơn.

Cho đến bây giờ, sự khiêu khích chiến lược đưa ra bởi TQ đối với Mỹ chủ yếu là về chính trị và kinh tế. Mặc dù sự hiện đại hóa quân đội của TQ và khả năng sức mạnh tên lửa còn kém xa Mỹ, khả năng quân sự đang có của PLA, khi đặt trong bối cảnh địa chính trị vùng Đông Á, có thể đặt ra nhiều vấn đề quan trọng cho các mối quan tâm về an ninh của Mỹ.[93]

Nếu “Chuỗi ngọc trai” là một sự ngụy trang cho quyền bá chủ, thì TQ sẽ có lẽ theo đuổi cách tiếp cận kiên nhẫn, khéo léo và tế nhị. Mỹ phải duy trì cảnh giác thường xuyên những dấu hiệu và cảnh báo cho thấy những ý đồ như thế, những thay đổi đột ngột trong cán cân quyền lực không thể xảy ra chớp nhoáng và chắc chắn bùng nổ trong giai đoạn phát triển hiện nay của TQ. Thái độ của TQ sẽ báo động Washington nếu như “Chuỗi ngọc trai” mang lại kết quả là các quốc gia bị buộc phải tự tách rời khỏi Mỹ và bị thu hút về phía TQ. Thái độ tôn trọng của TQ đối với các nhà nước xấu xa cũng sẽ để lộ ra ý đồ của Bắc Kinh trong khu vực nếu như TQ thất bại trong vai trò một “nhà cái” có trách nhiệm trong hệ thống quốc tế. Tiếp tục che dấu về quân sự, theo đuổi hải quân có tầm xa đại dương, thu thập những hệ thống vũ khí đặc biệt chế tạo nhằm chống lại lực lượng Mỹ, hoặc triển khai sự hiện diện tiền tiêu về quân đội nhắm vào việc loại trừ sự độc chiếm của Mỹ là những dấu hiệu cảnh báo phải báo động đến Washington về ý đồ bất chính đàng sau “Chuỗi ngọc trai” trong các phương án chiến lược của Mỹ.

“Chuỗi ngọc trai” có thể dùng làm que thử màu cho đường hướng tương lai của quan hệ Mỹ-Trung. Ở những khu vực mà các quyền lợi của Mỹ và TQ liên kết nhau, các vấn đề liên quan đến “Chuỗi ngọc trai” là cực kỳ năng động và tức thì. Đoạn phân tích này sẽ chỉ rõ sự phức tạp của quan hệ Mỹ Trung qua việc điểm lại các khu vực hội tụ và phân tán quyền lợi quốc gia. Các dự kiến chính sách trải dài từ lạc quan đến bi quan, dựa trên những giả định về bản chất mối quan hệ Mỹ Trung và ý đồ tối hậu của Bắc Kinh về mức độ hùng mạnh của TQ. TQ và Mỹ đang ở ngả tư đường và cùng có cánh cửa sổ cơ hội để quyết định tương lai môi trường an ninh Châu Á. Một khi hướng đi đã chọn, dù tốt hay xấu, nó sẽ khó mà thay đổi được.

Mỹ phải đối mặt cách nào với những khiêu khích về chính trị, kinh tế và quân sự này ?

Sự căng thẳng nguy hiểm nhất dính líu đến vấn đề Đài Loan. Chính sách ngoại giao của TQ xoay quanh vấn đề Đài Loan vì không một nhà lãnh đạo TQ nào dám tỏ ra mềm dẽo trước việc tái thống nhất. Do tình cảm yêu nước của Lục địa, Mỹ không dám mạo hiểm dồn Bắc Kinh vào chân tường trong việc Đài Loan đòi chủ quyền(độc lập) khi mà giới lãnh đạo TQ và công luận có thể không suy nghĩ hoặc hành động “có lý trí”.[103] Chính sách của Mỹ vẫn duy trì tập trung vào việc tìm ra một giải pháp hòa bình cho vùng eo biển này, là có khác biệt về tính cách mà nó có thể chấp nhận được đối với nhân dân hai bờ eo biển Đài Loan. [104]

Tái thống nhất Đài Loan bằng vũ lực, điều mà lục địa không hề chối bỏ, là một giải pháp chẳng đặng đừng đối với Mỹ. Mặc dù thừa nhận khiếu nại của TQ về Đài Loan, Mỹ tự nhận lãnh trách nhiệm của mình đảm bảo an ninh lâu dài cho Đài Loan nhằm ngăn chặn sự xâm lược của TQ. Washington không cho phép TQ quyết định ai cầm quyền tại Đài Loan, nhưng cũng sẽ không cho phép Đài Loan tuyên bố độc lập thẳng thừng và xúi giục cuộc chiến tranh giữa Mỹ và TQ. Do vậy Mỹ duy trì ưu tiên chính sách “Một nước Trung Hoa” theo những gì đã ghi trong bản Thông cáo Thượng Hải theo sau chuyến đi mở đường khai thông tại TQ của Tổng thống Nixon vào tháng 2-1972.

Ngoài chuyện Đài Loan , bán đảo Triều Tiên là nguồn gốc tiềm tàng xung đột khác. Khởi đầu giữa thập kỷ 90, TQ bắt đầu chủ động tham gia vào các nỗ lực quốc tế để tìm kiếm giải pháp cho sự bế tắc tại bán đảo nầy và ủng hộ các nỗ lực công khai tìm cách cắt giảm cuộc chạy đua vũ trang trong chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên.[105]

Căn cứ vào diễn tiến chậm chạp trong Cuộc Tiếp Xúc 6 Bên gần đây, chủ yếu do sự không khoan nhượng và thiếu đáp ứng qua lại từ Bình Nhưỡng, chính sách của Mỹ đối với Bắc Hàn dường như sẽ là tiếp tục phong tỏa. Sự quan tâm chiến lược của phía Mỹ trên bán đảo Triều Tiên là ổn định khu vực, đặc biệt là ưu tiên an ninh cho Nhật Bản và khả năng đổ vỡ hoạt động kinh tế trong khu vực. Mỹ mong muốn đóng vai trò người đảm bảo an ninh cho Nhật Bản vì một nước Nhật phi quân sự hóa sẽ giảm thiểu âu lo trong vùng Đông Á và tạo điều kiện cho kinh tế thịnh vượng trong khu vực. Chính sách của Mỹ có nhiều sơ hở vì sự hiện diện quân sự của Mỹ trên bán đảo tùy thuộc vào sự ưng thuận của Seoul. Một phần do hệ quả của chính sách “Ánh Dương” của Hàn Quốc đối với Triều Tiên và tất yếu từ chủ nghĩa yêu nước xuyên-Hàn, tình cảm bài Mỹ và bài Nhật đang nổi lên trên bán đảo. [106]

Tháng 12-2002, Roh Moo-hyung được bầu làm Tổng thống Nam Hàn sau khi khẳng định trong chiến dịch tranh cử là trong trường hợp Triều Tiên và Mỹ xảy ra chiến tranh, Hàn Quốc sẽ phải giữ lập trường trung lập. [107]

Đài Loan và bán đảo Triều Tiên là những khu vực thường xuyên căng thẳng cao độ, nhưng cũng là nơi cố tình diễn ra các cuộc vận động chiến lược. Một lĩnh vực mà Mỹ quan tâm về mặt chiến lược tổng thể là sự tham gia chạy đua vũ trang của TQ. TQ thực hiện chạy đua vũ trang trên quy mô rộng, và Bắc Kinh tiếp tục cung cấp thiết bị và kỹ thuật, bao gồm thiết bị và kỹ thuật lưỡng dụng liên quan tới vũ khí có sức tàn phá hàng loạt (WMD) và hệ thống sinh sôi của nó, cho các quốc gia xấu xa như Iran. [108] TQ đã giúp đỡ cho Pakistan phát triển vũ khí hạt nhân như là một đối trọng chiến lược với Ấn Độ những sau đó A.Q. Khan, người đứng đầu chương trình hạt nhân của Pakistan, đã tham gia vào việc chạy đua vũ trang rộng khắp. Ông ta bán kỹ thuật hạt nhân cho Iran và bị nghi ngờ là đã cung cấp cho Liban các bản vẽ để sản xuất vũ khí hạt nhân theo kiểu TQ.[109]

Chính sách của Mỹ đối với việc chạy đua vũ trang của TQ mang hai mũi nhọn – đối thoại chính thức với chính quyền TQ và phê chuẩn công kích đối với các công ty TQ tham gia chạy đua vũ trang. 62 phê chuẩn như thế đã được áp đặt trong thời kỳ đầu chính quyền Bush (tháng 4-2001). [110] Thứ trưởng ngoại giao Zoellick kêu gọi TQ kiểm soát chạy đua vũ trang thông qua việc kiểm soát xuất khẩu các kỹ thuật nhạy cảm và theo đuổi biện pháp trừng phạt nặng những công ty vi phạm.[111] Trong quá khứ TQ không khuyến khích việc này, nhưng Washington muốn thuyết phục Bắc Kinh rằng cùng làm việc với Mỹ để chặn đứng chạy đua vũ trang loại WMD và hệ thống sinh sôi của nó là nằm trong lợi ích to lớn nhất của cả hai quốc gia. Nếu không việc chạy đua vũ trang sẽ làm suy yếu môi trường an ninh tốt đẹp và nền kinh tế thế giới cường tráng mà TQ đang rất cần để thành công trong việc phát triển.[111]

Giao thương giữa Mỹ và TQ tiếp tục mở rộng một cách nhanh chóng và có thể là một liên doanh hai bên cùng thắng. Trong những năm đầu cải tạo thị trường, TQ được giới doanh thương Mỹ xem như là mảnh đất của cơ hội đầu tư và tiềm năng sinh lợi từ một thị trường tiêu thụ khổng lồ.

Tuy nhiên, ngày nay sự băn khoăn đang dấy lên trong cộng đồng doanh thương Mỹ lo ngại việc TQ hạ giá đồng nhân dân tệ, chính phủ trợ giá tràn lan, yếu kém trong bảo vệ bản quyền trí tuệ, và thói quen hà khắc với người lao động.[113] Vì TQ vi phạm các thỏa ước và cải cách đã hứa hẹn để được kết nạp vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), một mối quan hệ thương mại song phương cực kỳ méo mó tồn tại giữa Mỹ và TQ. Mối liên hệ kinh tế này được đánh dấu bằng việc nâng cao thâm thủng thương mại của Mỹ và làm yếu đi vị thế cạnh tranh của nhiều công ty Mỹ.[114]

Không giống triết lý thương mại của WTO, chính sách kinh tế của TQ được thiết kế để phục vụ nền kinh tế nội địa và nâng cao khả năng để vươn lên thành nhà sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Quyền Bộ trưởng Zoellic đã liệt TQ vào lớp nhà buôn hám lợi do lập trường bảo vệ công nghiệp nội địa và chính sách kinh tế lập lờ. Ông cảnh báo Mỹ sẽ không có khả năng duy trì một hệ thống mở cho nền kinh tế quốc tế – hoặc hỗ trợ kinh tế nội địa Mỹ cho một hệ thống tự do thương mại như thế – mà không có được sự hợp tác lớn lao hơn từ phía TQ trong vai trò một người giữ tiền đặt cược có trách nhiệm trong hệ thống kinh tế quốc tế.[115]

Tổng thống Bush, trong NSS(National Security Strategy), kêu gọi TQ hãy có những đóng góp quan trọng cho thịnh vượng toàn cầu và đảm bảo cho sự thịnh vượng của chính mình về lâu dài qua việc trông cậy nhiều hơn vào nhu cầu trong nước và làm giảm sự mất quân bình cán cân thương mại toàn cầu thành động lực phát triển kinh tế của Hoa Kỳ.[116] Mặc dù không là một hăm dọa quân sự trực tiếp đến an ninh, sự mất quân bình hay đổ vỡ trong quan hệ kinh tế giữa TQ và Mỹ sẽ như là sự phi ổn định hóa, với những tác động ngược trầm trọng lên an ninh quốc gia cho cả hai nước.

Trong phạm vi của “Chuỗi ngọc trai”, nhiều dự kiến chiến lược tự phô bày ra cho cả hai quốc gia. Vì chúng ta không thể thật sự biết được ý đồ chiến lược của TQ hoặc chính sách trong tương lai, chúng ta phải tập trung vào những đường hướng sẵn có của Mỹ để định hình và gây ảnh hưởng lên cả về môi trường an ninh lẫn các dự kiến chính sách của TQ. TQ cũng có được cơ hội đo lường chính sách và những ý định của Mỹ trong khu vực.Việc thảo luận chính sách hiện nay ở Washington mang tầm rất rộng, thay đổi từ sự lạc quan hợp tác chiến lược đến đường lối cứng rắn, chiến lược ngăn chận mang tính đối đầu. Hai thái cực trong dự kiến chiến lược của Mỹ, lạc quan và bi quan, sẽ được bàn đến sau, tiếp theo là một đề xuất Mỹ theo đuổi chiến lược thực dụng độc lập và thiên về kết quả nhằm lôi kéo TQ, thu hút TQ vào cộng đồng quốc tế, và duy trì trạng thái lãnh đạo của Mỹ trong vùng về mặt bang giao, kinh tế, và quân sự.

=================================================

http://www.StrategicStudiesInstitute.army.mil/

Chú thích:

1. Louise Levathes, When China Ruled the Seas, The Treasure Fleet of the Dragon Throne, 1405-1433, Oxford: Oxford University

Press, 1996, p. 75.

2. Ibid., pp. 75-86.

3. U.S.-China Economic and Security Review Commission, 2005 Report to Congress, Washington, DC: U.S. Government

Printing Offce, 2005, p. 171.

4. The phrase “String of Pearls” was frst used to describe China’s emerging maritime strategy in a report titled “Energy

Futures in Asia” by defense contractor, Booz-Allen-Hamilton. This report was commissioned in 2005 by the U.S. Department

of Defense’s Offce of Net Assessment.

5.“U.S. Is Threatened By ‘Aggressive Chinese Sea’ Power,” Al Jazeera, September 14, 2005, n.p.

6. Sudha Ramachandran, “China’s Pearl in Pakistan’s Water,” Asia Times Online, March 17, 2005.

7. Ibid.

8. Ibid.

9. Ibid.

10. Bruce Vaughn, “China-Southeast Asia Relations: Trends, Issues, and Implications for the United States,” CRS Report

for Congress, February 8, 2005, p. 24.

11. “String of Pearls: Military Plan to Protect China’s Oil,” Agence France Presse, January 18, 2005.

12. Robert G. Sutter, China’s Rise in Asia, Lanham, MD: Rowman and Littlefeld, 2005, p. 64.

13. Ibid., p. 65.

14. Ibid., pp. 136, 253.

15. “SCO: A New Power Center Developing,” Strategic Forecasting, October 28, 2005.

16. Pramit Mitra and Alex LeFevre, “India and China: Rivals or Partners?” South Asia Monitor, March 5, 2005.

17. Sutter, p. 209.

18. Ibid., p. 56.

19. Ibid.

20. Cheng Bijian, “China’s ‘Peaceful Rise’ to Great Power Status,” Foreign Affairs, September/October 2005, pp. 18-19.

21. 2005 Report to Congress, p. 166.

22. Cheng, p. 19.

23. Ibid.

24. China’s future growth is not guaranteed since there are many challenges such as coastal-inland disparities, urban-

rural income disparities, supply of energy and raw materials, corruption, and environmental concerns, to name a few

issues, which could upset China’s development.

25. U.S.-China Economic and Security Review Commission, 2004 Report to Congress, Washington, DC: U.S. Government

Printing Offce, 2004, p. 154.

26. 2005 Report to Congress, p. 166.

27. Ibid.

28. David Zweig and Bi Jianhai, “China’s Global Hunt for Energy,” Foreign Affairs, September/October 2005, p. 25.

29. Jonathan E. Sinton, et al., Evaluation of China’s Energy Strategy Options, Berkeley, CA: China Energy Group, Lawrence

Berkeley National Laboratory, May 2005, p. 13.

30. 2005 Report to Congress, p. 164.

31. Zweig, pp. 25-26.

32. 2005 Report to Congress, p. 164.

33. Ibid., testimony of Gal Luft, p. 168.

34. Ibid.

35. Ibid.

-trang 25-

36. Data in Table 1 compiled from 2004 Report to Congress, p. 157; and Zweig, p. 28.

37. Sutter, p. 250.

38. Zweig, p. 29.

39. Ni Lexiong, “Sea Power and China’s Development,” People’s Liberation Daily, April 17, 2005.

40. Liu Jiangping and Feng Xianhui, “Going Global: Dialogue Spanning 600 Years,” Beijing Liaowang in Chinese, July 11,

2005, pp. 14-15; Nayan Chandra, “Crouching Tiger, Swimming Dragon,” New York Times, April 11, 2005, p. A19.

41. Ioannis Gatsiounis, “Pirates Mock Malacca Strait Security,” Asia Times Online, April 9, 2005.

42. Liu, p. 16.

43. DoD, Annual Report to Congress: The Military Power of the People’s Republic of China, Washington, DC: U.S. Government

Printing Offce, 2005, p. 10.

44. Cheng, pp. 23-24.

45. Avery Goldstein, Rising to the Challenge: China’s Grand Strategy and International Security, Stanford, CA: Stanford

University Press, 2005, pp. 12-13.

46. Avery Goldstein, “China’s Grand Strategy and U.S. Foreign Policy,” Foreign Policy Research Institute, September 27,

2005, n.p.

47. Ibid.

48. Ibid.

49. Ibid.

50. Goldstein, Rising to the Challenge, pp. 121-123.

51. Goldstein, “China’s Grand Strategy and U.S. Foreign Policy.”

52. Robert B. Zoellick, “Whither China: From Membership to Responsibility?” Remarks to the National Committee on

U.S.-China Relations, September 21, 2005, n.p.

53. Ibid.

54. Ibid.

55. “China’s Position Paper on the New Security Concept,” Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China, July

31, 2002, n.p.

56. David M. Finkelstein, “China’s New Concept of Security,” GlobalSecurity.org, n.p.

57. Ibid.

58. Goldstein, Rising to the Challenge, p. 219.

59. Goldstein, “China’s Grand Strategy and U.S. Foreign Policy.”

60. “Central Asia and China’s Monroe Doctrine,” AsiaInt Political & Strategic Review, July 2005, p. 6.

61. “Kyrgyzstan: A Regional Alliance Threatens Washington’s Infuence,” Strategic Forecasting, July 11, 2005.

62. Seth Mydans, “New Group for Asian Century Shuns U.S.,” International Herald Tribune, December 12, 2005.

63. Robert G. Sutter, “China’s Rise in Asia: Bumps in the Road and Unanswered Questions,” PacNet Newsletter, No. 12,

March 17, 2005.

64. Ibid.

65. Ibid.

66. Ibid.

67. 2005 Report to Congress, p. 145.

68. Ding Xinghao and Yu Bin, “Bush-Hu Summit: Beyond Formalities,” PacNet Newsletter, No. 38C, September 2, 2005.

69. Robyn Lim, The Geopolitics of East Asia: The Search for Equilibrium, New York: Routledge, 2003, p. 169.

70. 2005 Report to Congress, p. 145.

71. Chietigj Bajpaee, “India, China Locked in Energy Game,” Asia Times Online, March 17, 2005.

72. “China Says Human Rights in Myanmar an Internal Issue,” Agence France Presse, December 14, 2005, n.p.

73. Zoellick, n.p.

74. “China’s Obsession with the Zoellick Speech,” Strategic Forecasting, November 8, 2005, n.p.

75. Ibid., n.p.

76. Ibid., n.p.

77. DoD, Quadrennial Defense Review Report, Washington, DC: U.S. Government Printing Offce, February 6, 2006, p. 29.

78. 2005 Report to Congress, p. 133.

79. Lim, p. 152.

80. Ibid., p. 151.

81. Kenneth Allen, “Reforms in the PLA Air Force,” China Brief, Vol. V, Issue 15, July 5, 2005, p. 3.

82. Thomas M. Kane, Chinese Grand Strategy and Maritime Power, London: Frank Cass Publishers, 2002, p. 90.

83. Lim, p. 152.

84. Ibid.

85. Data in Table 2 compiled from the Department of Defense, Annual Report to Congress: The Military Power of the People’s

Republic of China, Washington, DC, 2005, p. 44; Jane’s Information Group, September 28, 2005, n.p.; and GlobalSecurity.org,

John Pike, ed., September 28, 2005, n.p.

86. DoD, Quadrennial Defense Review Report, p. 29.

87. Donald H. Rumsfeld, address to Academy of Military Sciences, Beijing, October 20, 2005.

88. Glenn Kessler, “U.S. Says China Must Address Its Intentions: How Its Power Will Be Used Is of Concern,” Washington

Post, September 22, 2005, p. A-16.

89. Giuseppe Anzera, “The Modernization of the Chinese Navy,” Power and Interest News Report, September 12, 2005,

n.p.

90. Chandra, p. A19.

91. Henry A. Kissinger, “China Shifts Centre of Gravity,” The Australian, June 13, 2005, n.p.

92. Ibid.

93. Thomas J. Christensen, “Posing Problems Without Catching Up: China’s Rise and Challenges for U.S. Security

Policy,” International Security, Vol. 25, No. 4, Spring 2001, p. 7.

94. Lim, p. 115.

95. 2005 Report to Congress, p. 25; “China Economic Statistics and Analysis,” The United States-China Business Council.

96. Ibid.

97. Ibid.

98. 2005 Report to Congress, pp. 36-42.

99. George W. Bush, The National Security Strategy of the United States of America, March 16, 2006, p. 40.

100. Donald Rumsfeld, address to the Central Party School, Beijing, China, October 19, 2005.

101. Sutter, China’s Rise in Asia, p. 97.

102. Ibid, p. 99.

103. Lim, p. 170.

104. Sean McCormack, “Daily Press Briefng,” U.S. Department of State, February 7, 2006.

105. Goldstein, Rising to the Challenge, p. 122.

106. Lim, p. 171.

107. Ibid.

108. 2005 Report to Congress, p. 153.

109. Ibid., p. 154.

110. 2005 Report to Congress, testimony of former Undersecretary of State for Arms Control and International Security,

John Bolton, p. 158.

111. Zoellick, n.p.

112. Ibid.

113. 2005 Report to Congress, p. 2.

114. Ibid., p. 3.

115. Zoellick, n.p.

116. Bush, The National Security Strategy, p. 41.

117. Lim, p. 168.

118. Ibid.

119. Ibid., p. 169.

120. Ibid.

121. Goldstein, “China’s Grand Strategy and U.S. Foreign Policy,” n.p.

122. Richard Haass, “What to Do About China,” U.S. News and World Report, June 20, 2005, n.p.

123. Goldstein, “China’s Grand Strategy and U.S. Foreign Policy,” n.p.

124. Kissinger, n.p.

125. Goldstein, “China’s Grand Strategy and U.S. Foreign Policy,” n.p.

126. Kissinger, n.p.

127. Ibid.

128. Ibid.

129. Sutter, China’s Rise in Asia, p. 277.

130. Ibid., p. 278.

131. Bush, The National Security Strategy, p. 41.

132. Barry Desker, “Protecting the Malacca Strait,” PacNet Newsletter, No. 11, March 16, 2005, n.p.

133. Kissinger, n.p.

134. Brad Glosserman and Bonnie Glaser, “A New Relationship for the U.S. and China?,” PacNet Newsletter, No. 31A,

August 2, 2005, n.p.

135. DoD, Annual Report to Congress: The Military Power of the People’s Republic of China, Washington, DC: U.S. Government

Printing Offce, 2005, p. 11.

136. Bush, The National Security Strategy, p. 40.

137. Commons are the international waterways, airways, and other medium reserved for public use by the international

community. The commons typically are recognized as such in international treaties, and no nation asserts sovereignty over

the commons.

138. Robert D. Kaplan, “How We Would Fight China,” The Atlantic Monthly, June 2005, n.p.

139. Ibid.

140. Ibid.

141. George W. Bush, “Making America Secure by Transforming Our Military,” White House Fact Sheet, August 16, 2004,

n.p.

142. “U.S., Indian Airmen Take Next Step in Growing Relationship,” Air Force Print News, November 8, 2005, n.p.

143. Kaplan, n.p.

144. Bush, The National Security Strategy, p. 40.

145. Ibid.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: