Anhbaque’s Blog

Just another WordPress.com weblog

Bài 15: Kịch bản giải quyết vấn đề Trường Sa của Trung Quốc

Posted by anhbahoa on November 23, 2009

Bài 15

Kịch bản giải quyết

vấn đề Trường Sa của Trung Quốc*

Urao Tatsuo

Lê Hoàng-Bauvinal chuyễn ngữ

Lãnh đạo cao nhất của TQ, dưới chính sách cải cách và mở cửa, đã xác định chiến lược quân sự “trong  thời kì kinh tế biển của thế kỉ 21” với phương châm hành động để bảo vệ quyền lợi của quốc gia (1). Việc gìn giữ những quyền lợi vốn có từ khi công bố Luật Lãnh hải vào năm 1992 cũng đã dựa vào nguyên tắc nầy. Tiêu điểm lớn nhất  là kế hoạch tác chiến để thu hồi những vùng biển đảo đã mất trên quần đảo Nam Sa(TS). Ngoài quần đảo Nam Sa(TS), đường cơ bản về lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa (HS) đã được TQ xác định qua tuyên bố năm 1995(2). Quần đảo Trung Sa cũng sẽ được xác nhận trong một ngày gần đây.

Trong tình huống như vậy TQ cho rằng muộn nhất là vào năm 2010 phải tính đến việc xác định chủ quyền của TQ vì nếu không tích cực chủ động xử lý vấn đề nầy sớm thì buộc phải ủy quyền cho LHQ đứng ra giải quyết. Cho đến thời điểm nầy (năm 2010) dứt khoát phải giải quyết là nhận thức của chính quyền TQ hiện nay.

Sách lược gồm  3 chiêu thức: 1/ Bằng biện pháp ngoại giao hòa bình, 2/ Thu hồi bằng vũ lực 3/ Dùng biện pháp gây sức ép bằng ngoại giao lấy sức mạnh quân sự làm hậu thuẩn.

Điều cần thiết của sách lược nầy phát xuất từ những dự báo về sự gia tăng của lượng tiêu thụ dầu mỏ trong quá trình  phát triển kinh tế trong tương lai là điều ai cũng thấy được. Tháng 2/1994 theo chính sách của Ủy ban kế hoạch nhà nước, TQ lấy việc xác lập nền kinh tế quốc dân trên cơ sở phát triển ngành ô tô(***) và nhu cầu về dầu hỏa sẽ ở mức 190 triệu tấn/năm. Nghĩa là lượng tiêu thụ dầu hỏa của TQ trong thế kỉ 21 sẽ vượt xa lượng tiêu thụ của các nước Châu Âu trong tổ chức OECD. Triển vọng nầy cho thấy TQ phải nhìn về quần đảo Nam Sa (TS)

với trữ lượng 100 tỷ thùng , xem đó là nguồn cung cấp để đáp ứng triển vọng phát triển kinh tế. Điều nầy buộc TQ phải đặt vùng biển Nam Sa( TS) dưới quyền kiểm soát của mình, xem đây là điều kiện tuyệt đối.

Sử dụng vũ lực để khôi phục sự thống trị quần đảo Nam Sa (TS) được xem là biện pháp cùng cực nhất. Biện pháp thu hồi bằng vũ lực được lý giải như là sự đối phó nguyên tắc mang tính đột khởi (3) là tiền đề, đi từng bước , từ tấn công có trọng điểm sang tác chiến toàn bộ một cách chủ động. Xác lập quyền chi phối biển đảo vùng này bằng một chiến dịch trong thời gian ngắn. Tuy nhiên công tác hậu cần cách bờ biển 1000 cây số, việc sử dụng lực  lượng Không quân phối hợp với triển khai của Hải quân được xem là điều kiện tiên quyết  của chiến dịch (4) . Hồng Kông được trao trả năm 1997 có khả năng được sử dụng làm cứ điểm lớn nhất vì ở đây có sẵn  quân cảng. Cuộc tấn công thần tốc để hạn chế sự can thiệp từ bên ngoài là điều cần phải được tính đến. Hiện nay, việc tổ chức một hạm đội phối hợp đã dần hình thành (5).Sự kiện chiếm đóng đảo San Hô Mischief (tháng 1/1995) của Philippines là một phần của hành động quân sự nầy. Liên quân kết hợp giữa Hạm đội Nam Hải và Đơn vị Không quân trong “kế hoạch 2010” là có tính đến kịch bản tái chiếm Nam Sa(TS)(6).

Điểm chính có thể tóm tắt như sau:

(1) Lập biên đội hạm đội phức hợp: lấy Khu Trục Hạm có trang bị tên lửa lập thành một biên đội. Vấn đề còn lại là phải huy động  tàu chở máy bay lên thẳng và tàu chở máy bay tiêm kích.

(2)Thực hiện việc phong tỏa trên biển—cần phải xác lập một cơ chế phòng thủ    bằng lực lượng tiêm kích bằng không quân đường dài và chuẩn bị bố trí tàu ngầm đầy đủ

(3)Tổ chức việc vận tải trên biển hiệu quả. Với 1000 cây số đường dài trển     biển, muốn đảm bảo việc vận tài thông suốt cho chiến dịch thì cần phải không chế vùng trời thật chắc chắn.

(4)Triển khai chiến dịch đổ bộ lên đảo toàn diện. Song song với việc phong  tỏa hữu hiệu và triển khai hiệu quả hạm đội thì cần phải có kế hoạch tác chiến cấp tốc đổ bộ lên đảo trong vòng 40-60 phút chớp nhoáng để đoạt lại quần đảo Nam Sa đã mất.

Để thực hiện chiến dịch ở một khu vực cách 1000 cây số, không thể thiếu được một hệ thống phòng không. Theo “kế hoạch năm 2010 thì TQ đã bắt tay vào việc nầy. Nói khác đi là việc xác lập một vùng trời phòng thủ bao gồm mạng lưới phòng không bằng tên lửa để chiếm đoạt Nam Sa(TS) là một vấn đề đáng quan tâm và hiện đang được xây dựng theo phương châm đã vạch ra.(7) Ở thời điểm 1996 , TQ đã bố trí 7 tên lửa liên lục địa ICBM  “Đông Phong 5”(CSS-4, tầm bắn 15,000 cây số) và 60 tên lửa” Đông Phong 4”(CSS-2 có tầm bắn 2700 cây số).

Trước hành động nầy, các nước ASEAN tỏ ra vô cùng quan ngại là điều đương nhiên. Đã có nhiều hội nghị nhằm xây dựng lòng tin, sự tranh luận theo lối “hòa cả làng”(doughnut formula)** cũng phát sinh từ đó. Mặc dù có nhiều nổ lực nhưng hiện nay vẫn chưa có một sự thỏa thuận hướng đến một cục diện mới. Trong triển vọng nầy về phía Đài Loan, từ năm 1995,  họ rất quan tâm việc TQ tăng cường sức mạnh quân sự đồng thời đưa ra phương hướng cùng khai thác chung với TQ ở vùng biển này qua việc thành lập “Tổ chức tài chính phát triển quần đảo Nam Sa”. Hành động nầy là chìa khóa đột phá lớn nhất khai thông quan hệ Trung-Đài. TQ lấy kịch bản thu hồi Nam Sa đã đề cập ở trên làm tiền đề cho  việc triển khai kịch bản lớn hơn là “hòa bình thống nhất”  để thu hồi Đài Loan là điều chúng ta có thể thấy được. Trên cơ sở thỏa hiệp công nhận chủ quyền của TQ là điều kiện tiên quyết , phương án khai thác chung với Đài Loan nầy trên  quần đảo Nam Sa(TS), đối với TQ là bước thu hồi và xác lập quyền thống trị của TQ trên lãnh thổ của mình là điều không còn có thể nghi ngờ gì nữa.

Triển vọng và phương châm cơ bản của TQ từ nay về sau là hồi phục chủ quyền của mình ở vùng biển đảo nầy, xác lập quyền thống trị để có thể bắt tay khai thác nguồn dầu mỏ là kịch bản mà TQ hằng ôm ấp bấy lâu.

(*trích từ 南海諸島国際紛争史 (研究・史料・年表)—Lịch sử tranh chấp các quần đảo Nam Trung Hoa) 浦野起央著—Urano Tatsuo

pp.1055-1057)

Tosui Shobo, Publishers & Co., Ltd.

http://www.tousuishobou.com/kenkyusyo/4-88708-200-2.htm

(**) HLT chú thích:

Công thức “hòa cả làng”(Doughnut Formula) của nhà ngoại giao Indonexia đưa ra tại hội nghị ASEAN 1994, chủ trương gác lại, thay vì tranh cải cơ sở luật pháp yếu kém vấn đề chủ quyền trên quần đảo Trường Sa, để bàn bạc việc khai thác quyền lợi chung về đánh cá và dầu mỏ chung trên biển vùng nầy.

(www.cybergeo.eu/pdf/5782)

Xem :”Géopolitique de L’Indochine của Xavier Roze, NXB Economica, 11/2000, trang 99-102. ) và bài viết của TS  Evan A. Feigenbaum:

Trung  Quốc và An ninh Năng lượng dài hạn ở châu Á: Phân tích về chính trị, kinh tế và các yếu tố kỹ thuật hình thành nên các thị trường năng lượng châu Á

“China and Long-range Asia Energy Security: An Analysis of the Political, Economic and Technological Factors Shaping Asian Energy Markets”

với lời bình của Nhóm Bauvinal  như sau:

“Bài viết của TS Evan A. Feigenbaum phân tích mối tương quan lực lượng giữa Hoa Kỳ-Trung Quốc-Nhật với ưu thế tuyệt đối của hải quân Mỹ xem đó cơ sở cho sự ổn định lâu dài trên biển Đông, rằng Hoa Kỳ nắm quyền làm bá chủ ở khu vực nầy đảm bảo cho quyền lợi không những của nước Mỹ mà còn giữ vững an ninh năng lượng cho Nhật bản lẫn Trung Quốc. Tác giả nhấn mạnh với sức mạnh yếu kém về quân sự hiện có, Trung Quốc không thể nào lật ngược được thế cờ nầy cho dù có thái độ hung hăng trên lời nói hay tăng cường việc tuần tra trên biển Đông. Từ đó chủ trương không gây căng thẳng với Trung Quốc quá mức cần thiết cho dù Trung Quốc có lấn chiếm những hòn đảo còn lại ở Trường Sa vì cho rằng điều đó chẳng tác hại gì đến an ninh và tuyến đường biển trong khu vực nầy mỗi khi còn nằm dưới sự thống trị của hải quân Hoa Kỳ ! Đây là một nhận định khá nguy hiểm (đối với Việt Nam), tác giả không hề đề cập đến vị trí chiến lược của Việt Nam trên biển Đông cũng như chủ quyền lãnh hải của một nước bé. Hay nói ngược, lại liệu Việt nam sẽ phải có chiến lược và chiến thuật về ngoại giao cũng như quốc phòng như thế nào để củng cố vị trí chiến lược của mình trong bàn cờ khu vực và trên thế giới, một mặt gìn giữ được chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mặt khác tích cực góp phần vào việc đảm bảo sự đi lại và an ninh trên biển đông của hàng hải quốc tế. Phải chăng sách lược cần thiết của Việt Nam là giữ vai trò trung gian điều phối tại chỗ, đảm bảo sòng phẳng lợi ích của cộng đồng quốc tế bằng cách giữ một thái độ  trung lập mang tính quyết định trong cán cân tương quan lực lượng giữa các siêu cường trên biển Đông là một khả năng có thể nếu…. Với vị thế quốc tế hiện nay, một trong những biện pháp trước mắt, chúng ta nên ra một nghị quyết của Quốc Hội Việt Nam về vấn đề chủ quyền trên biển đông và công bố lập trường hợp tác toàn diện với những sáng kiến đem lại hòa bình ổn định và lợi ích đa phương trước diễn đàn LHQ cũng như trên các diễn đàn quốc tế. Hơn thế nữa nguồn dầu mỏ và khí đốt trên biển Đông vô cùng phong phú như nhiều kết quả điều tra của Trung Quốc và các nước, đây cũng là một trong những nguy cơ đưa đến tranh chấp về chủ quyền lãnh hải mà tác giả bài viết đã không đề cập vì quá chú trọng đến cán cân tương quan lực lượng và sự ăn theo dựa dẫm vào Hoa Kỳ. Nguồn tài nguyên phong phú mà những người lãnh đạo ở Bắc Kinh vô cùng thèm muốn và sẵn sàng “chiến đấu để bảo vệ lợi ích” của mình nhưng Hoa Kỳ nhất định sẽ không nhân nhượng khi toàn bộ nguồn tài nguyên nầy bị Trung Quốc độc chiếm vì ý đồ sâu xa là buộc Trung Quốc phải phụ thuộc vào dầu mỏ vào các nước ở Trung Đông và các lục địa đang bị Tư bản dầu hỏa của Tư bản phương tây, đặc biệt là Hoa Kỳ–chi phối. Cho nên hàm ý của tác giả trong việc đảm bảo an nình trên tuyến đường biển ở Châu Á-TBD cũng như eo biển Malacca và Ấn độ dương là nhu cầu bức thiết mang tính chiến lược, kìm hãm không để Trung Quốc có thể tung hoành như ý đồ bá quyền của họ. Nghĩa là Trung Quốc chỉ có thể phát triển trên cơ sở “ăn theo” hay che chở như Nhật bản trong suốt nửa thế kỷ qua dưới “cái ô hạt nhân” trong thời chiến tranh lạnh nhưng theo công thức mới hơn là những chi phí đó Trung Quốc phải đền bù cho nước Mỹ và chia sẻ những lợi ích của Hoa Kỳ ngay trên mảnh đất Trung Quốc !”

Trong khi đó:

On Nanhai,China issues a message to Vietnamese people (07/06/2009)

“TQ gửi lời nhắn cho nhân dân Việt Nam về vấn đề biển Đông (HS-TS)

ở đây:

http://wuxinghongqi.blogspot.com/2009/07/on-nanhaichina-issues-message-to.html

Về hải quân TQ xem thêm:

http://vi.wikipedia.org/wiki/Hải_quân_Quân_giải_phóng_Nhân_dân_Trung_Quốc

(***) Công Nghiệp sản xuất và tiêu thụ Ô TÔ hiện nay của TQ đứng đầu thế giới, 13 triệu chiếc(dự kiến) trong năm 2009, vượt Mỹ và Nhật bản.

http://english.people.com.cn/90001/90778/90860/6789987.html

Phụ chú:

Tên lửa hiện nay của Trung quốc:

Force Size (Khả năng chiến đấu)

Strength: 10,000 km(tầm xa)

Land-Based Nuclear Missile(Tên lửa đạn đạo hạt nhân trên đất liền)

15~20 DongFeng 3/CSS-2

15~20 DongFeng 4/CSS-3

20 DongFeng 5A/CSS-4

60~80 DongFeng 21/CSS-5

~10 DongFeng 31A/CSS-9

Sea-Based Nuclear Missile(Tên lửa đạn đạo hạt nhân trên biển)

JuLang 1/CSS-N-3 (1 SSBN, 12 missiles each)

JuLang 2/CSS-NX-4 (2 SSBNs, 12 missiles each)

Land-based Conventional Missile(Tên lửa truyền thống trên đất liền)

675~715 DongFeng 11/CSS-7

315~355 DongFeng 15/CSS-6

DongFeng 21C/CSS-5 Mod 3

50~250 DongHai 10/ChangJian 10

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: