Anhbaque’s Blog

Just another WordPress.com weblog

Bài 5: Tranh chấp hàng hải và hợp tác năng lượng tại biển Nam Trung Hoa

Posted by anhbahoa on November 22, 2009

Bài 5

Tranh chấp hàng hải và hợp tác năng lượng

tại biển Nam Trung Hoa

Maritime Claims and Energy Cooperation

in the South China Sea

LESZEK BUSZYNSKI và ISKANDAR SAZLAN

Các cuộc tranh chấp vùng biển chưa được giải quyết rốt ráo, hoặc chỉ giải quyết một phần ở vùng biển Nam Trung Hoa bao gồm Việt Nam, Malaysia, quần đảo Philippines, Brunei, Đài Loan, và Trung Quốc, làm cản trở việc phát triển tài nguyên dầu mỏ ở nơi này. Giá dầu  tăng cao và sự háu ăn ngốn ngấu năng lượng của Trung Quốc đã khơi dậy mối quan tâm mạnh mẽ việc khai thác các trữ lượng dầu mỏ trong khu vực. Dù cho chưa chắc lắm, các nước Asean cũng chăm chút vào những công ty năng lượng để thăm dò và khoan tìm trong các vùng mình đòi chủ quyến. Những thỏa thuận hợp tác giữa các công ty dầu mỏ gồm cả Trung Quốc đang thương thảo cũng bỏ qua việc chờ đợi mức độ an ninh cao đảm bảo, ngay cả việc chưa có một thỏa thuận nào về tranh chấp vùng biển. Hợp tác về năng lượng có thể ổn định vùng biển Nam Trung Hoa, từ đó có một môi trường hoạt động đảm bảo để khai thác dầu. Giờ đây, phương cách chuẩn bị để tiến hành những bước là sự tham gia thương thảo của các nước tranh, chấp hòng tìm kiếm một giải pháp cho cuộc tranh chấp vùng biển này.


Biển Nam Trung Hoa là một khu vực gồm trên 200 đảo, mỏm đá, và rặng san hô gồm cả nhóm đảo Hoàng Sa (Paracels) và Trường Sa (Spratly). Những tranh chấp lãnh hải chưa giải quyết được của Trung Quốc, Đài Loan, Brunei, Malaysia, Việt Nam và Philippines chồng chéo nhau; Trung Quốc và Việt Nam tranh chấp cho toàn bộ khu vực; các nước khác thì tranh chấp các khu vực tiếp giáp. Sự không chắc chắn trong liên hệ đến quyền phán quyết tối cao đã ngăn cản sự khai thác tài nguyên dầu khí và hải sản ở đây. Những cố gắng để dàn xếp các tranh chấp đã vấp phải tính phức tạp của vấn đề và kỳ vọng tốt đẹp cho là lẽ phải và một tính hợp lý hứa hẹn sẽ chiếm ưu thế hóa ra không thể tìm được. Một lý do quan trọng cho tình trạng vẫn chưa giải quyết nêu trên tại khu vực là sự từ chối của nước tranh chấp chủ yếu, Trung Quốc và Việt Nam, đều không chịu tách rời  khỏi khiếu nại chính thức của mình về toàn bộ khu vực. Nhiều đề xuất kêu gọi thảo luận đa phương với ý định cho Trung Quốc chủ trì cũng vì thế mà gặp lúng túng. Nếu biển Nam Trung Hoa chỉ là một vùng xa xôi nơi mà các tranh chấp khiếu nại có thể xếp xó mà không làm thiệt hại đến ai thì nó đã không thu hút được nhiều sự quan tâm như thế. Tuy nhiên cuộc tìm kiếm những trữ lượng dầu mỏ mới đã thêm vào mức độ khẩn cấp phát sinh cho vấn đề, đặc biệt khi Trung Quốc chật vật tìm cách thỏa mãn nhu cầu năng lượng đang bùng nổ của mình. Các nước đang tranh chấp hiện  quan tâm nhiều nhất đến việc khai thác nguồn năng lượng trong lãnh hải mình thuộc khu vực có tranh chấp, đặc biệt là các nước ASEAN. Vùng biển Nam Trung Hoa có thể an ninh đến mức cho phép các nước tranh chấp có thể rút tỉa tài nguyên năng lượng mà không cần đến một giải pháp cho những tranh chấp về lãnh hải ?

Những yêu sách lãnh hải

Điểm mấu chốt trong những yêu sách lãnh hải là giải quyết chiếu theo Công ước về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS) , không thừa nhận những gì mà Trung Quốc xem là quyền hạn dựa trên lịch sử của mình trên vùng biển Nam Trung Hoa, trong lúc đó lại cho phép các nước ven biển được kiểm soát phần tài nguyên mà Trung Quốc cảm thấy họ có quyền sở hữu. Vấn đề nổi lên chủ yếu do Trung Quốc bị ngăn cản từ các sự kiện nhằm thực hiện yêu sách lịch sử của mình đối với vùng biển Nam Trung Hoa, trong lúc các nước ASEAN tranh thủ cơ hội chiếm đóng các đảo ở đây. Sự chia rẽ này giữa nhận thức về  chủ quyền trong lịch sử của Trung Quốc và thực tế chiếm hữu các đảo biển Nam Trung Hoa là thành quả của Hội nghị San Francisco tháng 9-1951 khi lực lượng đồng minh thất bại trong việc xác định các đảo ở biển Nam Trung Hoa được giao cho ai cai quản khi họ tước quyền sở hữu của Nhật Bản sau cuộc chiến Thái Bình Dương. Điều khoản 2(f) của Hiệp ước San Francisco đơn giản cho rằng “Nhật Bản từ bỏ mọi quyền hạn, danh hiệu, và đòi hỏi về quần đảo Trường Sa (Spratly) và  Hoàng Sa (Paracel)”. Kết quả như Valero đã ghi nhận là một “Khoảng trống  về luật pháp và chính trị” từ đó cho phép các nước duyên hải đưa ra những yêu sách về lãnh hải đã nêu, cũng là đúng thôi (Valero 1994). Nếu như Trung Quốc không rơi vào tay cộng sản thì phái đoàn Mỹ tại hội nghị có thể đã cho phép một nước Trung Quốc phi cộng sản nhận lấy quyền sở hữu. Yêu sách của Trung Quốc dựa trên cơ sở là mình khám phá trước tiên đã có trọng lượng với lực lượng đồng minh như Trung Quốc đã luôn xác nhận điều đó. Minh Triều đã trao một công hàm phản đối vào năm 1877 khi tàu buôn Anh quốc đến vùng quần đảo Trường Sa (Spratlys), một phản đối tương tự đã trao vào năm 1883 khi một tàu buôn Đức khảo sát vùng này. Năm 1887 Trung Quốc và Pháp, với tư cách nước bảo hộ Đông Dương, đã ký một thỏa thuận biên giới có chỉ rõ các đảo nằm ở phía đông vạch chỉ định là thuộc về Trung Quốc, bỏ lại các đảo ở biển Nam Trung Hoa cho Trung Quốc (Choon-ho 1978). Các cột mốc Trung Quốc đã được đặt trên quần đảo Hoàng Sa (Paracels) năm 1907, sau đó được sát nhập vào tỉnh Quảng Đông (Valero 1994). Vào ngày 26-7-1933 Pháp đòi chủ quyền các đảo ở biển Nam Trung Hoa và sát nhập các đảo trên vào vùng Đông dương thuộc Pháp. Năm 1939 Nhật Bản chiếm đóng một số đảo chính trong quần đảo Spratlys nhưng khi người Pháp trở lại sau chiến tranh chính phủ Quốc dân đảng ở Trung Quốc tiếp tục tranh cải quyền sở hữu của người Pháp. Tháng 12-1947, chính phủ Quốc Dân Đảng ra tuyên bố tái xác lập quần đảo HS (Paracels) và TS (Spratlys) là một phần của tỉnh Quảng Đông. Trước khi diễn ra hội nghị San Francisco, Ngoại trưởng Trung Quốc Chu Ân Lai vào ngày 15-8-1951 một lần nữa tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo trên (Valero 1994). Lực lượng đồng minh không cho phép các đảo trên trở lại vào tay Cộng sản Trung Quốc, trong trường hợp đó sự tách biệt đáng phê phán giữa cái mà Trung Quốc coi như thuộc quyền lịch sử và thực tế chiếm hữu là hậu quả.

Trung Quốc đã phản đối sự xâm lăng ngoại bang vào vùng đảo và đã tranh cải quyền sở hữu với Pháp và Nhật từ đó mang lại một ít thực chất cho yêu sách của mình trước pháp luật. Vấn đề của Trung Quốc là những khiếu nại căn cứ vào lịch sử là chưa đủ và cần phải hoàn chỉnh bởi một sự thuyết minh về “hành vi chiếm ngụ liên tục và có hiệu lực” trước khi chủ quyền có thể được nhìn nhận trước pháp luật. Tầm quan trọng của việc chiếm đóng có hiệu lực đã được xác lập như là một tiền đề ở trường hợp đảo Palmas, được tuyên bởi Tòa án Trọng tài Thường trực vào ngày 4-4-1928, những trường hợp khác cùng xác lập như trên là vụ Clipperton (28-1-1931) và Eastern Greenland (5-4-1932). Những trường hợp này chẳng những xác lập sự quan trọng của việc chiếm ngụ liên tục mới được quyết định trao chủ quyền mà còn khuyến khích các quốc gia chiếm ngụ các đảo bất chấp những khiếu nại căn cứ vào lịch sử để kỳ vọng rằng sự công nhận chính thức sẽ diễn ra sau đó (Valero 1994). Sự tách biệt yêu sách căn cứ vào lịch sử ra khỏi việc thực tế chiếm ngụ là rất quan trọng cho hướng giải quyết tranh chấp về sau ở vùng biển Nam Trung Hoa, và để hiểu được sự than vãn và ý nghĩ bị đối xử bất công của Trung Quốc. Chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Quốc năm 1947 đã chiếm đóng ngắn ngủi vài đảo trong quần đảo TS ( Spratly) sau khi Nhật Bản bỏ chạy nhưng họ đã rút lui khi lục địa bị rơi vào tay Cộng sản. Tuy nhiên, sự hiện diện của Mỹ

và sau này là khối Xô Viết đã ngăn cản Trung Cộng làm rõ việc chiếm ngụ có hiệu lực tại quần đảo TS (Spratlys), mặc dù vào năm 1956 Trung Quốc đã chiếm ngụ đảo Eastern Paracels (Đông HS) và năm 1974 chộp lấy đảo Western Paracels(Tây HS). Trung Quốc đã viện đến những bản đồ để phổ biến đòi hỏi chủ quyền của mình, là một vùng quét rộng và sâu vào biển Nam Trung Hoa nhưng chính xác kích thước và tọa độ thì chưa bao giờ định rõ (Wang 1958; Yu 2003). Việc bất lực trong hợp thức hóa chủ quyền theo lịch sử thông qua chiếm ngụ giải thích sự thất vọng của Trung Quốc trong vấn đề trên và quyết định vớt vác lại cái mà sau này xem như là “vùng lãnh thổ bị mất” (Garver 1992; Tai 1990).

Việt Nam tương tự cũng nhấn mạnh vào yêu sách thuộc lịch sử ở vùng biển Nam Trung Hoa dựa trên việc đặt chân lên đảo trong triều Nguyễn, từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Những yêu sách này liên hệ đến quần đảo HS(Paracels) và bằng chứng hỗ trợ việc tiếp xúc với đảo TS (Spratlys) trong lịch sử thì còn chưa rõ ràng (Valero 1994). Năm 1956 miền Nam Việt Nam đòi hỏi quần đảo HS ( Paracels) thuộc về Việt Nam khi Việt Nam được thống nhất dưới triều Nguyễn năm 1802, và rằng đảo TS(Spratlys) đã được sát nhập vào Nam Kỳ (Cochinchina) bởi người Pháp vào năm 1929. Miền Nam Việt Nam cũng đòi hỏi quyền tiếp thu của toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa từ thực dân Pháp như là một người thừa kế chính đáng. Khi một nhà thám hiểm người Philippines tên Tomas Cloma đòi hỏi đảo Tây TS(Spratlys) cho người Philippines, miền Nam Việt Nam bắt đầu chiếm giữ các đảo này từ tháng 8-1956, và vào ngày 22-10-1956 lập lại đòi hỏi của mình trên vùng đó. Hoạt động của Cloma cũng nhắc nhở Đài Loan lập đồn bót tại đảo lớn nhất tên là Itu Aba từ tháng 10-1956. Không muốn kích động đến Trung Quốc trong giai đoạn này, miền Bắc Việt Nam đã im lặng và vào ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong một công hàm ngoại giao đã chấp nhận chủ quyền của Trung Quốc trên cả hai quần đảo HS (Paracels) và TS(Spratlys). Miền Bắc Việt Nam cũng chứng kiến cảnh Trung Quốc trục xuất người miền Nam Việt Nam ra khỏi đảo Tây HS (Western Paracels) vào ngày 19-1-1974. Thống nhất đất nước vào năm 1975 đã cho Việt Nam sự tin tưởng để đối phó với Trung Quốc với một vị thế mạnh mẽ. Việt Nam đã bác bỏ sự công nhận trước đây về chủ quyền của Trung Quốc và chuyển đến chiếm đóng 13 đảo nhỏ trong quần đảo TS(Spratlys) thúc đẩy một cuộc đoạn tuyệt công khai với Trung Quốc (Joyner 1999). Được nhắc nhở qua những cuộc thương thảo UNCLOS, trong ngày 12-5-1977,  Việt Nam tuyên bố Khu Đặc quyền Kinh tế (EEZ) 200 hải lý, và bao gồm cả quần đảo HS (Paracels) và TS(Spratly) nằm trong lãnh hải của mình (Hyer 1995). Việt Nam biểu lộ yêu sách của mình bằng hai Sách Trắng ấn hành bởi Bộ Ngoại giao năm 1979 và 1981 tuyên bố chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Valero 1994). Điều này có lợi thế trở thành khả năng chứng minh chiếm ngụ có hiệu lực 21 đảo nhỏ trong vùng quần đảo TS(Spratlys) từ năm 1989, và đến năm 1999 có khoảng 27 đảo nhỏ và rặng đá ngầm đã bị chiếm đóng (Joyner 1999).

Tương tự, các quốc gia tranh chấp khác cũng viện đến sự chiếm ngụ ở các đảo để hỗ trợ cho yêu sách của mình mà chẳng có những nền tảng chứng cứ lịch sử đáng tin cậy. Philippines từ lâu đã đặt ra các yêu sách chủ quyền đến một khu vực tiếp giáp trong vùng biển Nam Trung Hoa và đã phản đối khi Pháp tuyên bố chủ quyền trên các đảo này vào năm 1933. Tuy nhiên người Mỹ, đang cai trị đất nước Philippines lúc bấy giờ, xem quần đảo TS (Spratlys) là nằm ngoài phán quyết của người Philippines (Barnes 1939). Các phản đối đại loại được nêu lên khi Nhật Bản chộp lấy quần đảo TS(Spratlys) vào năm 1939, Bộ trưởng Giao thông và Công trình công cộng Mariano Jesus Cuenco được gọi đi thị sát vùng quần đảo để xác minh chắc chắn những chỗ nào là thuộc về Philippines (Odell 1939). Sự khác biệt giữa người Phi và người Mỹ về các đảo trên có xem là một phần của lãnh địa Philippines hay không một lần nữa bộc lộ vào những năm 1995-99 khi người Phi trông đợi phía Mỹ  một sự bảo vệ qua (hiệp định) đồng minh song phương. Tomas Cloma đã lên đảo TS(Spratlys) vào tháng 5-1956 và đặt tên quần đảo là Kalayaan (Freedomland) tuyên bố nó thuộc về Philippines.

Cloma đã có dự định đăng ký yêu sách của mình với Liên Hiệp Quốc nhưng hải quân Đài Loan đã bắt được một trong những tàu của ông ta buộc ông phải bỏ chạy. Tổng thống Carlos Garcia ra tuyên bố vào tháng 12-1956 thông báo rằng quần đảo TS(Spratlys) đã được đặt dưới sự ủy thác trông coi của đồng minh sau hội nghị San Francisco – một yêu sách giả mạo, nhằm ngụ ý ngăn cản người Trung Quốc chiếm đóng. Garcia đã tuyên bố rằng yêu sách của Tomas Cloma là Terra Nullius có nghĩa là “vùng đất bị bỏ hoang” (Valero 1994). Sự phân biệt vô lý giữa quần đảo TS (Spratlys) và yêu sách của Cloma là tập trung vào vị trí của Philippines và cho phép Tổng thống lúc đó là Ferdinand Marcos đòi hỏi  khu vực biển tiếp giáp vào ngày 10-7-1971, từ đó vào năm 1972 được gom vào tỉnh Palawan. Người Philippines chiếm tám hòn đảo bắt đầu từ tháng 3-1878, và ra tuyên bố sát nhập vùng yêu sách vào lãnh thổ Philippines vào tháng 12 cùng năm.

Yêu sách lãnh thổ của người Malaysia là dựa trên một đòi hỏi về thềm lục địa và được phát biểu vào năm 1979 với việc xuất bản một bản đồ vùng biển Nam Trung Hoa của Giám đốc Địa dư Quốc gia. Yêu sách bắt nguồn từ Bộ Nội Vụ của Ghazali Shafie do thấy Việt Nam chiếm đóng các đảo và Philippines tuyên bố chủ quyền vào năm 1978 (nguồn do phỏng vấn, Kuala Lumpur 2002). Malaysia trong tháng 5-1983 đã chiếm đóng Dãy đá ngầm nông tức đảo viền san hô ngầm Layang; năm 1986 lại thêm hai rặng đá ngầm nữa bị chiếm giữ; và năm 1999 thêm hai nữa, tổng số là năm. Yêu sách lãnh thổ của người Malaysia chồng chéo với phần của Philippines và căng thẳng đã bộc lộ vào năm 1988-89 khi ngư dân người Philippines bị bắt giữ tại vùng chồng chéo trên (xem bảng đồ 1).

Dân chiếm ngụ trên các đảo đã tạo ra một việc đã rồi và việc di dời họ mà không cần lực lượng quân sự là không tưởng. Tuy nhiên, mặc cho sự chiếm ngụ gắn liền với tầm quan trọng, luật pháp không đưa ra sự che  chở trọn vẹn. Đạo luật UNCLOS-3 năm 1982 định rõ nhiều khu vực biển khác nhau bao gồm thềm lục địa và EEZ, cả hai loại đều được ban cho quyền sở hữu tài nguyên nhưng không ban cho hòn đảo. Malaysia và Philippines đã viện đến thềm lục địa để biện hộ cho yêu sách của mình nhưng điều này chưa đủ căn cứ pháp lý để đòi sở hữu hòn đảo. Sở hữu hòn đảo sẽ mang lại quyền tiếp cận tài nguyên như Điều khoản 121 của UNCLOS-3 ấn định rằng các hòn đảo có thể đưa ra đặc khu kinh tế và thềm lục địa của mình. Tư cách của những hòn đảo này không ấn định ngay qua việc chiếm giữ, đặc biệt khi có sự tranh chấp dựa trên khiếu nại theo lịch sử, và một quyết định cuối cùng về chủ quyền sẽ cần phải trải qua một số giai đoạn.

Câu hỏi đặt ra ở đây là các mỏm đá và rặng đá ngầm bị chiếm giữ bởi các quốc gia yêu sách lãnh thổ có mang lại cho họ quyền lợi đặc thù nào không dưới luật UNCLOS. Điều khoản 121(3) dường như ngăn cản điều này vì nó cho rằng các mỏm đá “không đủ điều kiện sống cho con người hoặc đời sống kinh tế của chính nó thì sẽ không có được đặc quyền khu vực kinh tế hoặc thềm lục địa”. Charney ghi chú rằng điều khoản 21 có thể không ngăn cản việc các mỏm đá có được các lĩnh vực hàng hải khác không bị cấm cản ở phần trên, như những vùng lãnh hải và vùng tiếp giáp chẳng hạn. Hơn nữa, khả năng sinh lợi về kinh tế có thể hiểu theo nhiều hướng và chừng khi nào vùng nước quanh mỏm đá hoặc rặng đá ngầm còn thường xuyên sử dụng cho đánh bắt cá hay làm nơi trú bão tạm thời thì nó tự bản thân vẫn có một “đời sống kinh tế” (Charney 1999). Trong lúc việc thương thảo về UNCLOS, một số nước đảo nhỏ tranh luận rằng những đặc điểm không người cư ngụ ven bờ biển phải được xem như là hòn đảo phát sinh ra khu vực hàng hải chừng khi nào các vùng nước ven bờ này được sử dụng thường xuyên trong đánh bắt. Những quốc gia yêu sách có thể vin vào sự diễn dịch lỏng lẻo này cho bất kỳ cuộc thương thảo nào trên vùng biển Nam Trung Hoa, vì điều này sẽ cho phép họ gắn EEZ và thềm lục địa vào mỏm đá và rặng san hô ngầm mà họ đã chiếm giữ. Tuy nhiên, điều này sẽ hết sức phức tạp cho các thương thảo để giải quyết những yêu sách của họ.

Sự chiếm giữ trước tiên của Việt Nam và yêu sách của các nước Asean đã loại Trung Quốc ra khỏi vùng biển Nam Trung Hoa, cho Trung Quốc một động lực mạnh mẽ để thu hồi cái mà họ xem như đúng ra phải thuộc về họ (Shee 1998). Tái yêu sách “lãnh thổ bị thất lạc” hoặc còn gọi là “hải quyền” của Trung Quốc là một nhiệm vụ đại chúng hóa bởi Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing), Đô đốc Hải quân từ năm 1982 (Tai Ming Cheung 1990), là người được chỉ định làm Bí thư thứ nhất Quân Ủy Trung Ương (CMC) vào năm 1992.

Người Trung Quốc bắt đầu tiến vào quần đảo TS( Spratlys) tháng 7-1987, tận dụng lúc Xô Viết muốn rời bỏ khu vực và phó mặc đồng minh Việt Nam tự xoay sở. Hai đảo bị chiếm đóng vào tháng 1-1988 và vào 14-3-1988, chiến hạm Trung Quốc va chạm với các đơn vị Hải quân Việt Nam gần rặng san hô ngầm Johnson. Vào tháng 5-1989 Trung Quốc đã chiếm 7 đảo và đến 1992 tổng cộng được 9 đảo, tạo cơ hội có mặt tại hiện trường mà trước đây vẫn chưa có. Khối Asean lo lắng trước động thái của Trung Quốc. Tờ Bưu điện Jakarta cho rằng Trung Quốc đã “trở nên quyết đoán hơn” và có thể muốn “tái dàn xếp cân bằng sức mạnh ở Đông Á”.  Tờ Thời báo Straits ghi nhận rằng “Những yêu sách của Trung Quốc là vô nghĩa theo nguyên tắc tự nhiên của sự gần gủi về mặt địa lý”. Những người khác thì xem hành động của Trung Quốc dưới góc độ một “tham vọng bá chủ” nhằm thay thế Mỹ trong khu vực (Hamzah 1992).

Bảng đồ 1

Các vùng tranh chấp chủ quyền tại biển Nam Trung Hoa

SOURCE: Vivian Louis Forbes, Conflict and Cooperation in Managing Maritime Space in Semi-enclosed Seas (Singapore: Singapore University Press, 2001), p. 136. (Reproduced with  the kind permission of Dr Vivian Louis Forbes)

Quốc hội Trung Quốc (NPC) vào ngày 25-2-1992 tuyên bố rằng biển Nam Trung Hoa là lãnh hải Trung Quốc, còn hơn cả yêu sách về tài nguyên trong khu vực vì về mặt pháp lý nó sẽ cho phép giới hạn tàu bè qua lại. Một quan điểm phổ biến là Trung Quốc có ý đồ kiểm soát biển Nam Trung Hoa, xem ra “không tránh đâu được” trừ phi Trung Quốc cải thiện hành vi của mình (Smith 1994). Một số người than phiền rằng giới lãnh đạo chính trị Bắc Kinh đã giao cho PLA (Quân đội Giải phóng Nhân dân) quyền “tiền trảm hậu tấu” trên vùng biển Nam Trung Hoa nhằm trao đổi lại sự hậu thuẩn đối nội sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, và rằng sự sống còn của giới lãnh đạo chính trị phụ thuộc vào sự trung thành của PLA (Dobson và Fravel 1997). Những người khác ghi nhận rằng “quan điểm phục hồi lãnh thổ là phổ biến trong giới lãnh đạo” nhưng Trung Quốc đã và đang củng cố vị thế của mình cho mục tiêu mặc cả vào một thời điểm thích hợp (Hyer 1995).

Sự chiếm đóng của Trung Quốc ở rặng đá ngầm Mischief trong vùng biển Philippines theo yêu sách trước đây bị phát hiện ra vào tháng 2-1995  khích động một sự phản đối kịch liệt tương tự và dấy lên mối nghi ngờ trong Asean rằng ý đồ của Trung Quốc là thực hiện yêu sách của mình qua việc dần dần bành trướng. Tại Philippines sự kiện rặng đá ngầm Mischief được xem là sự dối trá ca Trung Quốc, đặc biệt khi Bộ trưởng Ngoại giao Tiền Kỳ Thâm(Qian Qichen) trong tháng 7-1992 đã trấn an Asean về những ý định hòa bình của Trung Quốc. Một giải thích cho sự chiếm đóng là nó được tính toán bởi hải quân Trung Quốc hoặc PLAN hợp tác với Cục Ngư nghiệp Trung Quốc, đắng sau lưng là các lãnh đạo chính trị (Shee 1998). Số khác thì cho là một sự móc nối địa phương từ giới chức đảo Hải Nam với ý định là đảm bảo quyền đánh bắt trong khu vực (Zha 2001). Tuy nhiên, bành trướng từng bước vào những vùng không được chống giữ của một nước có yêu sách nhưng yếu đuối hơn như Philippines đã đạt đến giới hạn, thúc giục một sự liên kết phản đối và một phản ứng ngoại giao mạnh mẽ từ cộng đồng thế giới được báo trước.

Những thay đổi được ghi nhận khi Giang Trạch Dân tách Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing) ra khỏi Quân Ủy Trung Ương (CMC) sau Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 15 vào tháng 9-1997. Thêm vào đó, mặc dù Trung Quốc cố gắng giữ Mỹ ra khỏi cuộc tranh chấp, Mỹ cũng đã ký một Hiệp định Thăm viếng Lực lượng Quân sự (VFA) với Philippines vào ngày 10-2-1998 và từ đó dẫn đến việc thường xuyên tập trận với Lực lượng Vũ trang Philippines. Trong tháng 8-1999 Mỹ di chuyển hai hàng không mẫu hạm vào vùng biển Nam Trung Hoa vào lúc căng thẳng giữa Bắc Kinh và Đài Loan như để biểu dương lực lượng. Sự quan tâm của Mỹ tại vùng biển Nam Trung Hoa là duy trì tự do của tuyến đường biển và ngăn ngừa thế lực thù địch thống trị trong vùng, chứ không hỗ trợ bất kỳ một yêu sách hàng hải nào tại đây. Mỹ đã hành động khi có nguy cơ Trung Quốc sẽ thống trị khu vực này cho phép Bắc Kinh kiểm soát tuyến đường biển dẫn đến Nhật Bản và Hàn Quốc. Cuộc khủng hoảng Đài Loan năm 1995-96 trùng hợp với biến cố ở rặng đá ngầm Mischief và làm tăng thêm mối quan tâm của Mỹ đối với ý đồ của Trung Quốc vào lúc đó. Mỹ phản ứng bằng cách tìm nơi lập căn cứ hải quân tại Philippines và còn đánh tiếng với Việt Nam về việc sử dụng vịnh Cam Ranh là căn cứ  của Liên Xô  trước đây được người Nga sử dụng cho đến năm 2002. Trung Quốc đã rút lui khỏi động thái chuốc lấy nguy hiểm có thể khiến các  nước Asean liên minh  lôi kéo cả Mỹ vào cuộc, và điều này làm ổn định tình hình trong vùng biển Nam Trung Hoa ở một mức nhất định (Buszynski 2002). Sau đó, Trung Quốc tỏ ra tiếp thu nhiều hơn đối với các đề xuất của Asean trong việc quản lý vấn đề tranh cải, nâng cao sự hoan nghênh triển vọng tiến triển hướng về giải pháp chung cuộc của vấn đề.

Những nổ lực giải quyết

Những nổ lực tìm kiếm một giải pháp cho sự bất  hòa dựa trên hy vọng Trung Quốc cuối cùng rồi cũng sẽ thỏa hiệp yêu sách lãnh thổ để cho phép khai thác tài nguyên để các bên đều hưởng lợi. Về những tranh chấp lãnh thổ, Trung Quốc luôn theo một kiểu mẫu động thái đặc thù: đầu tiên giới lãnh đạo tôn vinh nền tảng đạo đức trong bảo vệ chủ quyền như là một nguyên tắc thiêng liêng; một khi điều này được xác lập và nhận thức bởi các bên, điều chỉnh theo hướng thực dụng có thể diễn ra sau đó mà không bị mất mặt. Bắc Kinh đạt được dàn xếp lãnh thổ với các láng giềng – Nepal năm 1961, Pakistan năm 1963, Mongolia năm 1962, Burma năm 1960, Afghanistan năm 1963 – đã cho thấy khả năng của Trung Quốc trong sự thực hành thỏa hiệp (Hyer 1995). Trong danh sách này người ta có thể thêm vào Nga khi các hiệp định thỏa hiệp năm 1991 và 2004 cuối cùng đã giải quyết vấn đề rắc rối về biên giới. Căn bản cho một giải pháp đã được nhận thấy trong tuyên bố của Trung Quốc sẵn lòng tham gia hợp tác phát triển tài nguyên vùng biển Nam Trung Hoa, đầu tiên được loan báo bởi Thủ tướng Lý Bằng tại Singapore vào ngày 13-8-1990. Sau đó Thủ tướng Trung Quốc tuyên bố Trung Quốc đã sẵn sàng cho “nổ lực hợp tác với các nước Đông Nam Á nhằm phát triển các đảo và từ nay gạt sang bên các vấn đề về chủ quyền” (Chanda và Tai 1990). Công thức trên được lập lại bởi Tiền Kỳ Thâm (Qian Qichen) tại Hội nghị Bộ trưởng khối Asean (AMM) lần thứ 25 ở Manila tháng 7-1992, tại đó ông ta khẳng định rằng “khi các điều kiện đã chín muồi chúng ta có thể bắt đầu thương thảo”. Chưa bao giờ chịu nói rõ khi nào thì các điều kiện chín muồi hoặc kiểu liên kết phát triển nào có thể được và diễn ra tại đâu. Dường như việc Trung Quốc chẳng quan tâm đến ý định liên kết phát triển khiến nhiều người nhân định Trung Quốc đã lôi kéo bằng thủ đoạn ngoại giao để tránh việc Asean hợp lại chống đối. Người khác thì giải thích động thái của Trung Quốc trong điều kiện xung đột tệ quan liêu giữa nhóm CMC theo chủ nghĩa bành trướng và nhóm các bộ trưởng kinh tế và đối ngoại, nhóm này sẽ mềm dẽo hơn trong vấn đề trên (Garver 1992). Bỏ qua ý kiến cho đó là một sự dối trá đơn thuần, các ngoại trưởng Asean đã ghi nhận rằng lời nói của Bắc Kinh với nhiều giọng điệu khác nhau và rằng sự sắp xếp các vị trí phụ trách đã là một vấn đề cho Bắc Kinh để sử lý việc này cũng như các vấn đề khác. Chiến lược của Asean đối phó với Trung Quốc là cam kết sẽ cùng các nhóm thực dụng trong hàng ngũ lãnh đạo Bắc Kinh để thương thảo về các yêu sách hàng hải. Nếu Asean có thể đưa ra cho nhóm này một giải pháp cho vấn đề mà nó có thể cho phép Trung Quốc khai thác hải sản, tài nguyên dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên trong vùng, vị trí của họ trong mối quan hệ với nhóm kiên định lập trường có thể được củng cố và một thỏa hiệp sau cùng có thể đạt được.

Các tuyến đường hàng hải chủ yếu trên biển Đông

Tiếp cận đầu tiên hướng đến dàn xếp vấn đề đã đưa đến đường lối thứ nhì tài ngoại giao (Đường lối 2) nhằm mục đích gây ảnh hưởng đến các viên chức trong đường lối thứ nhất. Indonesia đã mời Trung Quốc và các đại diện Asean dự một loạt hội thảo hàng năm tên là “Quản lý các xung đột tiềm tàng trong biển Nam Trung Hoa”, cung ứng một diễn đàn nơi mà các đề xuất có thể được giới thiệu trước khi trình lên cấp thẩm quyền để thương thảo. Các nhà lý luận về giải pháp cho tranh chấp đã đầu tư nhiều hy vọng vào các cuộc hội thảo này và tính hiệu quả  của đường lối thứ nhì tài ngoại giao để mang đến những thay đổi trong các vị trí chính quyền; những cuộc hội thảo này bắt đầu vào tháng 1-1990 với sự tài trợ từ  Chi nhánh Phát triển Quốc tế Canada [CIDA]. Tại cuộc hội thảo thứ nhì năm 1991, các đại diện Trung Quốc, Việt Nam và Đài Loan đã được mời, Bộ trưởng Đối ngoại Indonesia Ali Alatas đã giới thiệu ý kiến về một liên kết giới chức thẩm quyền để khai thác tài nguyên trong vùng trong khi các yêu sách chủ quyền có thể được xếp lại, không thành công, điều này không nhận được sự ủng hộ nào. Năm 1993 Ali Alatas đề xuất rằng các cuộc hội thảo được nâng lên thành mức chính thức thương thảo, cả Trung Quốc và Việt Nam phản đối. Năm 1994, Ali Alatas và Đặc sứ Ngoại giao Luật Biển là Hashjim Djalal đưa ra đề xuất “bánh da lợn” mà theo đó mỗi quốc gia ven biển có yêu sách sẽ được cấp quyền 200 hải lý theo yêu sách dựa trên UNCLOS, còn khu vực vượt khỏi giới hạn đó được dùng cho liên kết phát triển (Chanda 1994). Không cần phải nói, cả Việt Nam và Trung Quốc đều bị bất lợi theo đề xuất trên nên đã phản đối. Cho dù các cuộc hội thảo vẫn tiếp tục, mọi hy vọng đều đặt vào đường lối 2 tài ngoại giao do các nhà lý luận về giải pháp cho xung đột đề ra dường như bị phản bội khi việc trên trở thành một phần mở rộng của đường lối 1. Những người tham gia tự xem mình như là viên chức chính phủ như thực tế hầu hết là thế, được chính phủ họ chỉ định và chấp nhận vị trí viên chức chính phủ. CIDA thất vọng và rút lui năm 2001 nhưng tài trợ từ các bên tham gia cũng đủ để tiếp tục chuổi hội nghị.

Tiếp cận thứ nhì theo sau thương thảo đa phương trên vùng biển Nam Trung Hoa trong nội bộ Asean còn gọi là Hội thảo Khu vực Asean (ARF). Khởi đầu, có những hy vọng trong khối ASEAN rằng Trung Quốc sẽ chấp nhận thương thảo đa phương trong ARF nhưng điều này đã bị Trung Quốc từ chối thẳng thừng. Điều Trung Quốc lo lắng là thương thảo kiểu này sẽ cho phép ASEAN phát triển một thứ bậc chung và sẽ cho phép các thế lực bên ngoài như Mỹ và Nhật xâm lấn . Tại hội nghi AMM kỳ thứ 25 vào tháng 7-1992 Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Raul Manglapus đề nghị một hội nghị quốc tế do Liên Hiệp Quốc chủ trì về vùng biển Nam Trung Hoa, đề nghị này bị các thành viên ASEAN phản đối, đặc biệt là Indonesia và Malaysia đều rất ngại phản ứng đối nghịch của Trung Quốc. Mối quan tâm lo lắng phản ứng của Trung Quốc đã hình thành nên chính sách ngoại giao của ASEAN trên vấn đề này, sự mong mõi tránh được đối đầu ngoại giao sẽ giúp thăng tiến môi trường thuận lợi cho sự thương thảo. Philippines nêu lên vấn đề chiếm đóng của Trung Quốc ở vùng rặng đá ngầm Mischief với các Bộ trưởng Đối ngoại ASEAN vào tháng 3-1995 và nhận được một tuyên bố chiếu lên thúc giục các bên tranh chấp nên kiềm chế các hành động làm mất ổn định khu vực. Tuyên bố này không phân biệt giữa các bên tranh chấp mặc dù một trong các bên là một thành viên của ASEAN. Philippines cũng nêu vấn đề này lên Cuộc gặp Quan chức Cấp cao (SOM) ARF được tổ chức tại Brunei vào tháng 5-1995 nhằm chuẩn bị cho lịch trình hội nghị toàn thể ARF vào tháng 7. Trung Quốc đã chi phối cuộc thảo luận nhưng các quan chức cấp cao muốn không xảy ra việc gây nên tranh luận chọc giận Trung Quốc. Trung Quốc nhấn mạnh rằng ARF là một diễn đàn thảo luận và không phải là cuộc hội họp giải quyết xung đột và nếu muốn Trung Quốc tiếp tục tham dự thì các thành viên Asean phải đồng ý rằng vấn đề vùng biển Nam Trung Hoa không được đưa vào lịch trình. Việt Nam cũng đã chống lại đề nghị trên vì nó làm suy yếu vị trí của họ trong vùng, đó là một trong những cơ hội hiếm hoi gặp gỡ nhau về quan điểm với Trung Quốc. Trong chuyến viếng thăm Việt Nam vào tháng 3-1994, Tổng thống Philippines Ramos đề xuất phi quân sự hóa vùng đảo TS(Spratlys), đóng băng mọi hoạt động làm mất ổn định trong khu vực và hợp tác trên lĩnh vực môi trường và các vấn đề có chức năng liên quan, nhưng phía Việt Nam tỏ ra ít quan tâm.

Mong đợi Trung Quốc bị dẫn dắt vào một thỏa hiệp trong yêu sách chủ quyền của họ và sẽ dàn xếp cho bên tranh chấp được một phần tài nguyên trong vùng biển Nam Trung Hoa là quá sớm. Lý do là Trung Quốc nghĩ mình trở thành nạn nhân trong vấn đề trên thì dù đúng hay sai đã khích động ước muốn thu hồi lại “vùng đất bị thất lạc”. Mọi giải pháp dựa trên hiện trạng và áp dụng nguyên tắc của UNCLOCs, dường như là công bằng cho các bên tranh chấp ASEAN, sẽ là từ chối chủ quyền trong lịch sử của Trung Quốc trong vùng. Các nước ASEAN đang chiếm đóng( một số đảo ở TS) sẽ bám lấy vị trí hiện tại của họ và Trung Quốc sẽ là bên bị thua thiệt, và từ tầm nhìn của người Trung Quốc, mọi đề xuất giải pháp đều mang đến lợi thế cho ASEAN. Tuy nhiên, đối với ASEAN thì dường như Trung Quốc không mong muốn đồng ý liên kết phát triển với ASEAN nhưng muốn Asean nhìn nhận các tài nguyên là của Trung Quốc (Valencia 1995). Hơn nữa, khác biệt về quan điểm tồn tại kéo dài ở Bắc Kinh giữa phe đòi chủ quyền trong quân đội, ở một bên, và phe thực dụng trong bộ  ngoại giao và các chi nhánh kinh tế, ở bên kia (nguồn từ phỏng vấn, Bắc Kinh, 18-7-2000). Thương thảo trên vấn đề này sẽ đòi hỏi một định nghĩa chính xác về yêu sách, mà Trung Quốc đã trì hoãn việc đó, và một hệ thống về thứ bậc trong quan hệ với năm nước tranh chấp. Điều này sẽ cần đến sự hợp tác hiệu quả các quan điểm đại diện khác nhau, một công việc phức tạp mà giới lãnh đạo đã né tránh. Còn có những vấn đề khác phải kể đến càng làm phức tạp ván đề như sự thỏa hiệp về biển Nam Trung Hoa sẽ làm suy yếu sự khẳng định tuyệt đối của Bắc Kinh về chủ quyền ở Đài Loan. Trung Quốc, thực sự ra, là sẵn sàng cho các thương thảo.

ASEAN đã nhiều thành công hơn trong thương thảo các quy phạm về cư xử tốt đẹp lẫn nhau với Trung Quốc, những quy phạm này không khiêu khích đến mặt chủ quyền mà chỉ đưa đến một quy trình xây dựng chế độ quản trị hàng hải (Valencia 2000). Tuyên bố ASEAN về biển Nam Trung Hoa vào ngày 22-7-1992 đã được hội ý với Trung Quốc và bao gồm một lời kêu gọi kiềm chế để tạo bầu không khí tích cực cho giải pháp của vấn đề. Bản tuyên bố cũng bao gồm ý tưởng về một “quy tắc quốc tế về cách ứng xử” nhằm quản lý cách ứng xử trong khu vực (Văn phòng ASEAN 1992). Một quy tắc ứng xử được bao gồm trong cộng đồng từ cuộc gặp Philippines-Trung Quốc vào tháng 8-1995 và cuộc gặp Philippines-Việt Nam vào tháng 11-1995. Mặc dù Trung Quốc có thể đã chấp nhận ý tưởng quy  tắc về mặt song phương, nhưng phản đối về một tuyên bố đa phương với ASEAN cho đến ngày 4-11-2002, và sau đó thành một Bản tuyên bố về Quy tắc ứng xử (DOC), ít hơn những gì ASEAN tìm kiếm (Buszynski 2003; Nguyen 2003). Sự quan tâm của Trung Quốc đến bảng quy tắc chẳng qua là muốn ngăn cản người Mỹ dính líu sâu hơn vào khu vực và tước bỏ các diễn tâp quân sự giữa ASEAN và Mỹ. Tránh né diễn tập quân sự là một đặc điểm chủ yếu của bản dự thảo do chính họ soạn về quy tắc ứng xử mà trước đây chỉ luân chuyển trong nội bộ thành viên ASEAN. Bảng tuyên bố đã được lập có đề cập đến sự cần thiết phải kiềm chế khi thực hiện hành vi cư xử trong khu vực và dàn xếp một cách hòa bình các tranh chấp. Không đề cập gì đến phạm vi địa lý trong bản tuyên bố, Trung Quốc muốn loại trừ quần đảo HS(Paracels) ra nhưng Việt Nam muốn nó được gộp vào, do đó vấn đề bị bỏ qua (Văn phòng Asean 202; Wain 2002). Trong ASEAN, DOC được xem như là một biến chuyển đáng ghi nhận về mặt vị trí của Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp vừa khi nó biểu hiện như một sự chấp nhận đa phương thương thảo, cái mà trước đây Trung Quốc luôn từ chối. Chính sách của Asean về xúc tiến các thăm dò hợp tác với Trung Quốc dường như là đúng đắn.

Trung Quốc thay đổi các mối quan tâm.

Thái độ của Trung Quốc về vấn đề tranh chấp đã thật sự có thay đổi khi họ để lộ ra mối quan tâm về sự ổn định ở vùng biển Nam Trung Hoa và sự cần thiết quan hệ sâu sát hơn với ASEAN. Trung Quốc đã cố gắng kiên trì ngăn ngừa sự dính líu các thế lực bên ngoài vào cuộc tranh chấp – đặc biệt là Mỹ và Nhật Bản. Tiếp tục một quan hệ bấp bênh với những sự năng động của Trung Quốc trên vùng biển Nam Trung Hoa sẽ đơn giản là làm tăng cường quan tâm của ASEAN đến sự hiện diện quân sự Mỹ trong tư cách đối trọng. Philippines đã dính líu thật sự với Hải quân Mỹ qua việc thăm viếng qua lại các hải cảng và cùng nhau diễm tập quân sự sau khi bị Trung Quốc xâm phạm như trong khiếu nại vào năm 1995 và sự mở rộng hợp tác quân sự với Mỹ ở cấp độ ASEAN là điều mà Trung Quốc không muốn xảy ra (Whiting 1997). Hơn nữa, Trung Quốc cần một sự hợp tác của Asean để phát triển chủ nghĩa địa phương Đông Á từ đó sẽ thúc đẩy mở rộng đối tượng ngoại giao của mình là giảm thiểu ảnh hưởng của Mỹ và Nhật Bản trong vùng Tây Thái Bình Dương (Lam 2005). Đại sứ của Singapore là Tommy Koh ghi nhận rằng ASEAN là “động lực thúc đẩy” phía sau chủ nghĩa khu vực Đông Á, bởi vì sự cạnh tranh đã ngăn cản cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản chiếm lấy vị trí lãnh đạo. Tầm quan trọng của ASEAN đối với Trung Quốc đã được nâng lên như là một hướng mới cho thấy sự bành trướng chủ nghĩa khu vực được nâng cao. Đặc biệt, ý kiến của Cộng đồng Đông Á là rất hấp dẫn đối với Trung Quốc vì nó đã loại trừ Mỹ (Vatikiotis và Murphy 2003). Trong tình thế này Trung Quốc tiến đến thắt chặt với ASEAN và đã ký với ASEAN Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác (TAC) ngày 8-10-2003. Trong điều khoản 10, đượcTrung Quốc cam kết rằng sẽ không dính líu đến thái độ hăm dọa đối với các thành viên khác, và trong điều khoản 13 thì có nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp với Asean một cách hòa bình (Văn phòng Asean 1976). Tháng 4-2005 lãnh đạo Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã sang thăm hai nước Asean có sản xuất dầu mỏ là Indonesia và Brunei nhằm cải thiện mối bang giao. Nhân tiện ghé qua Manila để trấn an các mối lo về Trung Quốc. Chủ tịch Hội Nghị Hiệp Thương (Quốc hội) Ngô Bang Quốc thăm viếng Manila vào tháng 9-2003 và đề xuất liên kết khai thác tài nguyên trong vùng biển Nam Trung Hoa. Tháng 5-2005, ông Ngô cũng đã  thăm viếng Kuala Lumpur mang theo một thông điệp tương tự về hợp tác hòa bình. Trung Quốc cần phải biểu thị các mục tiêu hòa bình và hợp tác của mình với Asean để trói buộc lãnh đạo các nước cư xử tốt những dự kiến tương lai mang lại hiệu quả hơn mọi lời tuyên bố.

Trung Quốc cần tiếp cận các nguồn năng lượng dự trữ ở vùng biển Nam Trung Hoa nơi đó sự hợp tác của Asean sẽ rất cần thiết. Trung Quốc trở thành nước thuần nhập khẩu dầu mỏ trong 1993 và, theo Zhu Jianjun của Công ty Dầu hỏa Quốc gia Trung Quốc (CNPC), lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc trong năm 2010 sẽ đạt 50% mức tiêu thụ, tăng lên 60% đến năm 2020. Bùng nổ nhu cầu dầu mỏ mang theo sự cấp thiết đa dạng hóa nguồn cung ứng năng lượng để tránh tùy thuộc quá nhiều vào một nước hay một vùng lãnh thổ; vào năm 2005, 45% của nguồn nhập khẩu dầu Trung Quốc xuất  phát từ vùng thương mại không ổn định là Trung Đông, và 17% từ Saudi Arabia. Trung Quốc đã và đang thương lượng các thỏa thuận rộng khắp với nhiều nước cung cấp năng lượng: ở Châu Phi, Nam Mỹ cũng như ở Châu Á. Trung Quốc cũng đang tìm kiếm các trữ lượng dầu mới, nên cần sự hợp tác với các nước tiêu thụ dầu khác để thăm dò và khoan mỏ mới nhằm giảm thiểu tối đa chi phí và chia sớt rủi ro, đặc biệt trong vùng biển Nam Trung Hoa nơi cần đến những lổ khoan cực sâu vượt 600 mét. Trung Quốc ước tính các trữ lượng dầu ở vùng biển Nam Trung Hoa nói chung là rất lạc quan. Trương Đại Vệ(Zhang Dawei) thuộc Bộ Tài Nguyên Đất đai đã cho là vùng biển Nam Trung Hoa sẽ trở thành một trong mười địa điểm khai thác dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên chủ yếu của Trung Quốc: trữ lượng dầu ước tính khoảng 23 – 30 tỷ tấn hoặc 168 – 220 tỷ thùng. Nếu như điều đó là đúng, vùng biển Nam Trung Hoa sẽ thực tế là rất quan trọng đối với Trung Quốc, nhưng phương tây  ước lượng trữ lượng dầu trong khu vực có sự khác biệt rất lớn. Cục Quản lý Thông tin Năng lượng Mỹ đưa con số trử lượng dầu xác minh vào khoảng 7 triệu thùng hoặc cở 960 triệu tấn (Cục Quản lý Thông tin Năng lượng Mỹ 2003). Ước tính trên sẽ đặt vùng biển Nam Trung Hoa cùng mức độ với Na Uy hoặv Azerbaijan về khai thác dầu, nghĩa là vẫn phải còn cân nhắc hiệu quả trong khai thác.

Hợp tác năng lượng

Trung Quốc và các nước yêu sách trong Asean có cùng mối quan tâm chung trong khai thác những trữ lượng dầu mỏ này nhưng các khiếu nại về hàng hải lại đóng vai trò lực cản. Những cố gắng đề xuất liên kết phát triển nhằm phá vỡ đòi hỏi chủ quyền đã thất bại, đặc biệt việc đưa vào công thức phân chia lợi nhận trong liên kết phát triển sẽ tùy thuộc vào tính chủ quyền trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, các nước Asean đã đưa các công ty năng lượng trong nước vào hợp đồng hợp tác với các công ty quốc tế nhằm tận dụng các tài nguyên năng lượng mà họ tranh chấp. Các công ty quốc tế này cung cấp kỹ thuật và thiết bị có khả năng khảo sát vùng biển sâu và công tác khoan thăm dò trong vùng biển Nam Trung Hoa. Một ảnh hưởng quan trọng là các hành động phản đối từ các nước có tranh chấp khác đã làm nản lòng vì các xung đột sẽ phá hủy sự tin tưởng của các công ty năng lượng trong vùng làm thiệt hại cho mọi phía. Do đó, hợp tác năng lượng giữa các nước có yêu sách trong Asean và Trung Quốc đang phát triển, báo trước một tương lai tốt đẹp. Công ty Dầu mỏ Quốc gia Trung Quốc (CNOC), và chi nhánh chính thức của nó là PetroChina, đã quan tâm đến việc mở rộng các hoạt động trong vùng biển Nam Trung Hoa và thông qua các hợp đồng hợp tác với Asean, các công ty xăng dầu quốc gia sẽ có được quyền tiếp cận đến các mỏ dầu và khí đốt thiên nhiên mà không cần phải thúc đẩy các yêu sách đặc quyền về chủ quyền lãnh thổ. Thông qua hợp tác năng lượng, trở ngại trực diện nhất là vấn đề chủ quyền có thể được gát sang một bên, cất được phần nào sự bấp bênh đã bao trùm khu vực bấy lâu. Hợp tác năng lượng giữa các quốc gia dầu mỏ có thể đóng vai trò xây đắp lòng tin tưởng và ổn định hóa các chuẩn mực có thể chuẩn bị lối đi cho những bước kế tiếp dẫn đến tiến trình xây dựng một thể chế hàng hải.

Các công ty năng lượng có tham gia hợp tác trong việc thăm dò dầu khí ở các nước tranh chấp Asean  than vãn về sự thiếu sót một giải pháp cho các yêu sách trên vùng biển Nam Trung Hoa do sự bấp bênh đã làm kiềm hãm hoạt động của họ. Thỉnh thoảng, khi công ty phụ trách việc thăm dò tại vùng đang trong tranh chấp,  hoạt động bị ngừng lại do sự can thiệp của hải quân, đưa đến chậm trể và thiệt hại đáng kể. Không nghi ngờ gì về sự quan tâm đến những xung đột đang tồn tại sẽ bị châm ngòi qua hoạt động thăm dò và có thể dẫn đến đối đầu. Tuy thế, nếu sự khai thác tài nguyên năng lượng ở đây tiến hành vì lợi ích của mọi bên thì mối nguy đối đầu có thể bị giảm bớt rất nhiều để chuẩn bị cho một thời điểm tương lai khi các yêu sách về hàng hải có thể giải quyết được. Để tiến trình này được khởi động, Trung Quốc phải cho phép chia chác lại một phần chiến lợi phẩm mà họ chiếm hữu được từ tài nguyên năng lượng ở vùng biển Nam Trung Hoa vẫn đang bị hạn chế lại bởi các khiếu nại của những nước khác. Các công ty Trung Quốc không đủ khả năng tự hoạt động trong vùng biển Nam Trung Hoa, họ có nhiều kinh nghiệm trong vùng nước cạn nhưng thiếu hẵn kỹ thuật và kinh nghiệm hoạt động trong vùng nước cực sâu. Các công ty Trung Quốc cần ký các họp đồng ăn chia sản phẩm với đối tác nước ngoài để được cung cấp kỹ thuật và công cụ cho việc thăm dò tại các vùng nước sâu ở vùng biển Nam Trung Hoa. Hợp tác năng lượng trong vài trường hợp đã có tham gia của ba bên gồm công ty dầu mỏ của số nước Asean với đối tác Trung Quốc, đó có thể là động thái dự báo  cho một sự hợp tác lớn hơn sẽ đến.

Việt Nam là một nước chủ yếu sản xuất dầu mỏ ngoài khơi ở vùng biển Nam Trung Hoa và đã khuyến khích càng nhiều càng tốt các đối tác nước ngoài để tăng cường các yêu sách của mình trong khu vực và đẩy lui sự phản kháng của Trung Quốc. Kinh nghiệm Việt Nam là nên học hỏi khi họ để lộ ra những căng thẳng ban đầu với Trung Quốc, và một vài cuộc suýt đụng đầu về quyền thăm dò, rồi sau đó là các nổ lực tránh đụng độ và tham gia vào hợp tác năng lượng. Từ khi Luật Đầu tư Nước ngoài được ban hành vào năm 1987, Petro Vietnam đã ký 37 Hợp đồng Ăn chia Sản phẩm (PSC), một Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh (BCC), và vài Hợp đồng Liên kết Vận hành (JOC) với trên 50 công ty dầu khí quốc tế. Vùng lớn nhất và có sản lượng cao nhất ở Việt Nam là mỏ dầu Bạch Hổ, đầu tiên phát triển bởi liên doanh Vietsopetro. Được thành lập với khối Xô Viết từ năm 1981, và sau đó trở thành hợp đồng liên kết giữa PetroVietnam và Zarubezhneft của Nga (xem bản đồ 2). Tuy nhiên Trung Quốc đã mời gọi thăm dò trong vùng tranh chấp với Việt Nam trong lúc vào ngày 8-5-1992 CNOC ký xong một hợp đồng với Crestone  Energy  Corporation có căn cứ tại Denver để phát triển lô thăm dò Wanan Bei-21 (WAB-21). Vùng nhượng quyền của Crestone đã chồng lấp với khu vực Việt Nam đang tranh chấp đang khích động căng thẳng mới với Việt Nam, đặc biệt khi PetroVietnam và Tổ hợp Dầu khi Quốc gia Việt Nam đang bắt đầu khoan thăm dò trong vùng nhượng địa của Crestone.

Vào ngày 18-4-1994 Việt Nam tham gia cùng Mobil trong việc khảo sát giếng dầu Thanh Long, và trong năm 1997 tham gia tiếp cùng ConocoPhilips trong một hợp đồng ăn chia sản phẩm tại khu vực kề bên. Đã có vài rắc rối khi sự đối đầu suýt nữa xảy ra: trong tháng 4-1994 năm tàu hải quân Việt Nam đuổi một đoàn thăm dò thủ công Trung Quốc, và trong tháng 7-1994 hai tàu hải quân Trung Quốc chặn một tàu Việt Nam trang bị thăm dò dầu mỏ đang hoạt động tại vùng nhượng địa Crestone. Vào tháng 3-1997 tàu khoan Trung Quốc Kantan III di chuyển khoảng 100 km ngoài bờ biển Việt Nam khích động Việt Nam lên tiếng phản đối. Vào ngày 20-3 Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam kêu gọi các đại sứ Asean can thiệp và vào ngày 1-4 tàu trang bị khoan của Trung Quốc rút lui khỏi khu vực. Trung Quốc bị cản trở trong việc leo thang tranh chấp do quyền hội viên Asean của Việt Nam và cả hai bên sau đó tránh né tạo ra những rắc rối có thể làm dao động các nhà đầu tư. Việt Nam đã phát triển thêm bốn khu vực thăm dò với các đối tác nước ngoài; trong tháng 10-1998 Việt Nam thương lượng một liên doanh khai thác giếng dầu Cửu Long gồm PetroVietnam, Conoco của Vương quốc Anh, Công ty Dầu khí Quốc gia Đại Hàn, và Geopetro của Pháp (xem bản đồ 3).Phát hiện ra có dầu ở hai khu vực thăm dò khác vào tháng 8-2000 và tháng 10-2001, sản xuất bắt đầu qui mô vào tháng 11-2003. Các hợp đồng khác bao gồm Liên doanh Hoan Vu giữa PetroVietnam, Công ty SOCO Quốc tế tại Anh và Công ty PTT Thăm dò và Khai thác (PTTEP) để thăm dò lô Cá Ngừ Vàng; cũng còn có Liên doanh Trường Sơn  giữa PetroVietnam, Talisman của Canada và Petronas Carigali của Malaysia; PetroVietnam cũng ký kết xong liên doanh cho thăm dò dầu khí với Petronas Carigali, Pertamina của Indonesia và Công ty Xăng dầu Quốc gia Đại Hàn (KNOC) để phát triển mỏ khí trong lô 11-2 (xem bản đồ 2) trong vùng phía nam tỉnh Vũng Tàu (Brown 2005).

Một vài căng thẳng đã lại nổi lên với Trung Quốc vào năm 2004 khi Việt Nam phản đối các nổ lực của Trung Quốc liên quan đến việc cho các công ty dầu mỏ thăm dò trong vùng lãnh hải của mình. Trong tháng 9-2004 Việt Nam phê phán một hợp đồng Trung Quốc ký với Philippines về liên kết thăm dò địa chấn. Trong tháng 10-2004 đến phiên Trung Quốc phê bình lại Việt Nam khi PetroVietnam mở thêm 9 lô cho đấu thầu thăm dò ở ngoài bờ biển miền Trung. Tuy nhiên, trong năm 2005 lại có những dấu hiệu cho thấy Trung Quốc sẵn lòng cải thiện quan hệ với Việt Nam trên những gì mà họ gọi là “các vấn đề biên giới tồn tại qua lịch sử”, vấn đề lãnh địa cũng như trên vùng biển Nam Trung Hoa. Cả hai bên tìm cách gở bỏ căng thẳng trong quan hệ, đặc biệt ở vùng biển Nam Trung Hoa là nơi  có thể giọt nước tràn ly biến thành xung đột hủy hoại và họ đề ra việc hợp tác năng lượng như là một dụng cụ để uốn nắn quan hệ đôi bên. Khi Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm viếng Bắc Kinh vào tháng 7-2005, Trung Quốc và Việt Nam nhấn mạnh hợp tác trên mặt thăm dò dầu khí ở vùng biển Nam Trung Hoa và cả hai mong muốn biến biên giới đôi bên thành “một vùng hòa bình, hữu nghị và ổn định lâu dài”. Phó Chủ tịch nước Tăng Khánh Hồng (Zeng Qinghong) tuyên bố trong tháng 10-2005 rằng Trung Quốc đã sẵn sàng đi đến một thỏa thuận với Việt Nam về biên giới trên bờ và “để chủ động thúc đẩy liên kết thăm dò tại các vùng tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa”. Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nông Đức Mạnh thăm viếng Bắc Kinh trong tháng 8-2006 và đồng ý liên kết thăm dò dầu khí với Trung Quốc tại Vịnh Tonkin/Beibu (vịnh Bắc Bộ). Thực thi những tuyên bố này có thể gặp nhiều phiền hà, tuy nhiên nó bộc lộ ra khía cạnh là trong lúc quan hệ ở khu vực bị che phủ bởi tiềm năng xung đột và hết sức khó khăn, như giữa Trung Quốc và Việt Nam, một nổ lực phi thường đã được thực hiện để cải thiện quan hệ đôi bên.

Philippines tham gia cùng công ty Amoco International trong thăm dò dầu mỏ ở Reed Bank ngoài khơi Palawan năn 1976, làm dấy lên phản đối từ Trung Quốc lẫn Việt Nam. Philippines bị đặt trong một tình cảnh khó khăn sau khi Trung Quốc chiếm đóng rặng Mischief vì Trung Quốc có thể tiến hành thăm dò và khoan giếng trong vùng tranh chấp của chính người Philippines. Manila có mọi động cơ thúc đẩy để tham gia cùng các công ty quốc tế trong vùng yêu sách của mình nhằm đảm bảo chống lại sự tái phạm xâm lấn của Trung Quốc tại đây. Trong tháng 8-1998 Shell được hưởng một hợp đồng khoan dầu ngoài khơi trong mỏ khí thiên nhiên Malampaya (xem bản đồ 4), được nối với một trung tâm chế biến nằm trên bờ bằng đường ống. Bộ trưởng Năng lượng Philippines Vicente Perez trong tháng 10-2003 tuyên bố rằng 46 lô thăm dò sẽ được mở ra đấu thầu công khai không chỉ trong vùng mỏ Malampaya mà còn ở phía tây bắc, đông nam, và tây Palawan. Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Spencer Abraham được mời thăm Philippines để khảo sát những triển vọng khi Mỹ tham gia vào thăm dò dầu khí tại vùng yêu sách của Philippines (Villanueva 2003).

Bản đồ 2

Các lô thăm dò ngoài khơi VN, bao gồm các giếng Crestone, Bạch Hổ và Thanh Long


Bản đồ 3

Lô thăm dò ngoài khơi VN, bao gồm giếng Yacheng, Côn Sơn và Cửu Long


Bản đồ 4

Các giếng dầu Malampaya và khu vực liên kết khảo sát địa chấn Philippines, TQ và VN


Công ty Xăng dầu Quốc gia Philippines (PNO) cũng đã thương thảo liên doanh với Petronas của Malaysia để thăm dò dầu khí ngoài khơi Mindoro. Bên đầu tư thứ ba như Unocal của Mỹ, Santos của Úc, Lasmo của Vương quốc Anh, PTTEP của Thái Lan, Medco của Indonesia, và GM International của Canada đều được mời đặt cọc dự phần (Domingo 2003). Manila tìm thêm sự đảm bảo trong khu vực vì dấy lên mối lo ngại Trung Quốc sẽ đảm trách tổng lực thăm dò và khoan giếng trong vùng yêu sách của Philippine. Nếu như điều đó xảy ra, Philippines sẽ có rất ít lựa chọn thực tế để đối mặt với áp lực của Trung Quốc. Họ có thể tuyên bố hoạt động như thế của Trung Quốc là vi phạm Bộ Qui tắc Ứng xử của Asean, hoặc họ có thể kêu gọi cộng đồng quốc tế nhưng cả hai cách trên đều đã cho thấy là không hiệu quả (Ager 2004). Để làm dịu sự lo lắng này, trong tháng 3-2005 Bộ trưởng Ngoại Giao Philippines là Alberto Romulo đã sang thăm Bắc Kinh khi ông cho là Trung Quốc đã mong muốn thảo luận việc thăm dò trong khu vực này trên cơ sở hai bên bình đẵng và tôn trọng lẫn nhau (Xinhua 2005). Vụ rắc rối rặng đá ngầm Mischief còn làm người Philippines chưa yên tâm nên khiến họ mong muốn sự tái đảm bảo của Trung Quốc. Khi chộp lấy đề xuất của Trung Quốc về liên kết phát triển có thể họ được yêu cầu cho Trung Quốc quyền tiếp cận rộng hơn vào khu vực của mình như là cái giá phải trả cho sự tái đảm bảo mà họ đang tìm kiếm. Công ty Petronas Carigali của Malaysia đã hợp sức cùng Murphy Oil, ConocoPhillips và Shell trong hợp đồng thăm dò Lô M, L, và G ngoài khơi Sabah (xem bản đồ 5). Tập đoàn Petronas Carigali, Shell, và ConocoPhillips đã tìm được dầu ở Lô J và G trong năm 2004. Petronas cũng ban quyền thăm dò cho Murphy Oil để tiến hành thăm dò vùng nước sâu trong Lô K (Yunis 2004). Tranh chấp bùng phát giữa Malaysia và Brunei khi Lô M và L của Malaysia chồng lấp với khu vực yêu sách của Brunei trong Lô K và J. Malaysia đã mời quyền thăm dò đến Petronas Carigali và Murphy Oil trong vùng giếng Kikeh (xem bản 5). Trong tháng giêng 2002, Brunei ban quyền thăm dò cùng vị trí trên cho TotalFinaElf, BHP Billiton và tập đoàn Americada Hess, nhằm tiến hành khoan khảo sát vùng nước sâu trong Lô J. Vào tháng 3-2003 một tàu chiến Brunei đã đuổi cổ một tàu khoan của công ty Murphy, và vào tháng 4 các tàu tuần tra của Malaysia đã buộc một tàu thăm dò của hãng Total rời khỏi khu vực Lô J. Công ty Pháp này ngưng việc khoan tìm và tuyên bố trường hợp bất khả kháng, đi đến ngưng hợp đồng. Công ty Shell đang khoan ở Lô K và Petronas đang hoạt động ở Lô L ngoài khơi Sarawak thảy đều ngưng hoạt động chờ đợi giải pháp cho sự tranh chấp (Jayasankaran và McBeth 2003; Rigzone 2003). Thương thảo được tiến hành giữa Malaysia và Brunei vào ngày 25-8-2003 và 30-8-2005, nhưng không đi đến đâu. Malaysia đề nghị một hợp đồng ăn chia sản phẩm với Brunei tương tự như hợp đồng liên kết thăm dò Malaysia – Thailand. Tuy nhiên, Brunei được chỉ dẫn bởi các cố vấn người Anh của mình, họ cảnh báo là điều này có thể kéo theo sự nhượng bộ về yêu sách lãnh thổ.

Brunei có thể tham gia cùng các công ty Trung Quốc trong thăm dò và khoan giếng dầu trong các khu vực tranh chấp như Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã đề nghị liên kết phát triển khi ông sang thăm  Brunei vào tháng 4-2005. Nếu việc này tiến hành, vị thế của Malaysia sẽ gặp khó khăn. Các đề xuất giải quyết tranh chấp bao gồm hợp đồng ăn chia sản phẩm giống như đã ký giữa Petronas và Petroleum  Authority  of  Thailand  (PTT) năm 1998, khi các vùng yêu sách của Malaysia và Thái Lan chồng lấp nhau. Một tiến bộ  quan trọng là sự thương thảo các hợp đồng thăm dò ba bên mấy năm gần đây. Hợp đồng ba bên cho phép các công ty xăng dầu quốc gia cùng nhau hoạt động trong khu vực riêng biệt, cải tiến sự hợp tác và khuyến khích ước muốn phá vỡ sự thúc ép của vấn đề chủ quyền vì quyền lợi chung. Trong tháng giêng 2002 Petronas của Malaysia, Pertamina của Indonesia và PetroVietnam đồng ý thành lập công ty liên kết hoạt động Côn Sơn để tiến hành thăm dò trong Lô 10 và 11.1 ngoài khơi Việt Nam (xem bản đồ 3). Trong tháng 6-2003 ba công ty này đã ký hợp đồng hợp tác ba bên nhằm thăm dò và phát triển tài nguyên dầu khí ngoài khơi Sarawak ở Lô SK305.

Sau khi kết thúc các hợp đồng thăm dò tại các khu vực thuộc Việt Nam và Malaysia, các công ty này cũng đồng ý thương thảo tiếp một hợp đồng liên kết tương tự cho các Lô ở Indonesia. Ngày 14-3-2005, CNOC cùng Công ty Xăng dầu Quốc gia Philippines (PNOCO) và PetroVietnam đồng ý tiến hành liên kết khảo sát bằng địa chấn kéo dài 3 năm trong một khu vực thuộc vùng yêu sách của Philippines (xem bản đồ 5 và 6). Hợp đồng khẳng định rằng các địa điểm thuộc các nước liên quan có dính líu đến yêu sách chủ quyền sẽ không bị ảnh hưởng. Tổng thống Philippines Gloria Arroyo Macapagal tuyên bố rằng bản hợp đồng đại diện một “bứt phá về ngoại giao” cho hòa bình trong khu vực và là bước đầu tiên trong việc thực thi Qui tắc Ứng xử ASEAN với Trung Quốc. Tổng thống Philippines cũng khẳng định rằng hợp đồng sẽ giúp đỡ chương trình độc lập năng lượng cho nước nhà, điều đó đòi hỏi “chiến lược liên minh với bè bạn và các nước đồng minh từ đó chúng ta có thể đạt nhiều nguồn cung cấp năng lượng cho khu vực và cho đất nước”. Đại sứ Trung Quốc tại Philippines Wu Hongbo cho rằng bản hợp đồng có thể là một ví dụ tốt cho việc giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình (Xinhua 2005). Đối với Philippines, một thỏa thuận tay ba có Trung Quốc sẽ giúp tiến triển trong thăm dò, gỡ bỏ mối lo âu thường xuyên về phản ứng của Trung Quốc đã từng ám ảnh giới lãnh đạo nước này. Để tiến lên với công cuộc khai thác các tài nguyên năng lượng trong lãnh hải mình, Philippines buộc phải dính dáng đến Trung Quốc và chia sẻ quyền lợi với họ. Tuy nhiên, hợp đồng ba bên bị giới hạn ở phần sở hữu dữ liệu địa chấn, giai đoạn đầu của nó đã kết thúc vào tháng 11-2005. Dù gì thì sự hợp tác giống như thế sẽ kéo dài đến việc khoan và hút dầu  theo cách tiên liệu của Manila là một vấn đề khác.

Bản đồ 5

Lô G, L, M của Malaysia và lô K, J cùng giếng Kikeh của Brunei

(lược)


Kết luận: Hợp tác năng lượng và an ninh.

Trung Quốc là nước yêu sách chính ở vấn đề trên và là nguồn gốc chủ yếu của sự bấp bênh của ASEAN. Những nổ lực trước đây để giải quyết bài toán vùng biển Nam Trung Hoa đã  hình dung ra hoặc đó là một giải pháp lớn cho các yêu sách hàng hải, coi như mọi nước yêu sách đều được xem trọng ngang nhau hoặc đủ năng lực thu xếp các yêu sách này, hoặc chỉ là một cố gắng đáng chú ý nhằm phớt lờ yếu tố chủ quyền bằng cách thúc đẩy liên kết phát triển. Cách tiếp cận này đụng chạm đến nỗi ám ảnh của giới lãnh đạo Trung Quốc về chủ quyền, sự kế thừa những mối nhục từ thế kỷ 19, sự tách rời Đài Loan từ lục địa, và sự quan tâm về các quyền trong lịch sử tại vùng biển Nam Trung Hoa. Biên độ của sự  mềm dẽo trên vấn đề này là có giới hạn cho Ban Lãnh đạo Trung Quốc, được ủy thác nhiệm vụ chống đỡ cho chủ quyền của Trung Quốc. Bế tắc trong yêu sách hàng hải đã đưa ra một môi trường bấp bênh đối với việc khai thác các trữ lượng dầu mỏ trong khu vực, tuy thế nhu cầu về năng lượng và nỗi lo thiếu hụt dầu mỏ trên toàn cầu sẽ tăng cường sự quan tâm ở nơi đây. Đối đầu và hải quân va chạm nhau để bảo vệ vùng yêu sách không thể bị loại trừ nhưng hậu quả sẽ là các công ty khai thác năng lượng rút lui, tạo ra sự mất ổn định các bên đều phải chịu tổn hại. Nhận thức này là một sự kiềm chế trước xung đột và là một sự thúc đẩy các bên yêu sách cải thiện các điều kiện ở đây để phòng ngừa đụng độ. Đặc biệt là nhu cầu nhập khẩu năng lượng và hàng hóa của Trung Quốc đã biến mình thành con tin trong khu vực và ổn định toàn cầu. Sự tự tin kiêu hãnh mà giới lãnh đạo Trung Quốc đã từng phô trương đã nhường lối cho một sự hiểu biết rằng phát triển kinh tế thần kỳ mang theo nó một yếu điểm sâu sắc làm đổ vỡ mặt đối ngoại trong cung ứng năng lượng. Mối quan tâm của Trung Quốc là dự phần trong khảo sát và khoan giếng dầu, không phải dính líu vào hành động khiêu khích trong khu vực, điều đó sẽ làm tiêu tan sự ổn định và xói mòn chính sách ngoại giao khu vực của mình. Điều đáng ghi nhận là một trường hợp đối đầu mới đây trên vùng chồng lấp yêu sách lãnh hải ở biển Nam Trung Hoa dính líu đến hai thành viên ASEAN sản xuất dầu là Malaysia và Brunei, các quốc gia này có nhu cầu phát triển các tài nguyên năng lượng này không cấp bách như Trung Quốc, đã bị thiệt hại nhiều hơn khi vận dụng đến chiến lược đối đầu.

Hợp tác năng lượng sẽ mang lại sự tự tin mạnh mẽ cho vùng biển Nam Trung Hoa, làm dịu đi một số bất ổn lan tràn ở khu vực trong hai thập kỷ qua. Khi hợp tác trong các tiến trình thăm dò và khoan giếng, giữa các bên yêu sách có thể xảy ra các thỏa thuận ngầm đưa đến việc thành lập những làn ranh lâm thời hoặc những quy phạm trong cư xử để tránh xung đột và giải quyết các tranh chấp sao cho tạo ra được một môi trường hoạt động ổn định hơn cho các công ty khai thác. Thực vậy, sự cần thiết về năng lượng có thể phá vỡ chỗ bế tắc trong vấn đề chủ quyền và kích thích một tiến trình hợp tác từng bước mà nó sau đó chuẩn bị cho các nước yêu sách đối phó những tình huống thương thảo khó khăn hơn về ăn chia sản phẩm vào lúc thích hợp. Việc xúc tiến hợp tác năng lượng của ASEAN trong vùng biển Nam Trung Hoa sẽ có ý nghĩa, nếu chỉ là cho phép tiếp cận các trữ lượng dầu mỏ trong vùng. Bù lại cho mối bất bình của TQ bằng gì đi nữa thì điều đó phải được làm rõ trong bất kỳ cuộc đàm phán liên quan nào là TQ sẽ hưởng lợi từ sự hợp tác năng lượng và phải được tham gia khai thác các trữ lượng dầu mỏ trong vùng. Có thể khởi đầu bằng thăm dò, khoan thử, và sau đó chuyển sang thực sự ăn chia sản phẩm theo một tiến trình nào có thể hứa hẹn cho kết quả tốt hơn những nổ lực trước đây dùng đối phó vấn đề này. Đòi hỏi năng lược của TQ ngày một leo thang, và nhu cầu hợp tác với ASEAN giờ đây cũng lớn hơn. Các hợp đồng tay ba thương thảo giữa địa phương và các công ty xăng dầu quốc gia như đã thảo luận phần trên cung ứng một phương sách thuận lợi để lôi kéo TQ vào và mở rộng hoạt động hợp tác. Chính sách của ASEAN trong việc tham gia cùng các công ty năng lượng TQ để thăm dò, khoan giếng và cuối cùng là sản xuất sẽ cũng cố sự quan tâm của TQ cho các bước hợp tác xa hơn nữa. Một đề nghị dành cho các nước ASEAN là tiến lên từ hợp đồng tay ba có TQ tham gia đến các hợp đồng tay tư hoặc tay năm. Bằng cách mở rộng sự hợp tác đến mức đa phương sẽ có thể xây dựng một nền tảng ổn định vững chắc hơn trong khu vực và dọn đường cho một giải pháp cho các yêu sách trong tương lai, một khi đến thời điểm.

Thực vậy, ASEAN phải đẩy mạnh hợp tác năng lượng trong khu vực bằng cách mời gọi tham gia càng nhiều công ty năng lượng quốc tế càng tốt, không chỉ là TQ và Mỹ mà luôn cả Ấn Độ và Châu Âu càng hay. Mục đích phải là tạo ra một môi trường mà các chính phủ, kể cả ngoài khu vực, sẽ thấy rằng mình có lợi nếu các yêu sách hàng hải bị gát lại. Khi các yêu sách chủ quyền tạo ra sự bấp bênh và giăng ra nhiều trở ngại trong việc thăm dò và khai thác năng lượng, các chính phủ bị áp lực phải hành động. Khăng khăng trong đòi hỏi đặc thù của mình, các chính phủ đã đưa vùng biển Nam Trung Hoa vào thế bế tắc để không hăm dọa đến vị thế của mình. Kết quả đáng tiếc nhưng tiên liệu trước được là những đề nghị thiện chí cho giải pháp vấn đề sẽ được lờ đi và quẳng vào ngăn kéo cho bụi bám. Khi lợi lộc của sự hợp tác năng lượng trong vùng trở nên càng hiển nhiên hơn nữa đối với các nước, sự bế tắc đang tồn tại sẽ trở thành một sự bất tiện, một rào cản cho việc khai thác và phát triển về sau cho tài nguyên năng lượng trong vùng. Khi ấy những cơ chế khu vực đang tồn tại như ARF sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc nghĩ ra một giải pháp thích hợp cho vấn đề, người ta phải tránh sa vào bẫy là chỉ đơn giản quả quyết yêu sách riêng biệt về chủ quyền bằng cách tự ý chuyển đổi nó thành đặc quyền hưởng lợi đối với sự hợp tác năng lượng. Nếu những yêu sách hàng hải có thể được xem như một đặc quyền y theo một công thức thõa mãn trong chia phần tài nguyên năng lượng, rất nhiều trở ngại hiện thời trong đàm phán có thể bị phá vỡ.Trên hết, TQ phải được đảm bảo phần chia của mình và ít có động cơ để hành động như một kẻ phá bĩnh . Trong góc cạnh phức tạp của các yêu sách hàng hải và sự trỗi dậy nhu cầu tài nguyên năng lượng, sẽ không còn cách nào khác để đối phó với vấn đề trên.

Bản đồ 6

Khu vực liên kết khảo sát địa chấn Philippines, Trung Quốc, Việt Nam


LESZEK BUSZYNSKI is a Professor at the Graduate School of International Relations,  International University  of  Japan  in Niigata.

ISKANDAR  SAZLAN  is  currently  a  Senior  Researcher  in  the  Centre  for Maritime Security and Diplomacy at the Maritime Institute of Malaysia (MIMA)  in Kuala Lumpur.

NOTES

1  The Times  (London),  9  June  1956.

2  Christian Science Monitor,  23 May  1956.

3  International Herald Tribune,  30  and  31 December  1978.

4  “Watching China Closely”,  Jakarta Post,  29 March  1988.

5  “Dealing with China”, Straits Times,  1 April  1988.

6  Business Times,  23  July  1992.

7  Straits Times,  16  July  1991; Reuters,  17  July  1991.

8  Straits Times,  24 August  1993.

9  Indonesian Observer,  21  July  1992.

10  Straits Times,  19 March  1995.

11  Straits Times,  25 May  1995.

12  Straits Times,  30 March  1994.

13  Straits Times,  21 February  2000.

14  Straits Times,  22 February  2000.

15  Straits Times,  1 September  2003.

16  “China  Forecasts  on  Crude  Oil  Consumption”,  Alexander’s  Gas  and  Oil

Connections  11, no.  11  (8  June  2006).

17  “South  China  Sea  One  of  China’s  10  Major  Oil  and  Gas  Strategic  Sites”,

Alexander’s Gas  and Oil Connections  10, no.  9  (10 May  2005).

18  “PetroChina Eyes South China Sea Exploration”, China Daily,  6  July  2004.

19  Straits Times,  19  July  1994.

20  Nation,  21 April  1997; Straits Times,  8 April  1997.

21  “China Rejects Vietnam’s Demand to Cancel Oil Exploration in South China Sea”,

Alexander’s Gas  and Oil Connections 9, no.  24  (9 December  2004).

22  “Chinese, Vietnamese  Presidents Vow  to  Speed Up  Setting  of  Land  Boundary”,

People’s Daily,  19  July  2005.

23  “China,  Vietnam  Likely  to  Complete  Border  Demarcation  Work  before  2008,

Chinese Vice President”. People’s Daily,  19 October  2005.

24  “China  and  Vietnam  in  Joint  Oil  Exploration  in  Beibu  Gulf”,  Alexander’s  Gas

and Oil Connections 11, no.  17  (11 September  2006).

25  “Philippine  DOE  to  Offer  Exploration  Blocks  for  Public  Bidding”,  Alexander’s

Gas  and Oil Connections  18, no.  14,  10  July  2003.

26  Star,  17  June  2003.

27  Star Maritime,  15 March  2005.

REFERENCES CITED

Ager, Maila. 2004. “Gov’t Ready to Protest China Oil Exploration in Spratlys”. Inquirer,

8  July.

ASEAN Secretariat. 1976. Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia, Indonesia.

24 February. http://www.aseansec.org/1654.

———.  1992.  ASEAN  Declaration  on  the  South  China  Sea, Manila,  the  Philippines.

22  July. http://www.aseansec.org/1196.

———.  2002.  The  Declaration  on  the  Conduct  of  Parties  in  the  South  China  Sea.

4 November. http://www.aseansec.org/13165.

Barnes,  Kathleen.  1939.  “Spratly  Seizure  Revives  Conflicting  Claims”.  Far  Eastern

Survey  8, no.  9  (26 April).  JSTOR, http://www.jstor.org.

Brown, David. 2005. “Vietnam Finds Oil in Basement”. Explorer, February. http://www.

aapg.org/explorer/2005/02feb/Vietnam.cfm.

Buszynski,  Leszek.  2002.  “Realism,  Institutionalism,  and  Philippine  Security”. Asian

Survey 42, no.  3  (May/June):  483–501.

———.  2003.  “ASEAN,  the  Declaration  of  Conduct,  and  the  South  China  Sea”.

Contemporary Southeast Asia  25, no.  3  (December):  343–62.

Chanda, Nayan.  1994.  “Divide  and Rule”. Far Eastern Economic Review,  11 August.

Chanda,  Nayan,  and  Tai  Ming  Cheung.  1990.  “Reef  Knots”.  Far  Eastern  Economic

Review,  30 August.

Charney,  Jonathan  J. 1999. “Rocks That Cannot Sustain Human Habitation”. American

Journal  of  International  Law 93, no.  4  (October):  863–77.

Choon-ho Park. 1978. “The South China Sea Disputes: Who Owns  the  Islands and  the

Natural Resources”. Ocean Development  and  International  Law  5, no.  1:  28–55.

Dobson, William  J., and M. Taylor Fravel. 1997. “Red Herring Hegemon: China  in  the

South China Sea”. Current History, September, pp.  258–63.

Domingo, Ronnel W. 2003. “PNOC Unit Forges Deal with Petronas”. Inquirer, 10 November.

Garver, John W. 1992. “China’s Push through the South China Sea: The Interaction of

Bureaucratic and National Interests”. China Quarterly, no. 132 (December): 998–1028.

Hamzah, B.A.  “China’s Strategy”. Far Eastern Economic Review,  13 August  1992.

Hyer,  Eric.  1995.  “The  South  China  Sea  Disputes:  Implications  of  China’s  Earlier

Territorial Settlements”. Pacific Affairs  68, no.  1  (Spring):  34–54.

Jayasankaran,  S.,  and  John  McBeth.  2003.  “Oil  and  Water”.  Far  Eastern  Economic

Review,  3  July.

Joyner,  Christopher.  1999.  “The  Spratly  Islands  Dispute  in  the  South  China  Sea:

Problems, Policies, and Prospects for Diplomatic Accommodation”. In Investigating

Confidence Building Measures in the Asia Pacific Region, edited by Ranjeet Singh,

pp.  53–108. Report  28. Washington, DC: Henry L. Stimson Centre.

Lam, Willy.  2005.  “Beijing’s  Strategy  to  Counter U.S.  Influence  in Asia”.  China  Brief

(Jamestown Foundation)  5, no.  25  (December  8):  1–3.

Nguyen Hong Thao. 2003. “The 2002 Declaration on the Conduct of Parties in the South

China Sea: A Note”. Ocean Development  and  International  Law 34:  279–82.

Odell, Lawrence. 1939. “Philippines Urged to Survey Outlying Neglected Islands”. Far

Eastern Survey  8, no.  10  (10 May).  JSTOR, http://www.jstor.org.

Rigzone.com. 2003. “Shell Could Halt Operations Offshore Brunei”. 18 June. http://www.

rigzone.com/news/article.asp?_1df=7052.

Shee  Poon  Kim.  1998.  “The  South  China  Sea  in  China’s  Strategic  Thinking”.

Contemporary Southeast Asia  19, no.  4  (March):  369–87.

Smith,  Edward  D.  1994.  “China’s  Aspirations  in  the  Spratly  Islands”.  Contemporary

Southeast Asia  16, no.  3  (December):  274–90.

Tai Ming Cheung. 1990. The Growth of Chinese Naval Power: Priorities, Goals, Missions

and  Regional  Implications.  Pacific  Strategy  Paper  no.  1.  Singapore:  Institute  of

Southeast Asian Studies.

US  Energy  Information  Adminstration.  2003.  South  China  Sea  Tables  and  Maps.

September.  http://community.middlebury.edu/~scs/maps/US%20EIA%20South

%20China%20%Sea%.

Valencia,  Mark  J.  1995.  China  and  the  South  China  Sea  Disputes.  Adelphi  Paper

no.  298. London:  International  Institute  for Strategic Studies.

———.  2000.  “Regional Maritime  Regime  Building:  Prospects  in Northeast Asia  and

Southeast Asia”. Ocean  Development  and  International  Law  31,  pp.  223–47.

Valero, Gerardo M.C. 1994. “Spratly Archipelago Dispute: Is the Question of Sovereignty

Still Relevant?” Marine Policy 18, no.  4:  314–44.

Vatikiotis, Michael, and David Murphy. 2003. “China’s Regional Strategy”. Far Eastern

Economic Review,  20 March.

Villanueva, Marichu. 2003. “Bush Eyes RP’s Natural Gas Prospects”. Philstar, 20 October.

Wain, Barry.  2002.  “Taking Charge”. Far Eastern Economic Review,  14 November.

Wang Chunheng. 1958. A Simple Geography of China. Peking: Foreign Language Press.

Whiting, Allen S. 1997. “ASEAN Eyes China: The Security Dimension”. Asian Survey

37, no.  4  (April):  299–322.

Xinhua.  2005.  “Oil Companies Sign Landmark S. China Sea Agreement”.  15 March.

Yu, Peter Kien-hong. 2003. “The Chinese (Broken) U-Shaped Line in the South China Sea:

Points, Lines, and Zones”. Contemporary Southeast Asia 25, no. 3 (December): 405–30.

Yunis,  Kamarul.  2004.  “New  Oil  Finds  May  Trigger  Boom  in  Energy-linked  Jobs”.

Business Times,  27 September.

Zha,  Daojiong.  2001.  “Localizing  the  South  China  Sea  Problem:  The  Case  of  China’s

Hainan”. Pacific Review 14, no.  4:  575–98.

Nguồn: Contemporary Southeast Asia Vol.29 No.1(2007)pp 143-171

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: