Anhbaque’s Blog

Just another WordPress.com weblog

Bài 16: Sức mạnh ‘mềm’ của Trung Quốc ở Đông Nam Á

Posted by anhbahoa on November 23, 2009

Bài 16

Sức mạnh ‘mềm’ của Trung Quốc ở Đông Nam Á

China’s ‘soft power’ in Southeast Asia

BÁO CÁO CỦA BAN NGHIÊN CỨU QUỐC HỘI HOA KỲ(CRS)

4/ 1/ 2008

Thomas Lm, Wayne M. Morrison, và Bruce Vaughn

Chuyên gia về các vấn đề Châu Á, Quốc Phòng và Mậu  Dịch

Đ.V.P chuyển ngữ

Tóm tắt

Việc Trung Quốc tăng cường sử dụng “sức mạnh mềm” ở Đông Nam Á đã tạo ra những thách thức mới cho chính sách ngoại giao của Mỹ – trên những lĩnh vực không có sự can thiệp vũ trang như văn hóa, ngoại giao, viện trợ nước ngoài, thương mại và đầu tư. Bằng việc giảm nhẹ các mối xung đột và hợp tác với các quốc gia và những tổ chức trong khu vực về các vấn đề về tranh chấp lãnh thổ và mậu dịch, Bắc Kinh đã làm dịu đi mối lo âu của các nước Đông Nam Á về việc Trung Quốc là mối đe dọa về quốc phòng hoặc kinh tế. Sự tham gia của Trung quốc trong các vấn đề ngoại giao được các nước trong khu vực ủng hộ, vấn đề này được cho là thiếu sự quan tâm đúng mức hay hạn chế từ Mỹ. Việc Trung Quốc là nước có nguồn viện trợ chủ yếu và là thị trường cho các nước Đông Nam Á đã làm tăng cường mối quan hệ của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á. Nhiều nhà phân tích cho rằng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc ngày càng tăng thì có thể làm giảm được quyền lực và ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực.

Bản báo cáo này cung cấp những bằng chứng và những  phân tích về “sức mạnh mềm” của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Bản báo cáo này không thảo luận sự có mặt đáng kể của quân đội Mỹ tại khu vực, miêu tả  sự phát triển của chính sách ngoại giao và vai trò ngày càng chủ động của Trung Quốc đối với các tổ chức trong khu vực như Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á (ASEAN). Mặc dù nguồn viện trợ nước ngoài của Trung Quốc cho các nước Đông Nam Á cũng như cho các vùng khác khó có thể xác định được số lượng và hình thức viện trợ so với các nguồn viện trợ chính thức như nguồn viện trợ ODA của các nước công nghiệp phát triển, nhưng nó được cho rằng là tương đối lớn. Trung Quốc cũng được xem là “người bảo trợ chính về kinh tế” cho các quốc gia nhỏ nhưng có vị trí chiến lược quan trọng  là Myanmar, Campuchia, và Lào, và nó cung cấp một nguồn viện trợ kinh tế đáng kể cho Indonesia và Philippines.

Mậu dịch của Trung Quốc với các nước ASEAN ít hơn mậu dịch của Mỹ với khu vực (Trung Quốc: 160.9 tỷ đôla so với Mỹ: 168.5 tỷ đôla vào năm 2006), nhưng kim ngạch nầy được dự đoán sẽ vượt ngưỡng của Mỹ vào năm 2007 và còn tiến  xa hơn. Hơn nữa, mặc dù Trung Quốc có nhiều lợi nhuận thông qua thương mại mậu dịch với thế giới nhưng thương mại  với các nước ASEAN thì lại thâm hụt so với nguồn thu (Trung Quốc thâm hụt 53.9 tỷ đôla trong các hoạt động mậu dịch với các nước ASEAN so với Mỹ là 18.2 tỷ đôla  ). Thực tế cho thấy Trung Quốc đã đi nhanh hơn Mỹ trong việc thúc đẩy thương mại với các nước trong khu vực bằng việc ban hành Hiệp Ước Tự Do Thương Mại (FTAs). Tuy nhiên, mặc dù tầm ảnh hưởng của Mỹ đối với thương mại của ASEAN đã giảm sút phần nào so với Trung Quốc, nhưng Mỹ vẫn còn là một nước đầu tư trực tiếp (FDI) lớn thứ tư trong khu vực tính từ 2002 đến 2006 trong khi Trung Quốc đứng hạng 10.

Các nhà phân tích đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về mục đích lâu dài của Trung Quốc ở Đông Nam Á và những tác động của chúng đến Hoa kỳ . Một vài quan sát viên tranh luận rằng hệ quả của việc tăng cường “sức mạnh mềm” của Trung Quốc và mục đích của Bắc Kinh tại Đông Nam Á là sẽ làm suy giảm mức độ ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực. Một vài quan sát viên khác thì cho rằng sự gia tăng các mối quan hệ mật thiết của Trung Quốc không phải là không có kết quả, mà ít nhất trong khoảng 15-25 năm nữa thì ưu tiên hàng đầu của Bắc Kinh sẽ là phát triển kinh tế;  Các nhà lãnh đạo của Trung Quốc cũng như của các nước Đông Nam Á nhìn nhận vai trò lãnh đạo tiếp tục của Mỹ ở khu vực nầy là rất có lợi. Cạnh tranh với những bước tiếp cận của chính sách của Mỹ bao gồm việc duy trì sự tham gia của Mỹ về mặt kinh tế và chính trị tại khu vực, kiềm chế sự tăng trưởng của Trung Quốc và duy trì vai trò của Mỹ trong các vấn đề ngoại giao, viện trợ nước ngoài và kinh tế song song với với sự vươn lên của Trung Quốc. Bài báo cáo này sẽ được cập nhật theo từng sự kiện diễn ra

“SỨC MẠNH MỀM” CỦA TRUNG QUỐC Ở ĐÔNG NAM Á

Những nhà quan sát chính sách ngoại giao thường cho rằng sự gia tăng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á và các khu vực khác trên thế giới là do “sức mạnh mềm” của Trung Quốc – trong các lĩnh vực ngoại giao, hỗ trợ quốc tế, thương mại, đầu tư và quan điểm xem Trung Quốc như là một thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng(1). Một phần trong “chiến lược khả ái” đối với khu vực, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (PRC) đã tạo dựng nên hình ảnh của một quốc gia ôn hòa thông qua việc áp dụng những chính sách quốc tế hòa nhã hơn, chủ động tham gia vào các tổ chức khu vực, cung cấp nguồn viện trợ quan trọng, và tăng cường mối quan hệ kinh tế với khoảng lợi nhuận đáng kể đổ dồn về cho các nước Đông Nam Á(2). Theo một số nhà phân tích, việc Trung Quốc tăng cường sức mạnh trở nên nổi bật lên khác với mối quan hệ tẽ nhạt hoặc bất hợp lý của Mỹ đối với khu vực.

Thuật ngữ “sức mạnh mềm–soft power” (được hình thành bởi giáo sư của Đại Học Havard ông Joseph Nye, Jr ) đề cập đến khả năng  lôi kéo các nước khác bằng cách thu hút và thuyết phục các nước cùng  hướng tới mục tiêu chung nào đó của mình. Ngược lại, “chính sách ngoại giao hiếu chiến” thì lại được miêu tả thiên về sử dụng sức mạnh quân sự là chủ yếu. Nước Mỹ đã dùng cả sức mạnh quân sự(cứng) lẫn sức mạnh mềm đối với các nước Đông Nam Á. Trong sức mạnh mềm của Hoa Kỳ, nhiều người dân Đông Nam Á từ trước đến nay đã bị thu hút bởi nền văn hóa đại chúng, thể chế và giá trị dân chủ, các chính sách về nhân quyền, hệ thống thị trường tự do, tiêu chuẩn sống cao, tiến bộ công nghệ, hệ thống giáo dục chuẩn quốc tế Mỹ. Mỹ cũng là thị trường xuất khẩu rộng lớn của Đông Nam Á. Tuy nhiên, trong thập niên vừa qua cho thấy chính sách sử sụng sức mạnh mềm của Mỹ bị suy giảm cả về tương đối lẫn tuyệt đối.

Đối với nhiều nhà phân tích, sự tăng tầm ảnh hưởng hay sức mạnh mềm của Trung Quốc ở Đông Nam Á và những nơi khác hầu như diễn ra trên lĩnh vực kinh tế hơn là quân sự, văn hóa, hay chính trị. Trung Quốc có khả năng tác động ngày càng lớn đối với các quốc gia khác xuất phát từ vai trò là nguồn hỗ trợ chính cho viện trợ, thương mại, và đầu tư quốc tế. Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa  đã có được tiếng nói tại thông qua ngoại giao và một phần nào đó ngưỡng mộ Trung Quốc là một biểu mẩu đáng khâm phục về phát triển, văn hóa cổ kính và các “cùng chung gía trị Châu Á”. Thêm vào đó, cộng đồng người Hoa ở nước ngoài lâu nay cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, và văn hóa của các quốc gia ở Đông Nam Á.

Cùng với việc viện trợ tài chính Trung Quốc đã làm dịu bớt nổi lo lắng về các mối đe dọa quân sự hay kinh tế, đảm bảo với các nước láng giềng rằng Trung Quốc là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế và tạo ra lợi ích thật sự cho khu vực thông qua các nguồn viện trợ, mậu dịch và đầu tư.(4)

Trung Quốc có thể vượt qua Mỹ trong lĩnh vực sử dụng khá thành công “sức manh mềm” trong văn hóa và chính trị” ít nhất tại một số quốc gia trong khu vực nầy. Thăm dò của tổ chức nghiên cứu dư luận PEW*(Mỹ) vào năm 2007 cho biết 29% người Indonesia và 27% người Malaysia bày tỏ có cái nhìn thân thiện với nước Mỹ trong khi đó 83% người Malaysia và 65% người Indonesia có quan điểm tốt với Trung Quốc. Người Mỹ bản thân họ được nhiều người thích hơn người cùng nước, với  42% người Indonesia bày tỏ quan điểm thân thiện đối với người Mỹ (vào năm 2007). Con số thể hiện quan điểm tốt với nước Mỹ của người Indonesia tăng nhẹ chỉ khoảng 15% vào năm 2003 và duy trì ở mức dưới 75% vào năm 2000(5). Một con số khác theo cuộc khảo sát năm 2007(6) đi ngược lại xu thế đó là người Philippines xếp vị trí thứ nhất trên thế giới về đặt niềm tin đối với các hành động của Mỹ trong các vấn đề toàn cầu. Từ những kết quả thăm dò này,  Joseph Nye cho rằng “Mặc dù Trung Quốc vẫn còn rất xa đối với Mỹ trong việc sử dụng sức mạnh mềm, nhưng sẽ là một điều ngớ ngẫn nếu chúng ta bỏ qua những gì mà Trung Quốc đã đạt được gần đây…” Đây là thời điểm mà Mỹ cần chú ý nhiều hơn nữa đến sự cân bằng “sức mạnh mềm” tại châu Á”(7).

Chính sách ngoại giao của Trung Quốc tại Đông Nam Á

Vị thế của Trung Quốc trong thập kỉ qua đã có nhiều chuyển biến. Sự hỗ trợ của Trung Quốc cho các cuộc nổi dậy của cộng sản tại khu vực trong chiến tranh lạnh, sự đáp trả bằng quân sự đối với việc tấn công bất ngờ của Việt Nam vào Campuchia vào năm 1979, và các tuyên bố đầy tính quyền lực đối với hòn đảo còn đang tranh chấp tại khu vực biển phía Nam Trung Quốc trong những năm 90 đã tạo ra căng thăng với các nước láng giềng trong khu vực. Tuy nhiên  cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 xảy ra, , Trung Quốc tăng cường nhấn mạnh các lợi ích song phương trong mối quan hệ với các nước Đông Nam Á, và sử dụng sức mạnh mềm thay vì chính sách hiếu chiến hay là các nguy cơ chiến trang vũ trang. Năm 1997 trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Trung Quốc đã nhận được sự tán dương của khu vực trong việc kiềm chế sự mất giá của đồng Nhân dân tệ giúp ổn định kinh tế  ở khu vực. Vào năm 2002, Trung Quốc và các nước tranh chấp chủ quyền về các hòn đảo tại khu vực ký vào “Tuyên bố về Cách ứng xử trên biển Đông”góp phần rất lớn trong việc làm giảm căng thẳng trong khu vực về vấn đề trên. Điều dễ nhận thấy rằng các chiến lược của Trung Quốc đã chuyển sang thái độ mềm dẻo hơn và tập trung vào sức mạnh mềm tuy nhiên vẫn không đảm bảo rằng Trung Quốc đã thay đổi mục tiêu thông qua các hành động này.

Các quan hệ song phương và quan hệ trong khu vực

Một nghiên cứu về các quan hệ song phương của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á cho thấy có sự phân chia trong khu vực trong vùng như vị trí ảnh hưởng mạnh của Trung Quốc đối với các quốc gia trong đất liền đặc biệt là Myanma, Campuchia và Lào và vị trí ít ảnh hưởng hơn với các nước đảo quốc như Indonesia, Philippines và Singapore.

Thái lan (có sự độc lập nhiều hơn so với các nước như Myanma, Lào và Campuchia) và Philippines (đồng minh chính của Mỹ không thuộc tổ chức NATO) trong có vẻ thỏa mái hơn trong các quan hệ thân mật với Trung Quốc so với các nước khác trong khu vực.

Đạo Hồi tại khu vực (Indonesia, Malaysia) không tạo được sự chú ý của Trung Quốc vì họ sống theo các khuôn mẫu vượt xa phạm vi quốc gia. Một điều dễ thấy đó là Đạo Hồi chiếm gần phân nữa dân số Đông Nam Á và tập trung chủ yếu ở khu vực biển do vậy đây là vùng làm giảm sự mở rộng của ảnh hưởng của Trung Quốc. Mối quan hệ lịch sử đặc biệt của Việt Nam với Trung Quốc, quốc gia từng bị đô hộ bởi Trung Quốc và chiến tranh ở biên giới(1979) gần đây cũng làm hạn chế sự tiến lại gần nhau của hai nước. Singapore, một quốc gia có tầm suy nghĩ chiến lược và độc lập về mậu dịch trong khu vực làm thúc đẩy sự cân bằng về các thế lực ảnh hưởng tại khu vực.

Một điểm khác biệt cơ bản giữa sức mạnh mềm của Trung Quốc và Mỹ tại Đông Nam Á là nguyên tắc tổ chức các phương pháp tiếp cận tương ứng của họ. Cả hai chiến lược ngoại giao của hai nước đối với khu vực chứa các yếu tố ưu tiên bao gồm vị trí địa lý chính trị, an ninh, và tầm quan trọng mậu dịch. Chính sách ngoại giao của Mỹ tập trung vào dân chủ và các mục tiêu có liên quan trong đó có tăng cường lợi ích chính về an ninh của Mỹ. Ngược lại, “chính sách không can thiệp” của Trung Quốc ít xâm phạm vào các vấn đề nội bộ của khu vực. Trong khi phương pháp này có thể không đạt được sự khâm phục rộng rãi nhưng nó có thể làm ôn hòa dễ chịu đối với các chế độ độc tài trong khu vực và thỉnh thoảng lại được dư luận đánh giá cao bởi vì nó đảm bảo tôn trọng chủ quyền quốc gia.

Sự thay đổi chính sách song phương của Trung Quốc với Úc là sự so sánh thú vị  với sức năng động ngày nay của  Đông Nam Á và cho thấy diện mạo về kinh tế của sức mạnh mềm có thể  thay đổi  như thế nào quan hệ song phương với Úc, nước vốn là đồng minh thân cận của Mỹ. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế của Úc trong những năm gần đây nhờ vào mở rộng xuất khẩu nguyên liệu thô cho Trung Quốc. Điều này thể hiện sự im lặng của Úc trong việc chấp nhận các chính sách có thể làm gây phản cảm đối với Trung Quốc và có thể thậm chí dẫn đến ý kiến tranh luận rằng liệu có hay không việc đồng minh Úc và New Zealand và Mỹ còn có khả năng đối phó trong tương lai khi TQ có xung đột với Đài Loan. Úc không muốn bị ép phải chọn giữa khối đồng minh siêu cường và quan trọng về mặt an ninh với Mỹ và sự phát triển mậu dịch sinh lợi với Trung Quốc(9).

Các tổ chức trong khu vực

Trung Quốc dần dần trở thành một thành viên rất năng động trong các tổ chức có quan hệ đa phương ví dụ như ASEAN + 3  – (ASEAN, Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc) – Hội nghị thượng đỉnh Đông Nam Á  (EAS) bao gồm Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc và New Zealand và các nước ASEAN khác. Chính sách ngoại giao xoay quanh việc thành lập EAS vào năm 2005 là một điểm đáng chú ý. Việc thành lập EAS mà không có sự tham gia của Mỹ là một điều trái ngược với thực tế là Mỹ vốn đóng một vai trò chủ đạo trong tổ chức nhóm APEC(10). Sự thành lập EAS cũng thể hiện các quan điểm khác nhau giữa các thành viên ASEAN đối với Trung Quốc. Một số nước ASEAN muốn năng quan hệ “phi-Mỹ” như Ấn Độ, Úc và New Zealand  nhằm đối trọng với Trung Quốc (mà không có sự tham gia của Mỹ) . Một nhân tố khác ủng hộ Trung Quốc phát xuất từ lòng mong muốn ngày càng tăng cường quan hệ giữa  nhóm nước thuộc Châu Á . Điều này cho thấy mong muốn cần có sự hợp tác “giữa các nước tại khu vực Châu Á” hơn là sự hợp tác vượt đại dương trong đó có sự tham gia của Mỹ(11). Sự chuyển biến theo hướng này đã được đề cập bởi Thủ Tướng Malaysia Mahathir Mohammad trong cuộc họp kín về kinh tế Đông Nam Á. Ông đã chủ trương thành lập “Liên minh hợp tác Kinh tế Đông Á” chỉ có các nước Châu Á tham gia.

VIỆN TRỢ NƯỚC NGOÀI CỦA TRUNG QUỐC CHO CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

Viện trợ nước ngoài của Trung Quốc cho Đông Nam Á đã có những tác động rõ ràng và ngày càng tăng đối với các nước Đông Nam Á mặc dù rất khó có thể tính toán con số chính xác do thiếu các nguồn dữ liệu và do tính chất khá đặt biệt của các nguồn viện trợ từ Trung Quốc(12). So với các nước viện trợ song phương chính tại khu vực, Trung Quốc viện trợ khá khiêm tốn cho sự phát triển và thiếu một hệ thống chính thức để có thể xác định được các mục tiêu phát triển và phân chia viện trợ(13). Trung Quốc quản lý số lượng lớn các viện trợ kinh tế bao gồm viện trợ không nhằm mục đích phát triển, các khoản vay lãi suât thấp và các hiệp ước đầu tư và mậu dịch. Theo một vài nhà phân tích khi các nguồn viện trợ này được tăng cường thì Trung Quốc trở thành một trong những nước có nguồn viện trợ song phương lớn nhất tại Đông Nam Á. Ngoài ra vì Trung Quốc viện trợ mà không đòi hỏi điều kiện như các nước viện trợ khác thường yêu cầu (cải tổ dân chủ, mở rộng thị trường và bảo vệ môi trường…) nên Trung Quốc nhận được tán dương mặc dù không tương xứng với nguồn viện trợ và do dó Trung Quốc có sự ảnh hưởng lớn đối với các quốc gia nhận viện trợ(14). Chính sách ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ” của Trung Quốc thường nhận được sự ủng hộ của các chính các nước Đông Nam Á cùng như nhiều người dân trong khu vực bởi vì điều này được xem như là sự tôn trọng chủ quyền quốc gia các nước. Mặc dù viện trợ của Trung Quốc thường không phải là các khoản nợ nhưng nó được xem như là sự hậu đãi đối với các quốc gia và nó có nhiều giá trị tinh thần hơn.(15) Rất nhiều dự án viện trợ ví dụ như xây dựng các tòa nhà cho chính phủ, cơ sở hạ tầng và các tiện nghi về năng lượng thường được hỗ trợ thông qua các khoản vay từ ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Trung Quốc và được xây dựng bởi các công ty Trung Quốc là các nỗ lực đáng khen ngợi nhằm tạo nhiều lợi ích cho các thành phố trung tâm và cho chính phủ về mặt quyền lực. Rất nhiều chuyên gia về viện trợ nước ngoài và các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức trong khu vực phê phán việc viện trợ của Trung Quốc không nhằm mục đích đẩy mạnh sự phát triển dân chủ, không mang tính chất rộng rãi và bền vững và không bảo vệ môi trường.

HỖ TRỢ CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC KÉM PHÁT TRIỂN TRONG KHU VỰC

Nhiều báo cáo về nguồn tài trợ của Trung Quốc tập trung tại khu vực chủ yếu như Myanma, Campuchia và Lào được xem như là những nước nghèo nhất trong khu vực Đông Nam Á và có quan hệ không tốt với Mỹ. Trung Quốc được xem là “Ông chủ bảo trợ chính về kinh tế” và tạo được sự “an toàn tuyệt đối”(16) đối với các nước này. Hỗ trợ của Trung Quốc đối với Việt Nam đáng kể mặc dù trước đây từng là kẻ thù nhưng vẫn còn hạn chế so với các nước khác. Mỹ là nguồn hỗ trợ tài chính lớn tại Việt Nam và Campuchia(17). Tuy nhiên theo số liệu thống kê về các hỗ trợ phát triển (không bao gồm Trung Quốc), Nhật Bản là nước có nguồn hỗ trợ song phương lớn nhất đối với các nước này.

Nhiều nhà quan sát lo ngại rằng nỗ lực hỗ trợ tài chính không điều kiện và không minh bạch của Trung Quốc và sự hội nhập kinh tế ngày càng tăng sẽ làm lu mờ các nỗ lực của các nước phương tây trong tăng cường cải tổ chính trị và kinh tế, hạn chế tham nhũng và bảo vệ mội trường tại các nước Đông Nam Á. Các nhà quan sát khác thì cho rằng để tạo thế cân bằng, Trung Quốc viện trợ nhằm tăng cường sự phát triển tại khu vực Đông Nam Á và điều này không phủ nhận các chương trình hỗ trợ và mục tiêu của các nước khác. Ngoài ra trong một số trường hợp Trung Quốc đảm nhận các dự án hỗ trợ mà các quốc gia khác từ chối do khó khăn hay nặng nhọc. Trong những năm gần đây. Trung Quốc hỗ trợ tài chính xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng và các dự án về nguồn năng lượng tại Myanma, Campuchia, Lào tạo nên sự tin tưởng đối với Trung Quốc về chất lượng nguyên liệu, các chuyên gia kỹ thuật và lao động. Các dự án này thường giúp Trung Quốc tiếp cận các nguồn nhiên liệu và dầu thô. Có một số yếu tố chứng tỏ các hỗ trợ của Trung Quốc trong khu vực đang được đa dạng hóa ví dụ hỗ trợ chống tệ buôn bán người, các nỗ lực chống sử dụng vận chuyển ma túy và các chương trình ví dụ tình nguyện viện trẻ Trung Quốc (Lào), bầu cử (Campuchia) và bảo tồn lịch sử (Campuchia)(18).

Myanma

Theo một số báo cáo Trung Quốc là nước có nguồn hỗ trợ tài chính lớn nhất tại Myanma bao gồm khoảng từ 1.4 tỷ đôla đến 2 tỷ đôla  trang bị vũ khí chế độ quân phiệt từ năm 1988 và viện trợ gần 5 tỷ đôla  bao gồm các khoản nợ, các hỗ trợ cho các nhà máy, trang thiết bị và đầu tư khai thác mỏ, thủy điện, sản xuất dầu mỏ và khí đốt và các dự án về nông nghiệp(19). Trung Quốc cũng giúp đỡ Myanma xây dựng đường sá, đường rầy xe lửa, các sân bay và bến cảng. Sau khi có lệnh cấm vận tài chính của Mỹ đối với Myanma áp đặt vào năm 2003 Trung Quốc thông báo sẽ cho Myanma vay một khoản nợ 200 triệu đôla. Năm 2006 Trung Quốc hứa sẽ cho vay một khoản nợ khác 200 triệu đôla mặc dù một số chuyên gia cho rằng lời hứa này sẽ không bao giờ được thực hiện(20). Nguồn hỗ trợ của Mỹ cho Myanma (ước tính khoảng 12 triệu vào năm 2007) chỉ tập trung vào các lĩnh vực nhân đạo, y tế, giáo dục và các chương trình dân chủ cho người tỵ nạn và nhập cư Myanma  sống dọc theo biên giới Myanma và Thái Lan. Nhật bản được xem là nước có nguồn viện trợ song phương cho Myanma lớn nhất , bình quân khoảng 26 triệu đôla/năm (2004 – 2005)(21).

Campuchia

Nhật bản, Mỹ, Pháp, Úc và Đức là những nước có viện trợ ODA lớn nhất cho Campuchia.  Các nguồn viện trợ nước ngoài đến với Campuchia được điều phối bởi một nhóm nhà tư vấn (gọi là nhóm CG)– một tổ chức các tổ chức tài chính quốc tế và các nước viện trợ thông qua sự xem xét của ngân hàng thế giới. Từ năm 1996, nhóm CG họp hằng năm để mở rộng gói viện trợ trung bình khoảng 500 đôla mỗi năm(22). Trung Quốc là nước có viện trợ phát triển khá khiêm tốn nhưng có thể là một trong các nước có nguồn tài trợ lớn nhất nếu tính cả các khoản nợ, các hỗ trợ về các hoạt động quần chúng, cơ sở hạ tầng và các dự án về nguồn năng lượng tại Campuchia. Vào năm 2006 Thủ Trướng Ôn Gia Bảo tuyên bố sẽ viện trợ và cho vay cho  Campuchia vay số tiền lên đến khoảng 600 triệu đôla.

Vào năm 2007 lần đầu tiên Trung Quốc viện trợ thông qua sự tiến trình xem xét cho vay của nhóm CG. Nhóm CG đồng ý hỗ trợ cho vay Campuchia  khoản 689 triệu đôla   trong đó có 91.5 triệu đôla từ Trung Quốc(23). Trong giai đoạn từ năm 2007 – 2009, Trung Quốc cho vay khoản 236 triệu đôla (không xác định mục tiêu) so với 337 triệu đôla từ Nhật và 215 triệu đôla từ EU(24). Campuchia là nước nhận viện trợ khá lớn từ Mỹ. Nguồn viện trợ hàng năm của Mỹ cho Campuchia sắp xỉ 55 triệu đôla từ năm 2006 -2007 trong các lĩnh vực y tế, các chương trình HIV/AIDS, giáo dục phổ thông, an sinh xã hội, tháo gỡ mìn, các nỗ lực chống khủng bố và các hoạt động khác hầu hết thông qua các tổ chức phi chính phủ (NGO) tại Campuchia.

Lào

Lào nhận viện trợ hàng năm sắp xỉ 250 triệu đôla (chiếm 20% GDP) bao gồm các khoản vay khoảng 80 triệu đôla từ Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và 40 triệu đôla từ Ngân hàng Thế Giới(25). Theo một báo cáo, vào năm 2001-2002, Trung Quốc là nước viện trợ lớn thứ hai đối với Lào(26). Các nước có nguồn viện trợ phát triển chính thức (từ năm 2004-2005) hàng năm lớn nhất đối với Lào bao gồm Nhật Bản (65 triệu đôla), Pháp (21 triệu đôla), Thụy điển (19 triệu đôla), Đức (15 triệu đôla) và Úc (12 triệu đôla)(27). Từ những năm cuối thập niên 90, Trung Quốc viện trợ một nguồn vốn khá lớn, các khoản vay lãi suất thấp, các dự án phát triển gây nhiều sự chú ý, các hỗ trợ kỹ thuật và đầu tư nước ngoài. Các viện trợ dưới hình thức hỗ trợ phát triển hay các hình thức khác bao gồm xây dựng cho cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, các dự án thủy điện trị giá khoản 178 triệu đôla, hỗ trợ tình nguyện viên trẻ tham gia các chương trình về y tế và giáo dục và các khóa tập huấn về nông nghiệp. Vào năm 2006 chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào viếng thăm Viêngchăn và viện trợ 45 triệu đôla trong hợp tác về kinh tế và kỹ thuật và xóa nợ. Mỹ là nước có nguồn vốn viện trợ khá thấp với kim ngạch viện trợ trung bình hàng năm khoảng 4.5 triệu đôla từ năm 2005 đến 2007.

Việt Nam

Theo một số báo cáo, Trung Quốc là nước có nguồn viện trợ cho Việt Nam lớn thứ hai (bao gồm tiền viện trợ và các khoản nợ). Vào năm 2005 Trung Quốc viện trợ gần 200 triệu đôla bao gồm tiền trợ cấp và các khoản vay(28). Vào năm 2006 Bắc Kinh cho Việt Nam vay để xây dựng hệ thống đường xe lửa, phát triển các nhà máy thủy điện, và các phương tiện đóng tàu. Nhật và Pháp là hai nước có nguồn viện trợ ODA lớn thứ hai đối với Việt Nam với số tiền viện trợ trung bình hàng năm là 670 triệu đôla (Nhật) và 116 triệu đôla (Pháp) vào các năm 2004 – 2005(29). Theo một số chuyên gia, so với Myanma, Campuchia, Lào ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Việt Nam là rất hạn chế. Vào tháng 12 năm 2006, Bắc Kinh ngưng viện trợ cho Việt Nam để đáp trả lại lời mời Đài Loan chính thức tham dự hội nghị thượng đỉnh APEC tháng 11 năm 2006 tại Hà Nội(30) .

VIỆN TRỢ CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á ĐÃ PHÁT TRIỂN NHANH HƠN.

Trung Quốc cũng viện trợ khá lớn đối với các nước đã phát triển nhanh hơn như Thái Lan, Indonesia, Philippines. Tuy nhiên, các nước này cũng mở rộng quan hệ về an ninh, kinh tế và viện trợ với Mỹ. Từ năm 2001 Mỹ tăng cường viện trợ đáng kể cho Indonesia và Philippines về mặt an ninh, quân sự như là một phần của cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu. Ngoài ra Nhật vượt cả Mỹ và Trung Quốc về viện đối với các quốc gia này đặt biệt là Thái Lan. Trung Quốc chỉ có một vài dự án viện trợ tại Thái Lan. Tuy nhiên sau khi chính phủ Mỹ  áp đặt trừng phạt quân sự và các hỗ trợ có liên quan đến an ninh cho Thái Lan, Mỹ đã cắt giảm khoảng 29 triệu đôla sau cuộc đảo chính vào tháng 9 năm 2006. Có nguồn  tin cho biết  Trung Quốc đã viện trợ  49 triệu đôla cho Thái Lan về quân sự và huấn luyện trong quân đội(31).

Indonesia

Theo Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển OECD, các nước sau đây là  nước viện trợ trung bình lớn nhất cho Indonesia từ năm 2004 – 2005 : Nhật (963 triệu đôla), Đức (191 triệu đôla), Mỹ (163 triệu đôla), Úc (145 triệu đôla) và Hà Lan (128 triệu đôla). Trong giai đoạn 2002 – 2007 tổng kim ngạch viện trợ của Mỹ cho Indonesia là khoảng 136 triệu đôla(32). Theo một chuyên gia, vào năm 2002 viện trợ của Trung Quốc tới Indonesia là gấp 2 lần viện trợ của Mỹ(33). Vào năm 2005 Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và Tổng Thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono ký tuyên bố “đối tác chiến lược” và với cam kết sẽ viện trợ nguồn vay ưu đãi trị giá khoảng 300 triệu đôla. Một số chuyên gia về viện trợ nước ngoài phê phán Trung Quốc về viện trợ quá ít cho cứu trợ sau thảm họa thiên nhiên như động đất và sóng thần tại Ấn Độ Dương vào năm 2004. Các khoản vay của Indonesia từ Trung Quốc là 63 triệu đôla trong khi đó từ Đài Loan là 50 triệu đôla và từ Mỹ là 405 triệu đôla.

Philippines

Năm nước sau đây viện trợ ODA trung bình hàng năm lớn nhất cho Philippines là Nhật (706 triệu đôla), Mỹ (114 triệu đôla), Đức (60 triệu đôla), Úc (38 triệu đôla) và Hà Lan (28 triệu đôla). Vào năm 2006, Mỹ tăng cường viện trợ cho Philippines về mặt phát triển, an ninh, quân sự với số tiền khoảng 115 triệu đôla(34). Theo các nguồn khác Trung Quốc trở thành nguồn tài trợ chính cho các dự án phát triển tại Philippines vào năm 2003. Các nguồn tài trợ này bao gồm các khoản vay lớn gấp 3 lần viện trợ của Mỹ(35). Vào tháng 1/2007 Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo và Tổng Thống Philipines Arroyo ký hiệp 20 hiệp ước kinh tế bao gồm một hợp đồng cho các công ty Trung Quốc xây dựng và cải tạo các đường xe lửa, đầu tư vào nông nghiệp, và các khoản nợ để phát triển nông thôn(36).

SO SÁNH QUAN HỆ VỀ KINH TẾ GIỮA MỸ, TRUNG QUỐC VÀ CÁC NƯỚC ASEAN

Trong thập kỷ qua, thương mại giữa Trung Quốc với 10  nước thuộc hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) phát triển vượt bật về mặt số lượng, tỉ lệ và phạm vi so với Mỹ(37). Theo số liệu thống kê của Trung Quốc từ năm 1997-2006 xuất khẩu tới các nước ASEAN tăng 450% và nhập khẩu từ các nước ASEAN tăng 625%(38). Thông qua thương mại, đầu tư và du lịch, tầm quan trọng của Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á được tăng cường mạnh mẽ. Những khuynh hướng này tiên đoán là sẽ tiếp tục trong các năm tới khi mối quan hệ kinh tế được thắt chặt thông qua ký kết thực hiện Hiệp Ước Tự Do thương mại (FTA) và các sâng kiến hợp tác khác(39). Sức mạnh mềm của Trung Quốc trong khu vực dự đoán sẽ tăng khi các nền kinh tế Đông Nam Á ngày trở nên phụ thuộc hay hội nhập của Trung Quốc. Mặc dù Mỹ vẫn còn là đối tác quan trọng đối với ASEAN về mặt thương mại nhưng vai trò của Mỹ ngày càng suy giảm.

SO SÁNH THƯƠNG MẠI GIỮA MỸ, TRUNG QUỐC VỚI ASEAN

Theo thống kê của Trung Quốc, từ năm 1997 đến 2006 nhập khẩu từ ASEAN tăng từ 12.4 tỷ đôla đến 89.5 tỷ đô la trong khi nhập khẩu của Mỹ (theo số liệu thống kê về thương mại từ Mỹ) tăng từ 71.2 tỷ đô la tới 111.2 tỷ đô la(40). Xuất khẩu của Trung Quốc tăng từ 12.7 tỷ đôla đến 71.2 tỷ đôla trong khi xuất khẩu của Mỹ tăng từ 48.3 tỷ đôla đến 57.3 tỷ đôla(41).  Mậu dịch của Mỹ (bao gồm xuất khẩu và nhập khẩu) với ASEAN vào năm 2006 chỉ lớn hơn Trung Quốc một ít (Mỹ: 168.5 tỷ đôla và Trung Quốc: 160.9 tỷ đôla). Theo xu thế tăng trưởng mậu dịch một cách nhanh chóng của Trung Quốc trong các năm qua, dự đoán mậu dịch giữa Trung Quốc và ASEAN sẽ vượt Mỹ vào năm 2007 và trong giai đoạn tiếp theo. Trong khi Trung Quốc có được 178 tỷ đôla giá trị thăng dư từ mậu dịch với thế giới vào năm 2006 và thâm hụt trong mậu dịch đối với ASEAN là 18.2 tỷ đôla trong khi đó kim ngạch thâm hụt trong mậu dịch đối với ASEAN của Mỹ là 53.9 tỷ đôla.

Từ đó cho thấy ASEAN được xem là thị trường nhập khẩu lớn thứ tư đối với Trung Quốc vào năm 1997 và năm 2006 và cũng như là thị trường nhập khẩu tiềm năng của Mỹ. Do là thị trường nhập khẩu tiềm năng đối với Trung Quốc nên vị trí xếp hạng về mặt thị trường nhập khẩu của ASEAN đối với Trung Quốc tăng từ thứ Năm lên thứ Ba trong khi đó vị trí của Mỹ giảm từ thứ Tư xuống thứ Năm. Cổ phần xuất khẩu của Trung Quốc tới ASEAN khá khiêm tốn từ 7.0% đến 7.4% trong khi đó cổ phần xuất khẩu của Mỹ giảm từ 7.0% xuống 55%.  Tỷ phần nhập khẩu của Trung Quốc từ ASEAN tăng từ 9.0% đến 11.3% trong khi đó tỷ phần nhập khẩu của Mỹ từ ASEAN giảm từ 8.2% đến 6.0%. (xem bảng 1)

Bảng 1. Mậu dịch giữa Trung Quốc, Mỹ với ASEAN

1997 2005 2006 2005-2006 1997-2006
Xuất khẩu của Trung Quốc đến ASEAN (tỷ đôla) 12.698 55.459 71.325 28.6 450.0
Xuất khẩu của Mỹ đến ASEAN (tỷ đôla) 48.271 49.637 57.307 15.5 18.7
Tỷ lệ tổng số lượng xuất khẩu của Trung Quốc tới ASEAN 7.0 7.3 7.4 __ __
Tỷ lệ tổng số lượng xuất khẩu của Mỹ tới ASEAN 7.0 5.5 5.5 __ ___
Nhập khẩu của Trung Quốc từ ASEAN (Tỷ đôla) 12.357 75.017 89.538 19.4 614.6
Nhập khẩu của Mỹ từ ASEAN (Tỷ đôla) 71.013 98.91 111.201 12.4 56.6
Tỷ lệ tổng số lượng nhập khẩu của Trung Quốc từ ASEAN 9.0 11.4 11.3 __ __
Tỷ lệ tổng số lượng nhập khẩu của Mỹ từ ASEAN 8.2 5.9 6.0 __ __

Nguồn: Atlat Mậu Dịch thế giới

Ghi chú: Theo số liệu Mậu dịch của Trung Quốc và Mỹ

Năng lượng

Kim ngạch nhập khẩu nguồn nhiên liệu khoáng sản của Trung  Quốc từ ASEAN tăng từ 3.3 tỷ đôla vào năm 1997 đến 7.4 tỷ đôla năm 2006. Tuy nhiên, tỷ lệ tổng số lượng nhập khẩu nhiên liệu thô của Trung Quốc từ ASEAN giảm từ 26.8% vào năm 1997 xuống 8.2% trong thời gian nầy. Dù vậy TQ vẫn phát triển chặt ché quan hệ với ASEAN qua nhiều dự án về năng lượng(42). Cụ thể như sau

  • Vào năm 2007,  Tân Hoa Xã(Xinhua News Agency) đưa tin Tập đoàn dầu hỏa quốc gia Trung Quốc ký hợp đồng với hợp tác sản xuất với Bộ Năng Lượng Myanma về các dự án khai thác dầu thô và khí đốt thiên  nhiên tại ba khu vực biển sâu ngoài bờ biển Myanma, tờ Reuters đưa tin công ty dầu dầu hỏa Trung Quốc sẽ liên kết với hai công ty nước ngoài để sản xuất nhiên liệu sinh học tại Indonesia và Dow Jones Chinese financial Wire báo cáo rằng chính phủ Việt Nam gần đây đã cho phép công ty quốc doanh Petro Vietnam bắt đầu hợp tác với tập đoàn dầu hỏa quốc gia Trung Quốc về khai thác dầu mỏ và khí đốt tại vnh Bắc Bộ( Tonkin).
  • Vào tháng Tư năm 2007, Tân Hoa Xã  đưa tin rằng Trung Quốc sẽ xây dựng đường ống dẫn khí đốt thiên nhiên từ cảng Sittwe của Myanma tới Côn Minh(Kunmin) Trung Quốc.
  • Vào tháng Năm 2007,  đài BBC Monitoring đưa tin hai công ty Trung Quốc có kế hoạch đầu tư 343 triệu đôla cho nhà máy lọc dầu và nhà máy sản xuất gas tại Pahang, Malaysia.
  • Vào tháng Sáu 2007, thông tấn Intefax Trung Quốc đưa tin các công ty dầu Trung Quốc có kế hoạch đầu tư 14 tỷ đôla để khai thác dầu mỏ và khí đốt tại Indonesia và  Việt Nam News đưa tin chính phủ Việt Nam có kế hoạch hợp tác xây dựng nhà máy lọc dầu với kinh phí 360 triệu đôla.
  • Vào tháng Chín năm 2007, Tân Hoa Xã đưa tin Trung Quốc sẽ xây dựng đường ống dẫn dầu từ Myanma (Burma) tới Trùng Khánh(Chongqing), Trung Quốc.

Tầm quan trọng đối với ASEAN về hợp tác mậu dịch với Trung Quốc và Mỹ.

Theo quan điểm của ASEAN, Trung Quốc đang dần trở thành đối tác thương mại quan trọng. Theo số liệu của ASEAN, Trung Quốc xếp hạng ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ năm vào năm 2005 (Mỹ đứng hàng thứ Hai), thị trường xuất khẩu lớn thứ Năm (Mỹ đứng thứ 2) và thị trường nhập khẩu lớn thứ ba (Mỹ đứng hàng thứ tư).

Số liệu thống kê của ASEAN cho thấy vào năm 2006 mậu dịch với Mỹ chiếm 174.4 tỷ đôla và Trung Quốc chiếm 143.8 tỷ đôla. Theo bảng 2 xuất khẩu của ASEAN sang Trung Quốc so với tổng số xuất khẩu của ASEAn tăng từ 2.1% vào năm 1995 lên 8.9% vào năm 2006 (trong khi đó đối với Mỹ giảm từ 18.5% xuống khoảng 13.9%)45. Tỷ lệ nhập khẩu của ASEAN từ Trung Quốc tăng từ 2.2% lên đến 11.4% (trong khi đó đối với Mỹ giảm từ 14.6% lên đến 10.3%).46

Bảng 2: Tỷ lệ Mậu dịch của của ASEAN với Mỹ và

Trung Quốc vào 1995, 2000 và 2006.

(phần trăm)

NHẬP KHẨU CỦA ASEAN (% tổng cộng)
1995 2000 2006
Mỹ 14.6 14.0 10/3
Trung Quốc 2.2 5.2 11.4
XUẤT KHẨU CỦA ASEAN (% tổng cộng)
1995 2000 2006
Mỹ 18.5 18.0 13.9
Trung Quốc 2.1 3.5 8.9

Nguồn: Ban thư ký ASEAN, 2005 và 2006 kỷ yếu ASEAN và Quỹ tiền tệ quốc tế, Thống kê mậu dịch, tháng 6/2007

Ghi chú: Số liệu không bao gồm Lào và Myanma; số liệu mậu dịch ASEAN sẽ khác với báo cáo của các đối tác mậu dịch.

Đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI)

Mặc dù tầm quan trọng của Mỹ đối với ASEAN trong mậu dịch giảm so với Trung Quốc nhưng Mỹ vẫn còn là nơi đầu tư nước ngoài trực tiếp quan trọng. Từ năm 2002 – 2006, vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp của Mỹ cho ASEAN là 13.7 tỷ đôla (hoặc 8.0% tổng cộng), qua đó Mỹ được xếp hạng, là  nước có nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp (FDI) đứng hàng thứ tư đối với ASEAN (xem bảng 3)43. Vào năm 2006, tổng số vốn đầu tư FDI của Mỹ tại ASEAN là 3.9 tỷ đôla so với 937 triệu đôla của Trung Quốc).

Du lịch. Theo số liệu thống kê về du lịch của ASEAN, Trung Quốc là nguồn khách du lịch đến ASEAN lớn thứ ba từ năm 2001 dến 2005 khoảng 13.8 triệu lượt chiểm tỷ lệ 6.2% trên tổng số. Mỹ đứng xếp hạng thứ tám khoảng 9.8 tiệu lượt chiểm tỷ lệ 4.4% trên tổng số. Vào năm 2005 số lượt khách từ Trung Quốc là 3.0 triệu trong khi đó Mỹ là 2.3 triệu.48

Bảng 3: CÁC NHÀ ĐẦU TƯ TẠI ASEAN: 2002 – 2006

(triệu và % của tổng cộng)

2006 2002 – 2006 (Tích lũy)
Giá trị Phần trăm của tổng Giá trị Phần trăm của tổng
Liên Minh Châu Âu 13362 255 44956 26,3
Nhật 18803 18.0 30814 18,0
Đông Nam Á 3765 11,9 19368 11,3
Mỹ 3865 7,4 13736 8,0
Trung Quốc 937 1,8 2303 1,3
Tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 52380 ____ 170822 ___

Nguồn: Ban thư ký ASEAN

Ghi chú: Sắp xếp theo tổng số vốn đầu từ giai đoạn 2002 – 2006

NHỮNG NỖ LỰC CỦA TRUNG QUỐC ĐỂ TĂNG CƯỜNG CÁC MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VỚI CÁC NƯỚC ASEAN

Trung Quốc đã  gia nhập vào quan hệ đối thoại với các nước Asean từ năm 1991 và được  đủ tư cách ở vị trí đối tác đàm phán các nước Asean  năm 1996(49). Năm 2000, các quan chức Trung Quốc đề ra ý tưởng về một hiệp ước tự do thương mại Trung Quốc-Châu Á. Tháng mười một năm 2002 , các nước Asean  và Trung Quốc đã ký một bản hiệp định về khung hợp tác kinh tế toàn diện để tạo ra một khu vực tự do thương mại giữa ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) trong vòng 10 năm(50).Tháng 11/ 2004 , hai bên đã ký Hiệp định về thương mại hàng hoá trong khuôn khổ bản hiệp định về Hợp tác Kinh tế toàn diện giữa Hiệp hội các nước Đông Nam Á và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó bao gồm một lịch trình về cắt giảm thuế quan và loại bỏ thuế quan đến mức thấp nhất (bắt đầu từ năm 2005) giữa hai phía(51). Ví dụ, đối với các quốc gia có nhịp độ phát triển nhanh hơn trong khu vưc thuộc nhóm “ASEAN 6” (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan), mức thuế trên 20% sẽ giảm xuống 20% trong năm 2005, 12% trong năm 2007, 5% vào năm 2009, và là 0 năm 2010
Thuế quan vào khoảng 15% và 20% giảm xuống 15% trong năm 2005, 8% trong năm 2007, 5% vào đầu năm 2009,và bằng 0 vào năm 2010. Một số sản phẩm “nhạy cảm” có thể sẽ giảm nhưng trong thời gian lâu hơn(52).

Lĩnh vực hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN bao gồm nhiều lĩnh vực, như nông nghiệp,công nghệ thông tin và truyền thông, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư hai chiều ( song phương), phát triển lưu vực hạ lưu sông Mê Kông, giao thông, năng lượng, văn hóa, du lịch và y tế công cộng(53) .

Trong tháng 1 năm 2007, Trung Quốc và ASEAN ký kết Hiệp định thương mại về các hoạt động tự do thương mại của Trung Quốc-các nước ASEAN nhằm mục đích làm giảm bớt các thủ tục trong hoạt động mậu dịch. Trong một bài phát biểu năm 2005 để kỷ niệm 15 năm Quan hệ đối thoại Trung Quốc-các nước ASEAN , Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo liệt kê bốn kết luận chính mà ông đã vạch ra từ sự tăng trưởng trong quan hệ song phương:

– Phát triển trong hòa bình là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của quan hệ Trung Quốc-các nước ASEAN . Cả hai bên theo đuổi một chính sách láng giềng hữu nghị tốt, xem nhau như là đối tác, xem sự phát triển của đối tác như là cơ hội phát triển không phải là mối đe dọa.
– Bình đẳng và tin cậy lẫn nhau là nền tảng của mối quan hệ Trung Quốc-các nước ASEAN. Cả hai bên đối xử với nhau công bằng và nỗ lực phát triển sự đồng thuận bằng cách tìm kiếm sự thống nhất chung và đặt những sự khác biệt sang một bên.
– Hợp tác “Cùng thắng”(Win-Win) là mục tiêu cho mối quan hệ Trung Quốc-các nước ASEAN.
– Sự ủng hộ của nhân dân là động lực phía suaTrung Quốc-các nước ASEAN bởi vì sự hợp tác giúp xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển, tăng tốc độ tăng trưởng và đẹm lại một cuộc sống tốt hơn(54).
Năm 2006 Ong Keng Yong, Tổng thư ký hiệp hội ASEAN, được mô tả quan hệ kinh tế ASEAN-Trung Quốc ngày càng tăng như sau:

ASEAN xem Trung Quốc như là một người hàng xóm gần gũi và một đối tác đàm phán quan trọng với tiềm năng to lớn để cung cấp. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và dân số khoảng 1,3 tỷ người, Trung Quốc là mộ tnhà tiêu dùng khổng lồ cho các sản phẩm của các nước thuộc ASEAN và là nguồn viện trợ vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp FDI cho khu vực trong tương lai. Ngoài ra, ASEAN cũng được lợi từ số lượng lớn khách du lịch Trung Quốc đến thăm khu vực và ngược lại(55).

NỖ LỰC CỦA MỸ NHẰM TĂNG CƯỜNG MẬU DỊCH VỚI ASEAN

Tháng 10/ 2002,  chính quyền Bush phát động kế hoạch hợp tác  “doanh nghiệp với sáng kiến ASEAN” (EAI), với  mục tiêu thắt chặt quan hệ kinh tế với các quốc gia ASEAN thông qua ký kết hiệp ước tự do thương mại với các quốc gia muốn cải tổ kinh tế và mở cửa. Để trở thành đối tác tiềm năng của FTA phải là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và đã ký kết một hiệp định khung  thương mại và đầu tư (TIFA) với Hoa Kỳ, một diễn đàn được thiết kế để giải quyết tranh chấp thương mại  và đầu tư. Hoa Kỳ đã ký hiệp định TIFA với Brunei, Campuchia, Indonesia, Malaysia,Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Mỹ cũng đã ký hiệp ước FTA với Singapore (có hiệu lực năm 2004) và đang trong quá trình đàm phán với Malaysia. Đàm phán FTA với Thái Lan đã bị đình chỉ trong năm 2006, do cuộc khủng hoảng chính trị tại Thái Lan và sự phản đối của nhân dân Thái Lan. Ngày 25 tháng tám 2007, Đại diện thương Mại Hoa Kuf(USTR) Susan Schwab đã ký hiệp ước TIFA với các nước ASEAN.Trong tháng 9 năm 2007, Tổng thống Bush đã gặp các nhà lãnh đạo của bảy nước ASEAN tham dự hội nghị thượng đỉnh APEC tại Úc và tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ đề cử một đại sứ Mỹ tại ASEAN.

Ý nghĩa chính sách ngoại giao của Mỹ
Xu hướng, ảnh hưởng ,và tác động đối với Hoa Kỳ

Theo một số nhà phân tích, ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc trùng hợp với  giai đoạn sự quan tâm của Mỹ đến Đông Nam Á không được liên tục , thiếu tính nhất quán và thậm chí là mở rộng khoảng trống quyền lực (Power vaccum) của Mỹ đối với ASEAN trong thập kỷ qua(56). Kể từ ngày 11 tháng 9 năm 2001 sự tham gia của chính quyền Mỹ về mặt ngoại giao ngày càng tăng trong các vấn đề  khu vực đồng thời  tăng cường viện trợ nhưng phần lớn chỉ tập trung vào mục tiêu chống khủng bố. Thái độ lơ là của Hoa Kỳ đối với khu vực ĐNÁ  ngày càng tăng. Trong năm 2007, Bộ trưởng Ngoại giao Condoleezza Rice đã ghé qua dự diễn đàn khu vực hàng năm ASEAN (ARF) và sau đó đến Trung Đông, trong khi Tổng thống Bush hoãn cuộc gặp hội nghị thượng đỉnh Mỹ -ASEAN , để đến Singapore trong tháng chín, và rời hội nghị thượng đỉnh APEC sớm một ngày vì các cam kết liên quan đến cuộc chiến Iraq và làm mới “quan tâm về các cam kết của Hoa Kỳ đến khu vực ” nầy(57).

Mặc dù có sự sụt giảm về tầm mức ảnh hưởng tương đối , Hoa Kỳ vẫn tiếp tục phát huy  sức mạnh “cứng” lẫn “mềm” ở Đông Nam Á(58). Ví dụ , Mỹ duy trì nhiều chương trình viện trợ đa diện nước ngoài với mục tiêu rõ ràng, mở rộng phát triển và yếu tố nhân đạo. Mỹ cũng là nước viện trợ chính cho các nước Đông Nam Á bị thiệt hại bởi sóng thần Ấn Độ dương năm 2004.

Mỹ nước lớn thứ 2 trong mậu dịch với Châu Á (Trung Quốc xếp hàng thứ 5) và đứng thứ 4 về nguồn đầu tư nước ngoài (Trung Quốc xếp thứ 10), và đã ký được Hiệp định tự do thương mại với nhiều quốc gia trong khu vực.

Trong khi đó, có nhiều nhận định chung cho rằng các chiến lược của Trung Quốc đang dần chuyển biến sang  ôn hòa tập trung sử dụng sức mạnh mềm tuy nhiên không đảm bảo rằng Trung Quốc có thay đổi mục tiêu theo hướng này hay không. Theo mọi người nhìn nhận thì Trung Quốc đang chơi một ván bài “zero sum” (được ăn cả ngã về không) và sự mở rộng này sẽ làm giảm tầm ảnh hưởng của Mỹ. Kurlantzick viết: “Trung Quốc có thể muốn tách Mỹ ra khỏi các nước ASEAN để tạo tầm ảnh hưởng riêng của mình trong khu vực, đây được xem là một chiến lược Monroe Doctrine(**) của riêng Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á nơi dần phụ thuộc vào sự trợ cấp của Trung Quốc và phải suy nghĩ lại về sự viện trợ của Mỹ(59).

Trái lại, một vài nhà phân tích cho rằng tầm ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế Trung Quốc trong thập niên qua hoàn toàn có lợi cho khu vực mà không hề có nguy hại cho quyền lợi của Mỹ. Về mục tiêu của Trung Quốc, một vài nhà quan sát nhận định rằng quan tâm của Trung Quốc trong giai đoạn tạm thời chỉ mang tính chất nội bộ (tập trung vào tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội) và Bắc Kinh chỉ thích trong phạm vi ổn định và đánh giá cao vai trò của Mỹ trong việc giúp đỡ duy trì an ninh khu vực. Sự ổn định của khu vực đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển kinh tế của Đông Nam Á và Trung Quốc. Trung Quốc tìm cách cô lập Đài Loan và nâng cao tầm ảnh hưởng của mình trong khu vực, và chỉ có thể để ngăn chặn hay đi trước Mỹ chứ không phải là thay thế Mỹ(60).

Nhận định khác cho rằng: bất chấp ý đồ của Trung Quốc ở Đông Nam Á, năng lực của Trung Quốc thường được thổi phòng lên vì “sức mạnh mềm” của Trung Quốc vẫn còn hạn chế, tình hữu nghị tại khu vực chỉ mang tính nhất thời. Ví dụ vào năm 2007, khi nhiều mối lo ngại nổi lên trên khắp thế giới liên quan đến mức độ an toàn của các sản phẩm từ Trung Quốc, giới chức ở Indonesia, Malaysia, và Philippin cho rằng chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đang gây áp lực cho họ không được đưa vấn đề này ra  ngay cả lúc có quá nhiều hàng hoá nhập khẩu được phát hiện là quá nguy hiểm. Khi các nước này cấm mua bán hàng hoá không an toàn từ Trung Quốc, Chính Phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đe doạ hoặc lên tiếng bằng hành động trả đũa, gây nên sự sửng sốt cho lãnh đạo của nhiều nước Đông Nam Á(61).

Ngay cả những nước hưởng lợi chính từ sự hào phóng của Trung Quốc ở Đông Nam Á vẫn còn cảnh giác với đất nước này hoặc tìm cách làm giảm tầm ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực. Chẳng hạn, nhiều người Campuchia (để ý đến sự hỗ trợ của chính quyền Trung Quốc đối với Khmer Đỏ) cảm thấy phản cảm với Trung Quốc. Chính phủ Lào thì duy trì mối thâm giao cả với Trung Hoa và Việt Nam, trong khi chính phủ Việt Nam bí mật ủng hộ lãnh đạo Lào thắt chặt hơn nữa mối quan hệ với Mỹ như một phương tiện để để đối đầu với Trung Quốc. Công dân Việt nam đã tiến hành nhiều cuộc biểu tình ở Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh chống lại Trung Quốc với sự ủng hộ của Chính Phủ để phản kháng lại sự xâm lược dưới dạng diễn tập quân sự của Trung Quốc vì  tranh chấp quần đảo Trường Sa ở biển Nam Trung Hoa, và sự thiết lập một đơn vị hành chính của nước Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Trung Hoa bao gồm cả quần đảo nầy.

CÁC LỰA CHỌN VỀ CHÍNH SÁCH

Việc tranh cãi làm thế nào để giải thích việc TQ  mở rộng sức mạnh mềm  ở Đông Nam Á dẫn  đến một cuộc thảo luận rộng hơn các mục tiêu chiến lược của Trung Quốc. Như đã nói ở trên, có sự đồng thuận giữa các nhà phân tích và quan sát rằng Trung Quốc đã chuyển từ sức mạnh cứng sang sức mạnh mềm  trong thập kỷ vừa qua nhằm tăng cường vai trò của Trung Quốc tại khu vực. Vẫn còn chưa sáng tỏ nếu điều này thay đổi chiến thuật  trong sự thay đổi về chiến lược bằng cách tiếp cận tương đối tích cực hơn với Hoa Kỳ và lợi ích của TQ trong khu vực. Mối lo ngại về ảnh hưởng của Trung Quốc gia tăng ở Đông Nam  Á, và hơn thế nữa là một số công ty hàng đầu tại Hoa Kỳ sẽ ngày càng cảnh giác với Trung Quốc và động lực đẩy nó ra khỏi mối lo sợ rằng nếu quyền lực và ảnh hưởng của Trung Quốc tiếp tục tăng, Bắc Kinh cuối cùng sẽ tìm cách hạn chế và hoặc phá hoại quyền lực của Mỹ để thúc đẩy và bảo vệ lợi ích của TQ trong khu vực. Tuy nhiên, cũng xuất hiện một mối nguy hiểm thực sự khi phản ứng của người Mỹ  dẫn đến tự đưa ra những dự đoán mang tính chất “tự kỉ ám thị”(self-fulfilling prophesy) vào một chiến lược bảo hiểm rủi ro để vào cuộc mà dưới con mắt của Bắc Kinh cho rằng đó là những nỗ lực nhằm kìm hãm hoặc khống chế Trung Quốc.
Có nhiều lựa chọn có thể áp dụng để xem xét các chính sách mở rộng “sức mạnh mềm” của Trung Quốc ngày càng tăng ở Đông Nam Á. Một mặt các nhà hoạch định chính sách có xu hướng không xem sự phát triển của Trung Quốc là ván bài “được ăn cả ngã về không” hoặc mối đe dọa, cho rằng đây là những người ưa chuộng các chính sách có khuynh hướng duy trì hiện trạng . Họ ủng hộ các thay đổi nhỏ để điều chỉnh vị trí chính sách hiện tại của Mỹ. Hơn nữa, theo các nhà phân tích, Hoa Kỳ chuyển hướng kiềm chế Trung Quốc có thể phản tác dụng nếu họ đẩy các quốc gia trong khu vực ra khỏi sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ.

Đứng về khía cạnh khác đối với những người quan tâm nhiều về sự tăng nhanh tầm ảnh hưởng trong khu vực của Trung Quốc. Họ có thể được chia  thành hai trường phái. Một bên thiên về  tăng cường sự tham gia với các quốc gia trong khu vực như một phương tiện duy trì quyền lực Mỹ  cùng lúc chấp nhận sự vươn lên của Trung Quốc. Một bên thiên về ủng hộ chiến lược mà có bù đắp, hoặc cân bằng sức mạnh của Trung Quốc trong khu vực và/ hoặc chống lại bằng cách tạo ra những rào cản trước sự vươn lên của Trung Quốc ngày càng trở nên quyết liệt hơn trong tương lai.

Sau đây là những lựa chọn về  chính sách

– Tập trung xây dựng nhằm củng cố các quan hệ liên minh của Mỹ trong khu vực và tập trung vào các chính sách kìm hãm sự phát triển của Trung Quốc. Trong khi một số quan hệ liên minh tại Châu Á như với Úc và Nhật cũng như với đối tác chiến lược Singapore là rất vững chắc tuy nhiên các liên minh khác tại Đông Nam Á như vơi Thái Lan và Philippines thì không chặt chẽ như trước đây. Các sáng kiến nhằm tăng cường các mối quan hệ không những tăng thêm sức hút cho Mỹ mà còn thu hút được mối quan tâm của các đối tác chiến lược.

– Vươn ra các nước khác trong khu vực và tìm kiếm những phương cách  phát triển mối quan hệ sâu rộng hơn trên nền tảng song phương thông qua những hiệp định thương mại và những hình thức tham gia khác.

– Gia tăng nguồn quỹ hỗ trợ nước ngoài và hay/và mở rộng sự hổ trợ thực hiện các biện pháp viện trợ , điều này cho thấy sự hấp dẫn của chính sách “không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác” của Trung Quốc.

– Thực hiện những chương trình mới nhằm hổ trợ cho việc phát huy dân chủ trong khu vực, đặc biệt là ở Indonesia. Dùng sức mạnh mềm của Mỹ như là một nhà vô địch về dân chủ nhằm làm tăng tầm ảnh hưởng cũng như phát huy dân chủ trong khu vực.

– Mỹ có thể ký một hiệp ước về hữu nghị và hợp tác (TAC) và tham gia vào tiến trình hội nghị thượng đỉnh Đông Nam Á. Hiệp ước hữu nghị hợp tác ràng buộc những bên tham gia phải cùng tồn tại trong hoà bình và tôn trọng chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau và không can thiệp nội bộ. Mỹ đã từ chối không kí hiệp định TAC vì e sợ sẽ làm hạn chế sự tự do  hoạt động quân sự của Mỹ.

– Gia tăng những ưu tiên cho các hoạt động khu vực và đa phương. Thiếu sự quan tâm về mặt ngoại giao của các lãnh đạo cao cấp đã tạo ra một tín hiệu sai cho các nước trong khu vực và đẩy các quốc gia chuyển hướng sang Trung Quốc. Mỹ đã tham gia liên tục vào các diễn đàn để có được vai trò đáng kể tại khu vực. Mỹ sẽ đạt được nhiều hơn các mục tiêu của mình tại khu vực bằng cách tạo sự tương quan hợp lý sự  ưu tiên của Mỹ và cũng là ưu tiên của các nước ASEAN.

– Thiết lập quá trình đối thoại mới Trung Quốc với mục tiêu đảm bảo với Trung Quốc rằng Mỹ sẽ không tìm cách để chống Trung Quốc tại các nước Đông Nam Á hay kiềm hãm Trung Quốc về nhiều mặt.

Mặc dù các chiến lược này được xem là khéo léo trong việc ngăn cản cái có thể coi là sự phát triển khá ôn hòa của Trung Quốc, củng cố và mở rộng sự tin tưởng, xây dựng các bieenbj pháp và hình thức tham gia để đảm bảo với Trung Quốc rằng My và các đồng minh của Mỹ sẽ không ra sức kiềm chế Trung Quốc nhằm tránh việc Trung Quốc áp dụng các chiến lược thù địch giữa Mỹ và Trung Quốc trong khu vực và xa hơn.

– Xây dựng những chương trình mới nhằm mục tiêu cũng cố các nước Hồi giáo trong khu vực theo phương thức ủng hộ các nước Hồi giáo chống lại sự kỳ thị đối với các nước đạo Hồi và đưa Mỹ tiến gần hơn với các nước đạo Hồi.

– Hoan nghênh sự tham gia của Ấn Độ, Nhật và Úc vào khu vực như là một sự gia tăng thêm sức mạnh cho quyền lực đa phương của khu vực và ngăn ngừa tình trạng ở giữa thế hai cực giữa Mỹ và Trung Quốc.

– Duy trì Hiệp Định Tự Do Thương Mại với ASEAN và nỗ lực hơn để đạt được Hiệp Ước Thương Mại Mở Rộng với các nước APEC.

– Tiếp tục các chiến lược khéo léo thông qua tăng cường hợp tác với các nước đồng minh và các nước bạn. Nhiều ý kiến cũng tán thành việc lập mối quan hệ của Úc, Nhật và Mỹ như điểm khởi đầu cho sự hợp tác ba bên. Một vài ý kiến khác cũng cho rằng nên để Ấn Độ tham gia vào mối quan hệ này. Những thay đổi chính trị gần đây ở Úc, Nhật, và Ấn Độ làm các phương thức này khó đạt được sự tán thành của các nước nếu như có mục tiêu nhằm kìm hãm Trung Quốc.

http://www.fas.org/sgp/crs/row/RL34310.pdf

(*)PEW Research Center: Trung tâm thăm dò dư luận tại Mỹ, và là tổ chức dân sự không vụ lợi thực hiện các cuộc điều tra xã hội, cung cấp dữ liệu(fact tank) cho các cơ quan nghiên cứu, đại học hay quốc hội….(xem http://pewresearch.org/about/)

(**) Chủ nghĩa Monroe(Monroe Doctrine) do Tổng thống James Monroe( vị tổng thống thứ 5 của Hoa Kỳ) đề xuất trước quốc hội nước nầy vào năm 1823 kêu gọi Nước Mỹ và các nước Châu Âu không can thiệp vào công việc của nhau, và đây trở thành phương châm đối ngoại cơ bản của Nước Mỹ. Với phương châm nầy nước Mỹ giữ thái độ trung lập trong cuộc chiến giữa các nước Châu Âu với thuộc địa và ngược lại hành động can thiệp vào một quốc gia độc lập ở Châu Mỹ hay lập ra một thuộc địa mới trên Châu lục nầy sẽ được xem là hành động đối địch với Hoa Kỳ (http://en.wikipedia.org/wiki/Monroe_Doctrine)–HLT phụ chú

Chú thích

1. Southeast Asia includes East Timor and the 10 members of the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN): Brunei,  Burma, Cambodia, Indonesia, Laos, Malaysia, Singapore,Thailand, the Philippines, and Vietnam.

2. China’s “charm offensive” was penned by Joshua Kurlantzick in several articles and a book.  See Charm Offensive (New Haven: Yale University Press, 2007).

3. According to Nye, hard power may also include economic might.  The concept of “soft power” originally appeared in Nye’s 1990 book:  Bound to Lead: The Changing Nature of American Power.  The concept was further developed in his 2004 volume:  Soft Power: The means to Success in World Politics.

4. In the Southeast Asian context, Chinese “soft power”can include “economic benefits, shared norms and values, cooperation on nontraditional issues, infatuation with the new China, the mutual benefits of tourism and education, diplomacy and style, and networking and reciprocal obligations within ethnic Chinese communities.” See Bronson Percival, The Dragon Looks South: China and Southeast Asia in the New Century (Westport: Praeger Publishers, 2007), pp.111-112.  See also Hugo Restall, “China’s Bid for Asian Hegemony,”

Far Eastern Economic Review, May 2007.

5. The Pew Global Attitudes Project, “Global Unease with Major Powers,” June 2007.

6. “Filipinos Rank High in Supporting the U.S. in World Affairs, According to 18-Nation Survey,” Social Weather Stations (Manila), June 2007.

7. Joseph Nye, “The Rise of China’s Soft Power,” Wall Street Journal, December 29, 2005.

8. Percival, op. cit.

9. For further information, see CRS Report RL33010, Australia: Background and U.S. Relations, by Bruce Vaughn.

10. For further information, see CRS Report RL33242, East Asia Summit (EAS): Issues for Congress, by Bruce Vaughn.

11. Richard W. Hu, “China and East Asian Community-Building: Implications & Challenges Ahead,” The Brookings Institution, presentation on October 2, 2007.

12. Several reasons are given for the lack of reliable data on Chinese aid, including the following: many forms of PRC foreign aid, such as loans, the building of large public facilities and infrastructure projects, and trade and investment agreements, are not counted as official development assistance (ODA), the principal form of aid provided by major donor countries; China’s aid comes from a variety of government sources and is not tracked by a single PRC agency; funding for such assistance follows the PRC leadership’s diplomatic schedule and is not provided in annual increments; Beijing is reluctant to reveal aid totals because it fears domestic criticism  for its aid efforts, given its own largepopulation of poor.

13. The United States differs from other major aid donors in Southeast Asia such as Japan,European countries, and Australia, in that it provides not only ODA but also considerable security and military assistance, particularly to Indonesia and the Philippines.

14. China’s conditions on aid are often international rather than domestic — requiring aid recipients to support the “one-China” principle regarding Taiwan and China’s agenda in the United Nations.

15. Jane Perlez, “China Competes with West in Aid to its Neighbors,” The New York Times,September 18, 2006.

16.  Catherin E. Dalpino, “Consequences of a Growing China,” Statement before the Senate Committee on Foreign Relations Subcommittee on East Asian and Pacific Affairs, June 7,2005; Heritage Foundation program, “Southeast Asia’s Forgotten Tier: Burma, Cambodia and Laos,” July 26, 2007.

17. In FY2007, the United States provided foreign aid worth an estimated $55 million and $61 million to Cambodia and Vietnam, respectively.  Most U.S. assistance to Vietnam funds HIV/AIDS programs.

18. “China ranks No. 2 in Aiding Cambodia’s Town, Sub-district Elections,” BBC Monitoring Asia Pacific, October 12, 2006.

19. Jeffrey York, “The Junta’s Enablers,”  International News, October 6, 2007; David

Steinberg, “Burma: Feel-Good U.S. Sanctions Wrongheaded,” Yale Global Online, May 19, 2004; [http://www.narinjara.com/Reports/BReport.ASP].

20. Testimony of Jared Genser, “China’s Role  in the World: The China-Burma Relationship,”U.S. Economic and Security Review Commission, August 3, 2006.

21. Organization for Economic Cooperation and Development (OECD).  See

[http://www.oecd.org/home/].

22. Kyodo News, June 21, 2002.

23. Ker Munthit, “Donor’s Pledge $689 million in Aid for Cambodia,” Associated Press Newswires, June 20, 2007.

24. Economist Intelligence Unit, Country Report: Cambodia, September 2007.

25. Asia & Pacific Review World of Information, July 30, 2007.

26. Joshua Kurlantzick, “China’s Charm: Implications of Chinese Soft Power,” Carnegie Endowment Policy Brief no. 47 (June 2006).  This measurement of PRC aid likely includes loans.  By contrast, U.S. foreign assistance, with the exception of food aid, is predominantly grant-based.

27. OECD data.

28. “Vietnam to Borrow Nearly 200 Mln U.S. Dollars from China: Report,” People’s Daily Online, [http://english.people.com.cn], October 30, 2005.

29. OECD data.

30. Roger Mitton, “Beijing Refuses Aid to Hanoi after Rebuff over Taiwan,” Straits Times, December 22, 2006

31. Alan Dawson, “A ‘Win-Win’ Situation for Beijing, Washington,” Bangkok Post, February 21, 2007; “Current Thai-China Ties Seen as  ‘More Resilient and Adaptable’ than U.S.Ties,” BBC Monitoring Asia Pacific, February 12, 2007.

32. United States Agency for International Development (USAID).

33. Kurlantzick, “China’s Charm,” op. cit.

34. OECD data.

35. “China Loans to RP to Hit $2 Billion in 3 Years,” Manila Standard, February 6, 2007;Kurlantzic, “China’s Charm,” op. cit.

36. “Philippines, China Sign 20 Agreements to Boost Trade,” Xinhua Financial Network,January 16, 2007.

37. ASEAN members include Indonesia, Malaysia, the Philippines, Singapore, Thailand,Brunei, Cambodia, Laos, Myanmar (Burma), and Vietnam.  Note:  Cambodia was not a Member of ASEAN until 1999.  For the sake of consistency, we included data for Cambodia in the 1997 data.

38. China’s trade data often differ significantly with that of its trading partners, due in large part because of the way trade through Hong Kong is counted.  China counts Hong Kong as the destination of its exports sent there, even goods that are then transshipped to other markets.  By contrast, the United States and many of China’s other trading partners count Chinese exports that are transshipped through Hong Kong as products from China, not Hong Kong, including goods that contain Hong Kong components or involve final assembly or processing in Hong Kong.  See also CRS Report RS22640, What’s the Difference —Comparing U.S. and Chinese Trade Data, by Michael F. Martin.

39. In addition, both China and ASEAN continue to enjoy rapid economic growth.  China’s real GDP growth in 2006 was 11.1% and ASEAN’s was 6.0%.

40. China reports imports on a cost, insurance, and freight (CIF) basis, while the U.S. reports imports  on a customs basis, which excludes the added cost of insurance, freight, and other charges.  If the United States reported imports on a CIF basis, it would raise the value of imports by about 10%

41.  In 1997, China’s official exports to ASEAN were 26.3% as large as those by reported by the United States, but  in 2006, China’s reported exports to ASEAN exceeded U.S. exports by 24.5%.  Chinese reported imports from ASEAN were 17.4% of those of the United States in 1997 and by 2006 they had risen to 80.5%

42. Although China has pursued a number of energy related activities with various ASEAN countries, the PRC is also engaged in territorial disputes with some ASEAN countries (such as Vietnam, Malaysia, and the Philippines) over territory in the South China Sea that may contain oil and gas deposits.

43. Rankings for 2006 were not available.  Note:  ASEAN trade data differ from data reported by China and the United States.

44. 2006 data exclude Laos and Myanmar (Burma).

45. ASEAN data indicate that its 2006 exports to the United States and China were $105.5 billion and $67.6  billion, respectively.

46. ASEAN imports from the United States and China in 2006 were $68.8 billion and $76.2 billion, respectively.

47. China estimates cumulative FDI from ASEAN through 2006 at $41.9 billion.

48. According to Chinese data, from January-November 2006, 3.5 million tourists from ASEAN countries visited China

49. Current ASEAN Dialogue Partners include Australia, Canada, China, the European Union, India, Japan, South Korea, New Zealand, the Russian Federation, the United States, and the United Nations Development Programme.

50. The agreement included an “early harvest” provision to reduce and eliminate tariffs on a number of  agricultural products (such as, meats, fish, live animals, trees, dairy produce, vegetables, and edible fruits and nuts).  The agreement called for both parties to begin implementing the cuts beginning in 2004.  Thailand negotiated an agreement with China to eliminate tariffs for various fruits and vegetables, effective October 2003.

51. The ACFTA would implement most tariff reductions between China and the ASEAN 6 nations by 2010. Cambodia, Laos, Burma, and Vietnam would be able to maintain higher tariffs, but these would be phased out and completely eliminated by 2015.

52. Bureau of National Affairs, International Trade Reporter, October 6, 2005, p. 1590.

53. A listing of agreements and declarations can be found on the Asean Secretariat’s website at [http://www.aseansec.org/].

54. Chinese Premier Wen Jiabao’s speech at the China-ASEAN summit, Join Hands to Create A Better Future for China-ASEAN Relations, October 30, 2006.

55. “ASEAN-China Relations: Harmony and Development,” by Ong Keng Yong, Secretary General of ASEAN, at a Commemorative Symposium to Mark the 15th Anniversary of China’s Dialogue with ASEAN, December 8, 2006

56. Robert G. Sutter, China’s Rise in Asia: Promises and Perils (New York: Rowman and Littlefield, 2005).

57. Sheldon Simon, “U.S. Southeast Asia Relations,” Comparative Connections, October, 2007; Ralph Cossa and Brad Glosserman, “Regional Overview,” Comparative Connections,October, 2007.

58. For further information, see CRS Report RL31362, U.S. Foreign Aid to East and South Asia: Selected Recipients, by Thomas Lum.

59. Joshua Kurlantzick, “China’s Charm Offensive in Southeast Asia,” Current History, September 2006.

60. See Percival, op. cit.; Richard W. Hu “China and East Asian Community-Building:

Implications & Challenges Ahead,” The Brookings Institution, presentation on October 2, 2007; Robert G. Sutter, China’s Rise in Asia, op. cit.

61. Ariana Eunjung Cha, “Asians Say Trade Complaints Bring out the Bully in China,”

Washington Post, September 5, 2007.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: