Anhbaque’s Blog

Just another WordPress.com weblog

Bài 11: Chiến lược Hải quân của Trung Quốc

Posted by anhbahoa on November 23, 2009

Bài 11

Chiến lược Hải quân của Trung Quốc

La stratégie navale chinoise


Elisabeth Fouquoire-Brillet

Stratégique No. 48/1990

Võ Thị Diệu Hằng chuyển ngữ

Năm 1979, khi Đặng Tiểu Bình vạch ra các đường lối quan trọng cho chính sách  hiện đại hóa, nhiều căn cứ cùng tham gia thúc đẩy việc Trung Quốc phải mở cửa ra  Thái Bình Dương. “Do bế tắc về chính trị và thương mại vì quan hệ  với Liên Xô đổ vỡ vào năm 1960, nên Trung Quốc buộc lòng phải quay ra biển” [1]. Từ đó mọi người  được chứng kiến “sự phục hồi sức mạnh hải quân Trung Quốc.” [2]

Vào năm 1979, sự bành trướng lực lượng  Liên Xô tại châu Á khiến nhà cầm quyền Trung Quốc lo ngại ghê gớm. Những môi slo ngại lại càng lớn hơn nữa khi Trung Quốc là nước duy nhất thực sự đương đầu với khả năng  tấn công hạt nhân của Liên Xô khi xảy ra xung đột biên giới năm 1969. Mối đe dọa của Liên Xô ở châu Á là ở cả trên đất liền lẫn trên biển:  đó là sự chiếm đóng quân sự Afghanistan, sự trợ giúp  Việt Nam  xâm lược Campuchia, việc sử dụng các căn cứ hải quân và hàng hải ở Cam Ranh và Đà Nẵng tại Việt Nam, việc lập ra một bộ chỉ huy tự quản chịu trách nhiệm các địa bàn hành quân Châu Á-Thái Bình Dương bao gồm các quân khu nằm ở phần châu Á của Liên Xô và cả các lực lượng đồn trú tại Mông Cổ và Thái Bình Dương cho tới biển Nam Hải [VN gọi là Biển Đông – ND], và song song với việc đó là sự tăng cường các đơn vị Hồng quân đóng dọc biên giới Trung Quốc và hạm đội Xô viết tại Thái Bình Dương. Năm 1981, tạp chí tiếng Anh Pékin Information (Tin tức Bắc Kinh) công bố một tấm bản đồ làm mọi người kinh ngạc thể hiện rõ ràng nhận thức của Trung Quốc về sự  bao vây của Liên Xô [3]*

Trong mười năm kể từ đấy, “Bức trường thành hải quân” của TQ gốc gác từ cuối thập niên 1970 [4] đã được trang bị những phương tiện để vươn ra biển khơi và tổ chức các cuộc đổ bộ . Ngoài ra, họ còn được trang bị khả năng chiến lược đại dương, tuy bị hạn chế, nhưng dù sao cũng buộc Liên Xô phải tính toán tới khi tiến hành các đánh giá chiến lược của họ. Sự phát triển của hải quân Trung Quốc trong những năm 1980 và mối quan tâm ngày càng tăng của Trung Quốc đến vùng là do những yếu tố địa lý, kinh tế và chiến lược. Chính là trong viễn cảnh phân tích này mà chúng tôi sẽ tìm cách xác định những trục chính của chiến lược hải quân Trung Quốc.

Những yếu tố địa lý và kinh tế

François Joyaux,  trong một tác phẩm viết chung gần đây, đã nhấn mạnh rằng “địa lý chỉ có thể đẩy Trung Quốc nhìn về phía biển” [5].  Thảo nguyên vùng Nội Mông, sa mạc Tân Cương ở vùng Tây-Bắc, cao nguyên Tây Tạng và dãy Himalaya ở phía tây không có lợi cho việc di dân đến ở. Những miền không hiếu khách này bao phủ gần một nửa phía tây của lãnh thổ Trung Quốc. Nửa phía đông của TQ, gồm các đồng bằng phù sa xen kẽ với các dãy núi hơi cao chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, đổ xuống biển, một bức tường chắn lớn. Thực vậy, Trung Quốc có 18.000 km bờ biển, đối diện với một khu vực đang phát triển mạnh: vùng châu Á-Thái Bình Dương. Ngoài ra TQ cũng tuyên bố chủ quyền của trên 3.500.000 km vuông lãnh hải, [6]  là vùng đặc biệt có nhiều cá và giàu tài nguyên dầu mỏ. Hướng về phía đồng minh  và láng giềng  Liên Xô trong những năm 1950, bị cắt rời về ngoại giao với thế giới còn lại  bởi chính sách tự cô lập  trong thập niên 1960, đương nhiên Trung Quốc phải hướng về phía Thái Bình Dương khi vào hồi đầu thập niên 1970, họ bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước phương Tây và Nhật Bản để đối phó với sự đe dọa của Liên Xô [7]. Nhưng trong những năm 1980, mối quan tâm thực sự của Trung Quốc đến biển mứoi xuất hiện nhờ sự phát triển kinh tế các khu vực ven biển thuộc lãnh thổ của họ

Chính sách mở cửa và hiện đại hóa của Đặng Tiểu Bình Bình đã dẫn đến một sự phát triển mạnh mẽ về ngoại thương của Trung Quốc. Tại đây, chúng tôi sẽ chỉ đề cập tới những trao đổi với ba đối tác lớn của Trung Quốc là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hồng Kông. Từ năm 1980 đến 1987, xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng gấp ba lần, từ 983 triệu lên  3 nghìn 37 triệu USD. Trong cùng thời kỳ đó, nhập khẩu của Nhật đã tăng gấp đôi, từ 5 nghìn 169 triệu lên tới 10 nghìn 742 triệu USD. Cuối cùng, còn ngoạn mục hơn, xuất khẩu sang Hồng Kông, ước tính khoảng 4 nghìn 353 triệu USD năm 1980 thì năm 1987 đạt 13 nghìn 778 triệu USD, trong khi nhập khẩu từ Hồng Kông thì từ 570 triệu lên đến  8 nghìn 437 triệu USD trong cùng thời kỳ [8]. Song song với  phát triển ngoại thương,  đội thương thuyền Trung Quốc đã gia tăng đáng kể. Họ trở thành một trong 10 đội tàu lớn nhất thế giới. “Năm 1961, Trung Quốc đứng hạng 26 trên thế giới với 76 000 tấn. Năm 1976 họ vươn lên vị trí thứ 18 với 3,6 triệu tấn. Năm 1987, họ đạt đến hạng 9 với 12.700.000 tấn trọng tải thô “[9]. Việc bành trướng  đội thương thuyền của họ cho phép Trung Quốc giảm dần sự lệ thuộc vào vào các thị trường vận tải đường biển nước ngoài. Năm 1974, tỷ suất chuyên chở bằng tàu trong nước là 30% [10] Mười năm sau, ước tính khoảng từ 50 đến 70%. [11]  Ngày nay, việc mở cửa sang Thái Bình Dương đã trở thành một điều tất yếu đối với Trung Quốc. Phát triển kinh tế của họ phụ thuộc rất nhiều vào thương mại với các nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Hoa Kỳ và các quốc gia của Cộng đồng châu Âu, thông qua eo biển Malacca. Do đó, việc bảo vệ an ninh cho đội thương thuyền và việc kiểm soát các tuyến đường biển trong đó có khoảng 90% hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu của Trung Quốc qua lại, trong những năm gần đây đã trở thành nhân tố chủ chốt trong chiến lược hải quân của Trung Quốc.

Đồng thời với việc họ bắt đầu phát triển đội tàu buôn, Trung Quốc đã nỗ lực gia tăng các hoạt động đánh bắt cá. Đầu năm 1979 một hội thảo quốc gia về nguồn lực thủy hải sản đã được tổ chức tại Bắc Kinh, nêu bật nhu cầu  phát triển ngành công nghiệp đánh bắt cá. [12] Đầu năm 1980, Trung Quốc không những tập trung nỗ lực của mình về nuôi trồng thủy sản, mà còn cho những gì đang làm cho chúng ta quan tâm ở đây, về bảo vệ tài nguyên biển và sự phát triển việc đánh cá xa bờ. Cho đến cuối thập niên 1970, người Trung Quốc chỉ giới hạn việc đánh cá ở các khu vực ven bờ biển, ở độ sâu dưới 100 mét. Nhưng sự khai thác quá mức của các khu vực này và do cần thiết phải tăng sản lượng cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu, Trung Quốc đã mở rộng sang đánh cá ngoài khơi,  ở độ sâu từ 100 đến 200 mét.

Bất chấp những nỗ  lực quan trọng thực hiện từ năm 1979 để hiện  đại hóa các đội tàu đánh bắt cá [13] việc đánh cá ngoài khơi vẫn còn là chuyện nằm bên lề nền sản xuất chung. Tuy nhiên, nó là một nhân tố kinh tế mới, dự kiến có khả năng sẽ phát triển hơn,  phải được quan tâm khi phân tích chiến lược của hải quân Trung Quốc.

Việc phát triển đánh bắt xa bờ  nằm trong những nỗ lực của Bắc Kinh để trở thành một cường quốc hàng hải trong khu vực, và phục vụ lợi ích chiến lược của Trung Quốc. Gần đây, đội ngư thuyền của Trung Quốc đã mở rộng hoạt động của họ trên biển Nam Hải, vốn là khu vực tranh chấp về biển đảo và biển khiến họ bị chống đối tại nhiều nước trong trong khu vực: đứng đầu  là Việt Nam, Malaysia, Philippines, và Đài Loan. [14] Chính phủ Bắc Kinh có thể sẽ tạo ra một tình hình thực tế để khẳng định tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa (họ gọi là Nam sa), giàu tài nguyên dầu mỏ. Chúng ta nên nhớ rằng vào năm 1974, Trung Quốc đã cướp đoạt  quần đảo Hoàng Sa (họ gọi là Tây Sa) của Việt Nam bằng vũ lực. Kể từ đó, họ không ngừng tăng cường cơ sở hạ tầng quân sự của mình và bắt đầu khai thác tài nguyên dầu mỏ tại quần đảo này. Sự quan tâm đến biển Đông của chính phủ Bắc Kinh đáp ứng một cách rộng rãi nhu cầu gia tăng nguồn tài nguyên thuỷ sản và mở rộng khai thác dầu mỏ ngoài khơi. Nhưng trên hết, sự hiện diện ngày càng tăng của lực lượng quân sự ở Hoàng Sa và Trường Sa cho phép Trung Quốc kiểm soát những đường vận chuyển lớn trên biển đi ngang phía Nam biển Nam Hải (Biển Đông).

Đánh giá lại mối đe dọa và cách tiếp cận chiến lược mới .

Năm 1985, tư lệnh Hải quân TQ (1982-1987), đô đốc Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing), đã nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược của Thái Bình Dương và nhu cầu tăng cường lực lượng hải quân, [15] khi Trung Quốc xác định lại những nền tảng chính sách chiến lược toàn cầu của họ. Sau cuộc họp mở rộng của Quân Ủy Trung ương Đảng Cộng sản (cơ quan tối cao, quyết định những vấn đề quân sự), tổ chức tại Bắc Kinh vào mùa xuân năm 1985, lôi snói năng giáo điều trước đây về “tất yếu sẽ có chiến tranh thế giới” đã bị gạt bỏ để thay vào đó là lối phân tích thực dụng hơn về  quan hệ quốc tế và về xung đột. Họ vẫn còn giữ quan điểm “chiến tranh nhân dân” của Mao trong trường hợp xảy ra một cuộc xâm lược qui mô lớn được coi là ít khả năng xảy ra, nhưng quan điểm đó của Mao cũng phải được điều chỉnh cho “phù hợp với những điều kiện tác chiến hiện đại.” Sự thay đổi này đánh dấu một bước ngoặt trong tư duy chiến lược của Trung Quốc. Từ bỏ chiến lược truyền thống “phòng thủ tích cực” [16] Trung Quốc quyết định chuẩn bị ngăn chặn các hoạt động tác chiến hạn chế về thời gian và không gian. “Vào thời đại chiến tranh hạn chế, chúng ta phải xây dựng một tư duy quân sự mới chú trọng đến qui luật xung đột cục bộ. Chúng ta phải hiểu rằng trong khuôn khổ của kiểu chiến tranh mới này, việc phân chia theo truyền thống các cuộc hành quân theo ba giai đọan là hoàn toàn vô nghĩa.” [17] Việc chuẩn bị cho cuộc chiến tranh hạn chế đòi hỏi Trung Quốc phải xác định  lại vai trò của lực lượng hải quân , và cho phép lực lượng nầy những phương tiện đánh trả bất kỳ kiểu xâm lược nào.

Một bài báo gần  đây đăng trên tờ “Nhật báo Quân Đội” cho rằng cuộc tranh cãi giữa phái chuẩn bị chiến tranh trên lục địa và phái chuẩn bị chiến tranh trên vùng biển vẫn chưa ngã ngũ: “Hiện tại các quan điểm đang đối chọi nhau về cách xây dựng chính sách quốc phòng. Quan điểm cho rằng thế giới đã bước vào một thời kỳ đối kháng trong việc bảo vệ các lợi ích và quyền lợi trên biển đòi ưu tiên cho phòng vệ trên biển. Một quan điểm khác nữa theo đó mối đe dọa trên đất liền vẫn còn tương đối lớn, lại đòi tăng cường chủ yếu việc bảo vệ biên giới của chúng ta. Nước ta có 20 000 km biên giới, 18 000 km bờ biển.. Chúng ta cũng phải bảo vệ nhiều triệu km vuông lãnh hải. Theo đó, việc bảo vệ lãnh thổ quốc gia đòi hỏi phải phòng bị trên tất cả các tuyến. Chúng ta phải từ bỏ những gắn bó cũ kỹ (ý nói tới chiến tranh nhân dân) và phải khuyến khích khái niệm quốc phòng coi trọng như nhau cả việc bảo vệ trên đất liền và việc phòng thủ trên biển. “[18] Bài viết này cho thấy Trung Quốc đang trên đường tìm kiếm một tư duy chiến lược mới, vượt khỏi khái niệm đơn giản “phòng thủ ngoại biên “(houfa zairen). Năm 1989, tạp chí “Liêu vọng” (Liaowang) dành một bài viết dài nói về sự hiện đại hoá lực lượng vũ trang Trung Quốc, nhấn mạnh rằng Hải quân đã tăng cường đáng kể các hoạt động hỗn hợp, rằng bộ binh của hải quân (lực lượng thủy lục chiến) sẽ trở thành một lực lượng hiện đại có khả năng tiến hành nhanh chóng tác chiến đổ bộ, bảo vệ các đảo và các điểm xung yếu chiến lược ven biển, nhằm hỗ trợ các tác chiến quân sự khác.

Trong những năm 1970, sự bành trướng quân sự của Liên Xô ở châu Á đã đóng góp rất nhiều vào việc phát triển khái niệm “phòng thủ vành đai ” tạo thành cầu nối giữa học thuyết “phòng thủ năng động” tiến hành bên trong lục địa và chuẩn bị các hoạt động hải quân giới hạn ở vùng ven biển, cho phép dung hòa các quan điểm  trái nhau trong quân đội, và phát triển các khả năng hải quân của Trung Quốc.

Khái niệm “houfa zhiren” (phòng thủ bằng tấn công phủ đầu) là sự phát triển (về lý luận) của  “phòng thủ vành đai “. Nó đưa ra quan điểm phản ứng theo từng bậc và khuyến khích thế chủ động trong việc giải quyết bất kỳ xung đột  biên giới hay ven biển nào [19]. Sự thay đổi học thuyết  quân sự này trong có xu hướng coi lực lượng hải quân có vị trí ngày càng cao. Theo tờ “ Nhật báo quân đội” (21/09/ 1989), “sự phát triển ngành Hải quân trong năm 2000” là đối tượng của một hội nghị chuyên đề quan trọng hồi tháng 7/ 1989, trong đó có những câu hỏi được thảo luận như: chiến lược ngoài biển khơi, học thuyết hải quân, vùng biển [20]. Những động thái lớn của hải quân Trung Quốc ở ngoài khơi đã được thông tin rộng rãi trên báo chí Trung Quốc. Báo Nhân Dân Nhật Báo  (dành cho người đọc hải ngoại) viết trong số ngày 20/9/1989, rằng Hạm đội Đông đã tiến hành  các “hoạt động hỗn hợp hải quân” trong hơn 120 ngày trên biển Nam Hải, sử dụng các tàu nổi, tàu ngầm và máy bay ném bom. Tờ “Nhật báo quân đội” thuật lại rằng các cuộc thao diễn hải quân lớn đã được thực hiện trong khu vực quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, giữa mùa xuân 1988 và tháng 8 năm 1989 [21]. Theo hãng thông tấn Trung Quốc, năm 1990, các cuộc thao diễn ngoài biển khơi nơi những  vùng biển hiểm trở (tại Biển Đông) đã giúp các đoàn thủy thủ quen với việc bắn các tên lửa đạn đạo, thực hiện các hoạt động chống tàu ngầm và các bài luyện tập đổ bộ[22]. Những thao diễn lặp đi lặp lại cho thấy rằng chiến lược ngoài khơi đã thay thế chiến lược  phòng thủ vùng ven biển (jinan fangyu).

Một bài viết của tờ “Nhật báo quân đội” đăng hôm 26/9/1989  đề cao chiến lược “mới” của hải quânTrung Quốc, trong đó khái niệm “phòng vệ việc thăm dò khai thác dầu khí ngoài khơi ” (Jinyang fangju) sẽ cho phép Trung Quốc mở rộng biên giới lãnh hải của họ về phía Tây-Bắc Thái Bình Dương. Và tác giả cũng nói rõ rằng Trung Quốc có những quyền từ lâu đời và có những đòi hỏi về chủ quyền lãnh thổ phải được thực hiện tại vùng này.

Việc đánh giá lại mối đe dọa từ phía Liên Xô đã đóng góp phần lớn vào sự phát triển chiến lược hải quân Trung Quốc. Kể từ khi đọc bài diễn văn nổi tiếng tại Vladivostok, trong đó ông M. Gorbachev cho thấy mong muốn giảm thiểu các yếu tố căng thẳng giữa hai nước, quan hệ Trung-Xô đã được bình thường hoá. [23] Tuy nhiên, bất chấp sự nhượng bộ của Liên Xô đối với Bắc Kinh trong lãnh vực quân sự (Liên Xô rút quân khỏi Afghanistan, giảm đơn vị đóng quân dọc theo biên giới với Trung Quốc, dừng cam kết với bán đảo Đông Dương), sức mạnh quân sự của Liên Xô luôn luôn là một mối đe dọa đối với Trung Quốc. Mong muốn có được một sức mạnh thứ hai chống lại mối đe dọa hạt nhân của Liên Xô chắc chắn đã là động cơ khiến Trung Quốc trang bị cho mình một khả năng chiến lược đại dương. [24] Hơn nữa, khi không chỉ có sự gia tăng các mối đe dọa hải quân Liên Xô, mà còn thấy triển vọng, cho dù còn xa, về sự phục hồi cường quốc hải quân Nhật bản lại càng  kích thích Trung Quốc phát triển hơn nữa khả năng hải quân của họ

Hiện  đại hóa Hải quân

Năm 1987, Tư lệnh Hải quân, Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing), đã công bố việc thực hiện một kế hoạch hiện đại hóa lực lượng hải quân dự kiến cho mười ba năm, xác định rằng mục tiêu của kế hoạch là biến lực lượng quốc phòng ven biển thành ” hạm đội đại dương hạn chế”. [25] Trong những năm 1980, hiện đại hoá hải quân đã trở thành một nhân tố chủ yếu của hiện đại hóa hệ thống quân đội Trung Quốc.

Hải quân Trung Quốc có khoảng 330 000 người và hơn 1.800 tàu thuyền đủ loại chia thành ba hạm đội. Hạm đội  Bắc Hải, hành dinh đóng tại Thanh Đảo, bao gồm vịnh Bột Hải và Hoàng Hải. Hạm đội Đông Hải, hành dinh đóng tại Ninh Ba (Ningbo), chịu trách nhiệm trên Biển Đông Trung Quốc. Hạm đội Nam Hải, hành dinh tại Trạm Giang (Quảng Đông), tuần tra biển Nam Hải. Để làm việc đó, phải  thêm không lực thủy quân (Aéronavale). Tại các căn cứ trên đất liền, không lực thủy quân có khoảng từ 25 000 đến 35 000 người và gần 900 máy bay [26]. Chi phí cho việc hiện đại hóa buộc Trung Quốc phải lựa chọn. Lãnh đạo Trung Quốc ưu tiên cho việc phát triển tàu ngầm. Hải quân hiện có 93 tàu ngầm trong đó có 1 tàu ngầm phóng tên lửa đạn đạo (SSBN loại “Hạ” (Xia), bắt đầu đóng năm 1981 và được sử dụng hai năm sau đó. 3 chiếc tàu  SSBN khác loại “Hạ” hiện đang được đóng tiếp. Có được một lực lượng chiến lược trên biển là một mục tiêu cơ bản của người Trung Quốc. Thực vậy, họ cho rằng sự bất khả xâm phạm và tính linh hoạt của tàu ngầm trang bị tên lửa hạt nhân là một sức mạnh ngăn chặn  chống lại Liên Xô. Tầm  bắn các tên lửa (CSSN3) (3 000 km) đương nhiên cho phép  Trung Quốc đe dọa các thành phố lớn của  Liên Xô ở Viễn Đông .

Mặt khác, Trung Quốc đã có được 4 tàu ngầm hạt nhân . Các tàu ngầm hạt nhân  loại Hán, trang bị ngư lôi 533 mm, chính là những tàu chiến thử nghiệm. Hầu hết lực lượng tàu ngầm gồm có tàu ngầm cổ điển loại Romeo. Đối với hạm đội trên biển,  hiện giờ có 56 tàu chiến: 19 tàu khu trục (trong những năm đầu thập niên 1960 mới chỉ có 4) và 37 tàu hộ tống chống tàu ngầm, hầu hết đều được thiết kế theo kiểu rất cổ.  Những tàu này làm thành một lực lượng đại dương nhỏ, nhưng lại không trang bị phương tienẹ phòng thủ chống tàu ngầm. Phần lớn các tàu Trung Quốc là các tàu tuần tra ven biển trang bị tên lửa biển đối biển thế hệ đầu tiên. dù ít tinh xảo, song các tên lửa chống tàu chiến của Trung Quốc vẫn tỏ ra có hiệu quả  trong suốt thời kỳ chiến tranh Iran – Iraq.

Hải quân Trung Quốc  không có bất kỳ lực lượng đánh chặn nào có đủ khả năng hoạt động xa bờ. Vì vậy, sau cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979, họ nỗ lực đặc biệt hiện đại hóa thủy quân lục chiến. Các lực lượng “thủy lục phối hợp” này, tên gọi chính thức là “luzbangdui Zhongguo Haijun” thực ra phát xuất từ thuật ngữ “Haijun huhing” (thủy quân lục chiến). Nó gồm 8 đơn vị và 2 trung đoàn xe tăng. Kể cả sĩ quan dự bị,  Thủy quân Lục chiến có khoảng 120 000 người. Tính theo số người, thì  các lực lượng “thủy lục” phối hợp  Trung Quốc đứng thứ nhì thế giới sau Mỹ, với 195 000 quân [27] Từ những năm đầu 1980, Trung Quốc gia tăng  luyện tập về bơi  lội, tham gia có cả các máy bay ném bom., các đơn vị lính dù và các tàu ngầm. Tháng ba năm 1988, những cuộc diễn tập thủy lục quan trọng  dược thực hiện tại Trường Sa. Tháng 12 1988, hải quân Trung Quốc đã tổ chức thêm những cuộc thao diễn đổ bộ ở vùng đông bắc của đảo Trường Sa. Đồng thời, Trung Quốc đã mua tàu đổ bộ mới, gia tăng khả năng tác chiến thủy lục của họ. Theo một ước tính của Mỹ, tầm hoạt động tối đa của thủy quân lục chiến sẽ là 500 hải lý, với sự hỗ trợ của Không quân. Nếu Trung Quốc đã đạt được khả năng tiếp xăng trên không, như tờ Tạp chí Kinh tế Viến Đông nói, thì sắp tới họ có thể tấn công chiếm quần đảo Trường Sa [28].

Sự gia tăng mối  đe dọa của hải quân Liên Xô và viễn cảnh phụ hồi lực lượng hải quân Nhật Bản chắc chắn  thúc đẩy Trung Quốc tăng cường khả năng chiến đấu của hải quân họ. Tham vọng về quyền lực trong khu vực cũng khiến họ  tự trang bị phương tiện  đi lại trên  biển khơi.  Nhưng hơn cả những gì các thông số quân sự và chính trị cho thấy, nhu cầu cốt tử là bảo vệ những lợi ích kinh tế cơ bản của Trung Quốc, khiến Chính phủ Bắc Kinh phải xác định lại chiến lược hải quân trên đại dương. Sự vươn dậy của đoàn tàu thương mại của họ, sự  phát triển đánh bắt thuỷ sản xa bờ, nhu cầu khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ ngày càng tăng buộc Trung Quốc ngày nay phải tìm cách bảo đảm tuyến đường biển lớn đang vận chuyển 90% hàng hóa trao đổi thương mại của họ với các bạn hàng  Âu Á, và để bảo vệ lợi ích ngày càng  xa bờ hơn nữa của họ.

Nhân danh việc bảo vệ các lợi ích kinh tế,  liệu Trung Quốc có định thu hồi bằng sức mạnh hay không những quần đảo mà họ đang đòi  chủ quyền ở biển Nam Hải?  Một bài báo đăng trên tờ “Nhật báo quân đội” ngày 10/5/1990 tố cáo các nước ngoài khai thác trữ lượng dầu của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa. Nhưng bài viết này cũng cho thấy rằng Trung Quốc hiện thời không thể tiến hành các hoạt động quân sự để bảo vệ lợi ích của mình trong khu vực này bởi vì họ  không có tàu sân bay và thiếu các sĩ quan hải quân lành nghề  một cách đáng kể . Nếu như cho tới nay Trung Quốc vẫn giải thích sự phát triển lực lượng hải quân của mình là do sự cần thiết bảo vệ vùng lãnh hải của họ, thì cũng đáng  lưu ý là bây giờ họ lại nói về các lãnh thổ của họ bị các nước ngoài chiếm đóng và nguồn tài nguyên biển của họ đang bị cướp bóc. Theo thống kê của chính phủ báo cáo trong tờ Minh Báo (Hồng Kông ngày 01/6/1990), hiện nay nhiều nước châu Á và TQ đang chọi nhau vì 1.5 triệu km2 vuông biển và hải đảo. Sự tranh chấp lãnh thổ trên Trường Sa lại càng quan trọng hơn khi trữ lượng dầu và khí đốt ở đây ước tính là 63 tỉ tấn. Cuối cùng, ta cần chú ý rằng Yan Hongmo, người phụ trách Cục Hải dương học TQ, đã tiết lộ rằng từ cuối năm 1990 chính quyền đã muốn triệu tập cuộc họp đầu tiên để soạn thảo chiến lược hải quân Trung Quốc. Cuộc tranh luận có vẻ sẽ diễn ra gay gắt trong nội bộ giới cầm quyền

——————————————

CHÚ :

[1] André Vigarié, “Trung Hoa: cuộc trường chinh ra biển”, Défense nationale, (Tạp chí Quốc phòng), Tháng 10 năm 1984, tr 89.

[2] xin đọc về chủ đề này: Chương V của tác phẩm của Hervé Coutau-Bégarie, Chiến lược địa lý ở Thái Bình Dương tạp chí Econornica, Paris, 1987.

[3] Tin Bắc Kinh, tháng ba năm 1981. Bản đồ này đã được in lại trong công trình nghiên cứu của Hervé Coutau-Bégarie -tlđd, tr. 192, và trong tác phẩm do François Godement hướng dẫn biên sọan, Giải trừ vũ khí hạt nhân ở châu Á, công trình nghiên cứu của IFRI, Masson, Paris, 1990, tr. 136.

[4] Thuật ngữ “đại trường thành trên biển” được sử dụng bởi nhà cầm quyền Trung Quốc thể hiện tính chất thuần túy phòng thủ của hải quân Trung Quốc trong thập niên 1970. Mục tiêu chính của họ là để ngăn chặn quyền người bên ngoài vào các bờ biển Trung Quốc.

[5] MC Bergere, JP Ratchet, Ch Etevenard, F. Godement, F. Jewels, Trung Quốc và Thái Bình Dương, hồ sơ số 27, Quỹ Nghiên cứu Quốc phòng , Paris, 1989, tr. 5-7.

[6] “Giải phóng quân báo” (JFJB), 31 tháng 5, 1988.

[7] Sau khi đoạn tuyệt với Bắc Kinh, Liên Xô đã từng bước củng cố tiềm năng trên bộ của họ để đối mặt với Trung Quốc. Số lượng các đơn vị đóng quân dọc theo biên giới với Trung Quốc tăng từ 17 (năm 1.965) lên tới 45( năm 1976), theo một nghiên cứu của Michael MccGwire, Military Objectives in Soviet Foreign Policy, Brookings Institution, Washington DC, p. 163, và Peter Weiss, “Những tham vọng của Liên Xô tại Viễn Đông,” tạp chí Revue internationale de défense, 12/1986, tr. 1751-1754, trích dẫn bởi Jerôme Paolini, trong Giải trừ vũ khí hạt nhân ở châu Á,  tlđd. p. 23.

[8] Số liệu trích dẫn bởi Marie-Claire Bergère, Trung Quốc và Thái Bình Dương, tlđd. trtr.. 28-29.

[9] François Joyaux, tlđd., tr. 14. Những con số này tính luôn cả hạm đội chính thức của Trung Quốc mang cờ quốc gia, và hạm đội thứ hai bao gồm các công ty đứng tên thay. Hạm đội chính thức phụ thuộc vào một công ty nhà nước, các công ty Trung Quốc Hải Dương Vận chuyển (COSCO) dưới sự giám sát của Bộ Giao thông vận tải. Hạm đội thứ hai bao gồm các công ty con của COSCO thành lập tại Hồng Kông và Ma Cao. Do đó con số 12,7 triệu   nên thêm phần thứ ba của hạm đội thương gia Trung Quốc đăng ký vận hành dưới sự đồng ý của nước có chủ quyền, ước tính khoảng 3.000.000 thùng theo F. Joyaux.

[10] David G. Muller, Trung Quốc như là một quyền lực Hàng hải, Westview Press, Boulder, Colorado 1983, tr. 186.

[11] Các con số trích dẫn bởi Andrew Vigarié, tlđd., tr. 85.

[12] Yann-huei Billy Song, “Chính sách đại dương của TQ”, EZZ and Marine Fisheries”, Asian Survey vol. XXIX, n° 10, tháng mười. 1989, tr. 995.

[13] Từ năm 1979, Trung Quốc ký các thỏa thuận vđánh bắt thuỷ sản và  hợp tác về công nghệ với nhiều quốc gia. Năm 1979, họ đã ký một nghị định thư hợp tác  khoa học và kỹ thuật với Hoa Kỳ, về thuỷ sản và nghiên cứu hải dương học. Năm sau, Trung Quốc đã ký một thỏa thuận nghề cá với Thái Lan và thương lượng một số thỏa thuận hợp tác về kỹ thuật đánh cá với các công ty Nhật Bản. Năm 1984 và 1985, các liên doanh đã được lập ra với nhiều nước, kể cả Nhật Bản và Hoa Kỳ. Ngày nay, các hoạt động đánh cá của Trung Quốc mở rộng cho đến ngoài khơi của Mỹ, gần Alaska, và bờ biển phía tây của Châu Phi.

[14] Quần đảo Trường Sa ở cách bờ biển Trung Quốc khoảng 1.600 km  và  cách bờ biển Việt Nam 400 km . Quần đảo gồm 33 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 8 đảo thuộc về Việt Nam, 3 thuộc Malaisie và 1 thuộc Đài Loan, rải rác trên 180 000 km ². Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam đòi toàn bộ quần đảo. Malaisie đòi các đảo phía Nam, Philippines đòi  nhóm đảo phía đông .

[15] “Trung quốc tân văn thư” (Bắc Kinh),  26 tháng 9,1985 in trong Foreign Broadcast Information Service – Chine (FBIS-CHI), 1 tháng 10-1985, trtr. K10-K12.

[16] “Chủ động phòng thủ” trong khuôn khổ một cuộc chiến tranh kéo dài, là những nguyên tắc của chiến lược quân sự “chiến tranh nhân dân”, trong đó bao gồm ba giai đoạn liên tiếp. “Giai đoạn đầu tiên là chiến lược công kích của địch, và chiến lược phòng thủ của ta, giai đoạn hai là củng cố vị trí chiến thuật của đối phương, và chuẩn bị thế phản công của ta,   giai đoạn thứ ba là chiến lược phản công của ta, và sự rút lui của kẻ thù”, Những bài viết về chiến tranh của Mao Trạch Đông, tlđd., tr. 238.

[17] Liaowang (ấn bản ở nước ngoài) Số 37, 15 tháng 9, 1986, trtr. 15-16 (FBIS-CHI,  23 tháng 9, 1986). Các tác giả của bài viết tham khảo những nguyên tắc chiến thuật của “phòng vệ tích cực” (ghi chú 16).

[18] JFJEJ, 9 Tháng Hai, 1990, tr. 3 (FBIS-CHI, 2 Tháng ba, 1990, tr. 23).

[19] Gene D. Tracey, “Chinals new rnilitary doctrine”, báo Asian Defence Journal, 3/90, tr. 26.

[20] Gene D. Tracy, tlđd..

[21] JFJB, 26 tháng 9, 1989.

[22] Tân Hoa xã (Bắc Kinh), 23 tháng 7, 1990 (FBIS-CHI, 27 Tháng Bảy, 1990, tr. 23).

[23] Trong bài diễn văn tại Vladivostok, ngày 28 tháng 7, 1986, ông chủ điện Kremlin đã mở cửa để cải thiện quan hệ giữa hai nước, bằng cách đổi hướng vị trí của Liên Xô trên “ba trở ngại” được xác định bởi Trung Quốc năm 1982: sự hiện diện của quân đội Xô viết tại Afghanistan, Liên Xô hỗ trợ cho sự chiếm đóng của quân đội Việt Nam tại Campuchia và mối đe dọa quân sự của Liên Xô dọc theo biên giới Trung Quốc.

[24] Năm 1981, hạm đội Trung Quốc được trang bị một chiếc tàu ngầm phóng tên lửa đạn đạo loại Xia. Tàu ngầm này được trang bị với 12 CSSN3 với tầm ngắm khoảng 3.000 km.

[25] Fred Burlatsky, “The Chinese Navy in Focus”, Asian Defence Journal, 3/90, p. 71.

[26] Hãy lưu ý  rằng việc thiếu dữ liệu đáng tin cậy cần phải tiếp nhận một cách cẩn thận các số liệu mà  chúng tôi cung cấp.

[27] John Moore, ed. Jane’s Fighting Ships 1983-1984, trích dẫn bởi Bradley Hahn, “”The Chinese Marine Corps”, US Naval Institute Proceedings,  tháng 3 năm 1984.

[28] FEER, 4 Tháng Mười, 1990, p. 8.

http://www.stratisc.org/strat_048_Fouquoire.htm

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: