Anhbaque’s Blog

Just another WordPress.com weblog

Bài 4: Trung Quốc và An ninh Năng lượng dài hạn ở châu Á: Phân tích về chính trị, kinh tế và các yếu tố kỹ thuật hình thành nên các thị trường năng lượng Châu Á

Posted by anhbahoa on November 22, 2009

Bài 4

Trung Quốc và An ninh Năng lượng dài hạn ở châu Á:

Phân tích về chính trị, kinh tế và các yếu tố kỹ thuật

hình thành nên các thị trường năng lượng Châu Á

China and Long-range Asia Energy Security: An Analysis of the Political, Economic and Technological Factors Shaping Asian Energy Markets

Dr. Evan A. Feigenbaum

Mixing Rivalry With Cooperation: The New Economic Geopolitics

TRỘN LẪN GANH ĐUA VÀ HỢP TÁC: CÁI MỚI VỀ KINH TẾ ĐỊA CHÍNH TRỊ

Lời giới thiệu

Dưới đây là một bài phân tích khác với nhiều quan điểm cho rằng Trung Quốc đang xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh để trấn áp biển đông và tuyến đường chuyên chở năng lượng ở khu vực Châu Á – Thái bình Dương. Với cách nhìn “hòa hoãn” và phân tích lạc quan về tình hình hiện nay, rằng Trung Quốc không thể và không đủ sức ngăn cản hoạt động bá quyền của Hoa Kỳ ở biển Đông trong vài thập niên tới…cho nên việc giữ một quan hệ nhất định với Trung Quốc là cần thiết, mặc dù không phủ nhận được tính “hiếu chiến” của lãnh đạo Trung Quốc trong vấn đề chủ quyền của họ trên biển Đông cũng như trên đất liền. Theo tác giả, từ tư tưởng hiếu chiến…đến hành động quân sự cụ thể là một khoảng cách dài, hầu như không thể xảy ra ngày nào Mỹ còn đủ sức duy trì lực lượng không chế tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương để giữ quyền kiểm soát…Và điều đáng tiếc là nếu theo lập luận nầy thì khả năng Trung Quốc đánh chiếm các đảo còn lại ở Trường Sa là rất lớn vì theo tác giả đó chỉ là vấn đề cục bộ không ảnh hưởng đến chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vực Châu Á-TBD ! Xin mời bạn đọc theo dõi.

Nhóm chuyển ngữ Bauvinal.info.free.fr

Tình hình Quân đội Trung Quốc và Tân Địa chính trị Kinh tế

China‘s Military Posture and the New Economic Geopolitics

Trung Quốc và An ninh Năng lượng dài hạn ở châu Á: Phân tích về chính trị, kinh tế và các yếu tố kỹ thuật hình thành nên các thị trường năng lượng châu Á

Liên kết soạn thảo với cuộc nghiên cứu năng lượng được bảo trợ bởi Trung tâm Kinh tế Chính trị Quốc tế và James A. Baker III

Viện Nghiên cứu chính sách công cộng.

Dr. Evan A. Feigenbaum

Thành viên

Belfer Center for Science and International Affairs

John F. Kennedy School of Government

Harvard University

Hơn hai thập kỷ qua, Trung Quốc đã ghi được mức tăng trưởng kinh tế gần như chưa từng có trước đây. Gây ra sự tăng lên về lượng cả hai mặt song song, cả lượng ra lẫn lượng vào mức tiêu thụ năng lượng trong nước.[1] Kết quả của việc gia tăng nầy, việc phân tích vấn đề năng lượng của Trung Quốc liên hệ mật thiết đến một số điểm quan trọng cần bàn bạc về tình hình quân đội Trung Quốc và các ý đồ chiến lược lâu dài của họ:

-Trung Quốc làm sao đảm bảo được việc cung cấp các nguồn năng lượng sống còn nhất cho mình, đặc biệt là các loại lệ thuộc vào nguồn hàng lưu thông tự do qua các tuyến đường biển quốc tế ? [2]

– Liệu Trung Quốc có đủ năng lực hải quân để đảm bảo giao thông cho các tuyến biển (SLOCs) không ?

– Năng lực cho việc đó có phải là trung tâm của kế hoạch phát triển hải quân trong tương lai không ?

– Khả năng tên lửa của Trung Quốc -đã trình diễn gây ấn tượng mạnh mẽ khi tập trận ở eo biển Đài Loan mùa xuân 1996- có thể được dùng để hăm dọa hoặc gây hại đến việc chuyên chở trên biển quốc tế, kể cả vận tải dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên ?

Cuộc tranh luận đã nảy sinh, chủ yếu chung quanh sự chuyển hướng quan trọng trong quan hệ giữa chiến lược phát triển kinh tế và các mục tiêu chiến lược đã hiện rõ ra của Trung Quốc. Từ thập kỷ 50 đến 70, một tích lũy thô về an ninh quốc gia ngự trị hầu hết lịch trình chính sách của Trung Quốc, và sự bấp bênh đối ngoại là một trong vài chủ đề chính trị tồn tại chế ngự suốt ba thập kỷ trước khi chương trình đổi mới của Đặng Tiểu Bình được công bố vào năm 1978. Mức độ cao về bất ổn đối ngoại chẳng những đặt quân đội Trung Quốc luôn sẵn sàng và chọn cấu trúc mạnh mẽ trong kỷ nguyên Mao (1949-76). Những cuộc khủng hoảng an ninh quốc gia xảy ra thường xuyên làm lộ ra lần này đến lần khác các mặt tương đối yếu kém của Trung Quốc và cũng làm lệch hướng một đại bộ phận trong chiến lược phát triển tổng thể kinh tế của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) vào thời kỳ đó.[3] Thế là nền kỹ thuật cao và kế hoạch công nghiệp của Trung Quốc bị lệch hướng nặng nề sang chương trình vũ khí chiến lược đại quy mô trên tầm quốc gia, trong lúc các nguồn lực quân đội có sẵn đều được đưa vào những mục tiêu truyền thống về an ninh quốc gia như: phòng vệ biên giới; đẩy mạnh những yêu sách về vấn đề lãnh thổ; và sự bảo vệ nội địa khỏi ngoại kích.

Ngày nay, các học giả và các nhà hoạch định chiến lược đồng chấp nhận là tăng trưởng kinh tế là trọng tâm của lịch trình chính sách quốc gia của Trung Quốc. Kết quả của sự chuyển dịch này là hoạch định công nghiệp và kỹ thuật của Trung Quốc đã chuyển dịch ra khỏi các mục tiêu nhằm vào vũ khí ở thập niên 50 – 70 mà hướng đến một nỗ lực thông minh hơn nhiều, bao gồm phi quân sự hóa và chuyển dịch đầu tư từ công nghiệp nặng sang công nghiệp nhẹ và kỹ thuật cao.[4]

Không có gì đáng ngạc nhiên khi các chuyển dịch đó đi kèm với một sự thay đổi tế nhị là Trung Quốc có ý định khai triển tiềm năng về quân sự, như nhiều nhà phân tích tiên đoán. Với các vùng biên giới vững chắc và nhiều yêu sách về lãnh thổ còn dở dang giờ đây còn chồng chéo thêm về kinh tế và vấn đề tài nguyên, cuộc tranh luận về chính sách quốc phòng của Trung Quốc gia tăng tập trung vào hai đề tài: (1) những quan tâm về cân bằng sức mạnh lâu dài trong vùng Châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là đối mặt với khả năng vai trò của Mỹ trong tương lai; và (2) khả năng Trung Quốc sẽ khai triển lực lượng quân sự để đảm bảo các tài nguyên cần thiết cho tăng trưởng kinh tế lâu dài.[5]

Hiển nhiên là cả hai hướng tranh luận này đan xen chặt vào nhau, nhưng ở hướng thứ nhì thì đặc biệt tế nhị và đáng quan tâm, một phần vì sự cân nhắc giữa tài nguyên và sự cân bằng sức mạnh chồng chéo nhau rất sát sao. Để được cả sự tự cân đối năng lượng và làm một thế lực thống trị trong nền kinh tế vĩ mô khu vực, Trung Quốc phải có khả năng đảm bảo tuyến đường thủy vãng lai đến nơi cung cấp tài nguyên và các tuyến đường thương mại. Do đó việc hiện đại hóa hải quân, đặc biệt ở đây, đã tiến hành đặc biệt gây tiếng vang lớn vì nhu cầu năng lượng đang tăng lên ở Trung Quốc.

Tranh luận chủ yếu về vấn đề làm sao các yêu sách về tài nguyên và lãnh thổ chồng chéo nhau đã được tuyên bố chi tiết, thí dụ như, trong cuộc tranh luận về các mục tiêu của Trung Quốc tại vùng biển Đông là nơi mà mối tương quan lực lượng là một vấn đề lớn trong khi Trung Quốc đang lấn dần từng bước ở vùng quần đảo Trường Sa (Spratly), nổi lên những thắc mắc rằng liệu sự lệ thuộc tài nguyên là rào cản phải đặt trong bài toán chiến lược của Trung Quốc như thế nào. Hầu hết các tuyến đường biển chủ yếu thông thương vận chuyển năng lượng miền Đông Á nằm ở vùng biển này.

Vậy thì, xin phép có một câu hỏi mới, rất quan trọng về các mục tiêu chiến lược và tình thế sức mạnh của Trung Quốc: Nói thẳng ra nếu quân đội Trung Quốc phục vụ cho các mục tiêu an ninh “truyền thống”, như phòng vệ biên giới, khi những điều này là tối thượng trong kế hoạch hành động của người Trung Quốc từ những năm 50 -70, thì bây giờ chúng ta có thể nào không loại trừ việc các nhà lãnh đạo Trung Quốc sử dụng một khả năng hiện thực sức mạnh tương lai để phục vụ mục tiêu thống trị trong hiện tại – ấy là an ninh kinh tế, an ninh tài nguyên, và sự bành trướng thoải mái về chiến lược và ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc trong vùng châu Á-Thái Bình Dương ?

Bài tiểu luận này đưa ra vài ý tưởng ban đầu về vấn đề trên qua 4 lý lẽ chính.

Thứ nhất, mặc dù Trung Quốc có lịch sử luôn là thái độ bất hòa giữa các nước quân phiệt dẫn đến thiên hướng dựa vào vũ lực, mối liên hệ giữa việc sử dụng vũ lực và tài nguyên và kinh tế của Trung Quốc nếu có kết nối thì cũng mong manh xét về mặt giá trị lịch sử lẫn kinh nghiệm.

Thứ nhì, đây là mặt nổi cộm trong trường hợp vùng biển Nam Trung Hoa, nhiều nhà phân tích khi nghiên cứu động thái chiến lược của người Trung Quốc về vùng biển này đã thổi phồng lên quá mức có thể có được trong thực tiễn. Thực vậy, chấp nhận rằng Trung Quốc “hung hăng” trong khu vực có thể do bị tác động nhiều bởi một định nghĩa cứng nhắc về chủ quyền hơn là do suy xét đến tài nguyên và kinh tế, hoặc ngay cả do suy xét đến sự cân bằng sức mạnh. Vùng biển có thể có giá trị chiến lược nhưng bản thân các hòn đảo thì chẳng có gì. Và không chỉ thế, sự thống trị của hải quân Mỹ có khả năng sẽ không bị ai khiêu khích trong nhiều thập kỷ tới nhưng, như tôi sẽ cố nêu rõ ở phần dưới, rất nhiều mục tiêu của Trung Quốc trong khu vực chắc sẽ đạt được đơn giản bằng cách cho “chồm lên” vượt qua hiện trạng thống trị của Mỹ. Ít nhất trên mặt trận chủ quyền, điều phát hiện này càng đẩy lùi kỳ vọng về một sự ổn định trong vùng biển Đông như vốn có, vì nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) hầu như chắc chắn tìm cách thúc ép thỏa mãn yêu sách của họ. Nhưng điều này gợi ý ra là không nên xem trường hợp biển Đông như là một dấu hiệu chỉ ra hành vi chiến lược mở rộng lãnh thổ củaTrung Quốc hoặc cho thấy vị thế của Trung Quốc trong các giải pháp hợp tác nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng. Thực vậy, tiểu luận này đứng trên quan điểm tích cực cho rằng viễn cảnh về những giải pháp hợp tác trong thực tế hoàn toàn xác thực hơn.

Thứ ba, từ hiện trạng ngày nay người Mỹ che chở các tuyến đường biển ngoài khơi phục vụ cốt lõi các lợi ích về chiến lược của Trung Quốc, giới vạch ra chính sách cho Trung Quốc dường như rất muốn làm một cú lồng lên vượt qua quyền bá chủ của người Mỹ hơn là khiêu khích hiện trạng trên. Việc tranh cải cho sự ổn định này vượt khỏi giới hạn trung bình.

Thứ tư, việc hiện đại hóa kỹ thuật quốc phòng của Trung Quốc phải mất 30 đến 50 năm nhằm cung cấp cho Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA) một khả năng bao quát thách thức sự thống trị của Mỹ, đặc biệt trên vùng biển khơi. Khi liên kết với mối quan tâm thực tế về quyền lợi về tài nguyên của Trung Quốc , ít ra cũng làm được việc một cách hiệu quả và ít tốn kém nhất là lách qua mặt quyền bá chủ của Mỹ, hơn là qua kiểu khiêu khích đối đầu trực diện với quyền bá chủ đó, điều này gợi ra một ý là gánh nặng ổn định khu vực thực ra nằm trên vai Mỹ chứ không phải Trung Quốc. Đối với mọi lời bàn về “sự hung hăng” của Trung Quốc trong việc đồn trú tại những dãy đá ngầm và vùng biển nông quanh đó, ta thấy việc người Mỹ đổ dồn xuống vùng biển Thái Bình Dương còn tạo ra mối hăm dọa lớn hơn nhiều đến sự ổn định của các tuyến đường biển và thị trường năng lượng, vượt qua mọi tiềm năng thách thức của người Trung Quốc đối với tình trạng hiện nay.

Dưới đây, tôi sẽ nghiên cứu từng vấn đề một đi sâu vào chi tiết.

Trung Quốc sử dụng vũ lực: Thực tập an ninh và các bức bách về tài nguyên

Nếu các nhà phân tích khẳng định rằng việc người Trung Quốc trong tương lai, với khả năng sử dụng vũ lực trên vùng biển khơi sẽ là mối đe dọa đến sự ổn định cho thị trường năng lượng châu Á, buộc ta phải phân tích lại từ đầu với sự tìm hiểu là các nhà chiến lược Trung Quốc suy nghĩ và hành động ra sao trong việc sử dụng vũ lực. Những năm gần đây, ngày càng nhiều học giả nghiên cứu về nền quốc phòng của Trung Quốc đều có suy nghĩ và thực hành vay mượn từ lịch sử và kinh nghiệm nên dẫn đến ý niệm chinh sách đối ngoại của Trung Quốc bị neo giữ trong những mối bận tâm về an ninh và thiên về dùng vũ lực. Tuy nhiên, rất ít hoặc hầu như không có bằng chứng thuyết phục cho thấy giới lãnh đạo Trung Quốc xem việc dùng vũ lực là một công cụ để đạt được một cách dứt khoát – và ưu tiên – cho các mối quan tâm về kinh tế và tài nguyên.

Thoạt nhìn chúng ta thấy điều này có vẻ hợp lẽ thường. Như trường hợp đã qua là Nhật Bản trong thập kỷ 40 đã cho thấy những mối quan tâm về tài nguyên có thể dẫn quốc gia đến chỗ dùng vũ lực. Càng quan trọng hơn nữa, phát hiện này rất quan trọng vỉ những suy xét về tài nguyên và cán cân sức mạnh thực sự hòa quyện vào nhau trên nhiều vùng trọng yếu mà Trung Quốc đã đặt yêu sách. Điều này gây khó khăn trong việc truy tìm động thái chiến lược của Trung Quốc. Đồng thời cũng cho thấy rõ tại sao các nhà phân tích không nên quá vội vàng liên kết tiềm năng tài nguyên ở nhiều vùng khác nhau, gồm cả vùng biển Đông, vào sự gia tăng sức mạnh quân sự của nước CHNDTH và sự ưa chuộng dùng vũ lực cơ bắp của các vua chúa họ trong lịch sử.

Giới lãnh đạo Trung Quốc luôn kiên định hơn 50 năm qua trong thể hiện ý muốn dùng vũ lực để bảo vệ quyền lợi đất nước là điều không cần phải hỏi, gần như mọi kinh nghiệm và bằng chứng lịch sử cho thấy có 3 nhân tố căn bản hoàn toàn không dính líu gì đến động cơ kinh tế hay tài nguyên đã lót đường cho Trung Quốc sử dụng vũ lực từ sau năm 1949. Đáng lưu ý là những nhân tố này ngày càng kém quan trọng theo thời gian khi Trung Quốc đã xử trí rất thành công nhiều mặt quan trọng nhất của chúng. Hẵn thế, ngoại trừ vấn đề Đài Loan, điều đó rất đúng ở hai nhân tố đầu tiên:

– Đòi hỏi chủ quyền trên vùng lãnh thổ chủ yếu;

– Đấu tranh giai cấp;

– Hoặc các mối quan tâm chiến lược dính líu tới cân bằng lực lượng ở Đông Á.

Lịch trình chính sách quốc gia của Trung Quốc đã thay đổi đáng kể hơn hai thập kỷ qua và các vấn đề kinh tế / tài nguyên giờ đây cũng chồng chéo với nhiều mối quan tâm chiến lược khác. Tuy nhiên, suy xét hầu hết các khía cạnh để cân đối giữa các yếu tố liên quan thì mọi lý lẽ thừa nhận một sự liên kết qua lại giữa nhu cầu về kinh tế và phụ thuộc vào tài nguyên nằm ở một vế, còn việc Trung Quốc thiên về dùng vũ lực thì ở vế còn lại.

Để hiểu tại sao, chúng ta phải biết điều gì đó về động thái chiến lược của Trung Quốc và lịch sử sử dụng vũ lực của Trung Quốc trong thời kỳ ra đời của Nước CHNDTH (từ 1949 đến nay)

Chiến lược cư xử của Trung Quốc

Hầu hết học thuyết gần đây về việc thực hành chính sách an ninh quốc gia của Trung Quốc đều khoét sâu vào giả thuyết vững chắc cho rằng Trung Quốc trở sang tiếp cận hầu hết cực kỳ xảo quyệt về mặt ngoại giao và sử dụng vũ lực. Một khi đã cột chặt bởi chiến lược văn hóa, cấu trúc của hệ thống quốc tế, hoặc các khái niệm về an ninh của giới lãnh đạo tinh hoa Trung Quốc, truyền thống sức mạnh và cách suy nghĩ tự tôn sẽ là nền tảng cho mọi phân tích của chiến lược cư xử hiện thời của Trung Quốc.[6]

Trước nhất việc này quan trọng vì nó hướng các nhà lãnh đạo Trung Quốc quay về quan điểm cho rằng sức mạnh quân sự là một công cụ cực kỳ hữu dụng cho đối ngoại lẫn đối nội. Trên tất cả, các nhà quyết định chính sách Trung Quốc hành động rõ ràng theo định nghĩa hạn hẹp của họ về “lợi ích dân tộc” của Trung Quốc.

Định nghĩa về lợi ích dân tộc của người Trung Quốc thường hay choán hết chỗ dành cho quy phạm toàn cầu (tức là ngược lại với cục bộ, địa phương, quốc gia), hoặc dành cho việc hợp tác quốc tế những thứ chẳng qua là tạm bợ, hầu hết là những nền tảng mang tính công cụ. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy dưới đây, điều này có thể thay đổi, đưa đến một số lý do giúp lạc quan về nhiệm vụ đảm bảo ổn định khu vực vượt thời gian của Trung Quốc.

Các kiểu tính toán vụng về trong chiến lược xảo quyệt này đặc biệt liên hệ đến các yêu sách đòi lãnh thổ của Trung Quốc, trong đó có vùng biển Đông. Thực vậy, trong gần toàn bộ các vấn đề như trên, giới lãnh đạo Trung Quốc đều ghim chặt nền an ninh và thủ pháp ngoại giao vào cái mà nhà khoa học chính trị Alastair Iain Johnston đã đặt tên là “những giá trị chủ quyền cường điệu”. Lập trường của Trung Quốc trong các yêu sách tồn tại về đất đai rất ư cứng nhắc và trong thực hiện gần như luôn bất di bất dịch. Thực tế, chỉ có một trường hợp lớn về thỏa hiệp đất đai có văn kiện chính thức từ trước 1949 ở Trung Quốc – ghi nhận nền độc lập vùng Ngoại Mông vào năm 1950 và sự thỏa hiệp này dính dáng sâu đến mưu đồ bán đứt nội thổ cho mối liên hệ đồng minh Trung-Sô.

Mặc dù giới lãnh đạo Trung Quốc sau cùng đã dàn xếp dùng chủ quyền Mông Cổ đổi lấy một sự cộng tác chiến lược sâu rộng hơn với Liên Bang Xô Viết, điều đó cũng chẳng dễ chút nào. Bản thân Mao Trạch Đông cũng đã chịu một áp lực chính trị khủng khiếp, có thể nói là bị công kích, khi phải đồng ý cho sự trao đổi này.[7] Nói tóm lại, nhiều nhà phân tích thấy động thái chiến lược của Trung Quốc dường như chừa rất ít chỗ cho việc hợp tác giải quyết các vấn đề bằng cách nào khác ngoài những nền tảng mang tính công cụ nhất. Ngoài mặt mà nói, điều này khó mà mang đến nhiều hy vọng cho ổn định lâu dài khu vực, và nó tạo ra những khó khăn đặc biệt những nhà quan sát tương lai năng lượng châu Á vì rằng tuyến hàng hải cung cấp dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên phải đi chồng chéo lên nhiều vùng Trung Quốc đang yêu sách chủ quyền chưa giải quyết.

Cách sử dụng vũ lực của Trung Quốc

Thoạt đầu, các nhà phân tích về an ninh năng lượng châu Á có thể thấy cách thực hành an ninh của Trung Quốc là rối ren vì phần thân của học thuyết và tác động như trên đã nêu bật ra một câu hỏi quan trọng là bằng cách nào các nhà lãnh đạo Trung Quốc tìm ra cách thực hiện các yêu sách như vậy. Các chính khách Trung Quốc suy nghĩ ra sao về việc dùng sức mạnh như là một công cụ để đạt được các mục tiêu chính sách đối ngoại quan trọng?

Qua những công trạng có được do kinh nghiệm — ít nhất là trong vài năm qua — bằng chứng vạch ra đầu tiên cho thấy giới lãnh đạo Trung Quốc xem vũ lực là một công cụ thô lỗ (nhưng cũng hết sức hiệu quả) trong nghệ thuật lãnh đạo đất nước. Dĩ nhiên, đây không ngụ ý gì về sự “hung hăng” của người Trung Quốc như vốn có. Như Johnston đã nói rõ, bằng chứng đơn thuần về sử dụng vũ lực không nói lên được xung đột bắt đầu ra sao, ai gây hấn trước, và các ý đồ nào của Trung Quốc là có thể và không thể thực hiện được. Tuy nhiên, lịch sử về sử dụng vũ lực của Trung Quốc hồi năm 1949 đã nói lên đôi điều nhận thức quan trọng về quan điểm của giới lãnh đạo Trung Quốc ra sao khi sự sử dụng khí tài quân sự trong trường hợp xảy ra xung đột.

Thực vậy, thống kê các cuộc tranh chấp địa phương dẫn đến giải quyết bằng quân đội  tại Trung Quốc từ 1949 đến 1992 không ít hơn 118 vụ.[8] Cuộc khảo sát này còn bổ sung nghiên cứu sâu sắc hơn về các tranh chấp chủ yếu giữa Trung Quốc với nước ngoài trong hơn 40 năm qua, bao gồm xung đột ở Triều Tiên, eo biển Đài Loan, Ấn Độ, Indochina, biên giới Trung-Sô và biển Nam Trung Hoa.[9] Hai hướng tiếp cận cho thấy một cách rõ rệt đến mức nó ám chỉ là giới lãnh đạo Trung Quốc không ngần ngại trong việc sử dụng vũ lực. Thực tế, giới lãnh đạo Trung Quốc rất ít khi tránh né việc dùng vũ lực dựa vào thế “ỷ mạnh” của Bắc Kinh trong khi giải quyết các vấn đề an ninh ngắn hạn lại thường tạo thành dài hạn rồi vượt xa hơn thành các hiểm họa vĩnh viễn về an ninh. Thí dụ cụ thể nhất cho hiện tượng này dĩ nhiên là Hàn Quốc, nơi mà các thủ lĩnh chính trị Trung Quốc – bất chấp sự bất bình của nhiều tướng lĩnh quân đội PRC- đã can thiệp vào nhằm đảm bảo cho một vùng đệm nơi giáp ranh đông bắc Trung Quốc hầu từ đó tránh được việc lưỡng đầu thọ địch với Mỹ dọc theo biên giới đông bắc ( Hàn Quốc) và đông nam (Đài Loan).[10] Thực hiện việc trên, Trung Quốc đảm bảo được phần biên giới Mãn Châu nhưng đặt quan hệ Mỹ Trung vào thế đóng băng khiến cho PRC bị đặt vào sự hăm dọa tấn công rõ rệt của không ít hơn 7 đầu đạn hạt nhân vào các năm 50 [11]. Mối nguy này đã tạo ra vô số vấn đề mới về an ninh, tất cả lớn hơn nhiều so sự xung đột với Hàn Quốc đã bắt đầu đóng băng. Cuối cùng, giới lãnh đạo Trung Quốc bị buộc phải bắt đầu chương trình vũ khí nguyên tử bản địa. Họ không còn cách nào hơn là phải chia sớt lại phần tài nguyên hạn chế của mình dành cho những nhu cầu đa dạng cấp thiết phát triển trong nước.[12]

Nếu nhìn bên ngoài , các dữ liệu về định tính và định lượng kết hợp lại cho thấy hình ảnh một nước Trung Quốc hùng mạnh luôn sốt sắng viện đến sức mạnh một khi xung đột bùng nổ. Trung Quốc bị cuộc đối đầu về quân sự giữa các nước hóa (MID) với mức bình quân là 2,74 vụ hàng năm từ 1949 đến 1992. Có hai vụ đối đầu kéo dài suốt 5 năm là trong thời kỳ Mao (1954 – 58 và 1964 – 68), các dữ liệu này cũng cho thấy rõ là thái độ thiên về MID vẫn còn ngay sau khi Trung Quốc chuyển hướng qua việc ít dựa hơn vào việc quân sự hóa các cuộc đối đầu từ năm 1978. Từ đó Johnston, người tổng hợp dữ liệu, ghi chú rằng tỷ lệ MID nói chung của Trung Quốc đã chậm lại từ sau 1966. Nhưng nó “tồn tại tương đối liên miên từ giữa thập niên 70 đến cuối thập niên 80″. Nói một cách khác, thời kỳ Đặng Tiểu Bình cho đến cuối thập kỷ 80 khuynh hướng về MID giảm không đáng kể so cuối thời kỳ Mao Trạch Đông, dù vậy nó vẫn ít khuynh hướng đối đầu hơn so với cuối thời Mao”.[13]

Điều đáng quan tâm nhất về bằng chứng cho việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc là, với mọi ồn ào ngoài mặt về Trung Quốc có thói quen phô trương chính sách khí tài quân sự trong cách giải quyết một vấn đề, nó thực sự đưa ra ba kết luận sâu sắc hơn, có thể là tin tốt lành cho các nhà phân tích về an ninh năng lượng châu Á.

Thứ nhất, gần như Trung Quốc sử dụng vũ lực khi có liên quan đến chủ quyền và yêu sách lãnh thổ. Không trường hợp nào có dính líu đến thuần túy kinh tế hoặc các lo lắng về tài nguyên. Thứ nhì, dữ liệu định lượng đặc thù cho thấy sự phát triển khả năng quân sự của Trung Quốc từ 1978 đến 1992 không liên hệ với mức tăng khuynh hướng đối đầu đang lên cao. Thứ ba, điều này có nghĩa là, về mặt hiệu quả, Trung Quốc tự mình phô trương ra càng nhiều sức mạnh(quân sự) lại cho thấy gần như không có khả năng Trung Quốc sử dụng vũ lực. Yêu sách của Trung Quốc về lãnh thổ trong thực tế trở nên bớt nổi cộm qua thời gian, và các giải pháp hợp tác với nguồn cung cấp năng lượng châu Á — khi nào họ thành công trong cách xoay sở và không trực tiếp khiêu khích đến các yêu sách chủ yếu về lãnh thổ của Trung Quốc— chứng tỏ tính khả thi trên thực tế.

SOÁT XÉT QUA CÁC ĐỘNG CƠ CỦA TRUNG QUỐC:

VẤN ĐỀ VÙNG BIỂN NAM TRUNG HOA.

Biển đông dậy sóng ?

Điều này cung cấp một quan niệm lý tưởng làm chỗ dựa trong cuộc tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa, nơi mà sự quan tâm đến tài nguyên và các câu hỏi về chủ quyền chồng chéo lên nhau, trong đó các kết luận sâu sát hơn có thể chỉ ra rằng một vài nhà quan sát đã quá hấp tấp khi đưa ra quy tắc tiếp cận mang tính hợp tác đối với sự tranh chấp. Thực vậy, vùng biển Nam Trung Hoa cung cấp cho chúng ta một trường hợp lý tưởng là bằng cách nào và tại sao sẽ rất nguy hiểm khi chỉ xem khái quát các dấu hiệu chiến lược từ các tình huống đặc biệt mà trong thực tế là bao hàm nhiều (và chồng chéo ) các động cơ của Trung Quốc.

Mặc dù Trung Quốc thỉnh thoảng tung tin về các đề xuất liên doanh phát triển cho khu vực, nhưng không có gì đáng kể về số hoạt động thực hiện của Trung Quốc ở khu vực này được khẳng định trong mấy năm qua.[14] Song sự khẳng định vùng nào đó tự nó không thể bao hàm một sự hung hăng chiến lược . Nó đặc biệt quan trọng để nhồi nhét vào các tranh luận ấn định “sự hung hăng” của Trung Quốc với hai chuẩn đánh giá then chốt.

Trước hết, sự nhập nhằng giữa chủ quyền và các vấn đề khác nơi Trung Quốc đang chiếm giữ làm cho khó thể phân tích chính xác được ý đồ của họ. Sau rốt, thực quá dễ để xem xét các hành động của Trung Quốc trong khu vực này, cho rằng nó “hung hăng”, và gán mục tiêu chiến lược lớn hơn vào chính sách của Trung Quốc. Thật không may, sự lộn xộn xà ngầu ở đây là các tranh cãi về vùng biển Nam Trung Hoa bao gồm:

* Sự quan tâm về tài nguyên — Sau cùng, đó là yêu sách về giếng dầu Crestone đầu tiên kích hoạt một loạt những sự chú ý mới đến vấn đề trong thập kỷ 90.

* Sự quan tâm về cân bằng lực lượng — Chiến thuật cạnh tranh của Trung Quốc với Nhật, Đài Loan và Đại Hàn, đặc biệt khi kết hợp với sự kiểm soát hải lộ của Mỹ tại châu Á và các nguồn cung cấp dầu mỏ vịnh Péc Xích, có thể được cho là cấu thành một mối quan tâm chiến lược liên quan đến tương quan lực lượng vùng Đông Á.[15] Như vậy, mọi nổ lực của người Mỹ và người Nhật nhằm độc quyền cung cấp năng lượng trong vùng sẽ làm lệch cán cân lực lượng đối với Trung Quốc nhiều hơn nữa so hiện nay trong khi nhu cầu năng lượng của PRC ngày càng bị hạn chế; và

* các vấn đề về chủ quyền.

Nhưng tranh cãi về chủ quyền có thể bao trùm hết mọi thứ, và điều này cho thấy sự nguy hiểm của việc dò xét chiến lược ở các khu vực bị Trung Quốc đưa ra yêu sách về lãnh thổ. Trong thực tế, đòi hỏi của Trung Quốc về vùng biển Nam Trung Hoa nhường chỗ cho việc giao dịch Crestone và cuộc thảo luận về chiến lược cạnh tranh ở mặt cung cấp năng lượng, một thảo luận chỉ được tăng tốc khi Trung Quốc tiến hành cơ cấu đại quy mô chương trình kinh tế vào thập niên 80. Như đã nêu trên, tư thế ngoại giao của Bắc Kinh trên vấn đề chủ quyền là cứng nhắc và không chút nhân nhượng trong từng trường hợp một. Điều này bao gồm cả những vùng, như Tây Tạng, có rất ít giá trị kinh tế, cũng như số vùng khác — kể cả Tây Tạng — nơi mà giá trị chiến lược cơ bản rất đáng ngờ.[16]

Vậy thì không rõ Trung Quốc có thúc đẩy đòi hỏi của mình về quần đảo Spratly bớt mạnh mẽ chút nào không nếu như vùng này không có hoặc có ít tài nguyên năng lượng. Có lẽ vấn đề phân tích quan trọng nhất đưa ra về nghi vấn vùng biển Nam Trung Hoa là liệu ta soát xét cách nào hành động của Trung Quốc với nhiều động thái chồng chéo . Kết quả là chúng ta có được kiểu vấn đề con gà và quả trứng cái nào có trước: có phải là căng thẳng về tài nguyên, các quan tâm về chiến lược, hoặc tranh cãi về chủ quyền là động lực đàng sau những yêu sách của Trung Quốc đối với vùng này ? Rõ ràng ba mối đều liên kết nhau và sẽ sai lầm nếu bỏ qua cái này hoặc cái kia. Tuy nhiên, sự kiện Trung Quốc thực hành an ninh từ 1949 cho ta thấy rõ là không ủng hộ quan điểm cho rằng giới lãnh đạo Trung Quốc là dựa vào sức mạnh để giải quyết các vân đề khó xử về kinh tế và tài nguyên, trường hợp đơn lẻ về thái độ quyết đoán ở quần đảo Trường sa (Spratly) cung cấp rất ít hoặc không phải là bằng chứng về vấn đề cung cấp dầu mỏ và an ninh năng lượng.

Một lý do minh họa cho trường hợp này là nó đi thẳng vào câu hỏi liệu Trung Quốc sẽ thách thức hoặc khẳng định chiến lược như vốn có. Những người theo dõi thị trường năng lượng châu Á có thể nhận thấy trường hợp vùng biển Nam Trung Hoa là rối rắm vì nó đưa ra một nước Trung Quốc sốt sắng phô trương giải pháp đàm phán trực tiếp các vấn đề và từ chối mọi nổ lực hợp tác, đa phương, hay liên doanh phát triển.

Chưa thể kết luận được vì nếu cho rằng Trung Quốc khiêu khích nhằm mở rộng hiện trạng chiến lược thì không thể khả quyết do ít nhất bốn lý lẽ sau:

Đầu tiên, sự ngự trị của hải quân Mỹ trên các tuyến hàng hải châu Á thì dường như vẫn còn nguyên xét về mặt năng lực — khẳng định qua sức mạnh trên lục địa như trường hợp Trung Quốc — trong ít nhất một phần tư thế kỷ nữa. Xuất phát này, trước nhất, từ lợi thế kỹ thuật trên mọi mặt của người Mỹ, việc này sẽ được nghiên cứu chi tiết hơn ở phần dưới khi tôi thảo luận về các nổ lực hiện đại hóa của Trung Quốc như đã áp dụng nhằm hiện thực sức mạnh. Nhưng, càng quan trọng hơn, như nhà khoa học chính trị Robert Ross đã nêu, nó cũng là một nhiệm vụ thuần túy về địa lý, đặc biệt khi ghép với một mạng lưới được duy trì cẩn thận của liên minh Mỹ và đồng minh trong vùng Châu Á- Thái Bình Dương.

Chiến lược của Mỹ tại châu Á từ cuối cuộc xung đột tại Việt Nam năm 1975, Ross ghi nhận, đã bị thu hút vào hiện thực cân bằng đường biển với sức mạnh quân sự trên bộ của Trung Quốc và Xô Viết. “Từ Nhật Bản ở đông bắc Á đến Mã Lai ở đông nam Á”, ông đã quan sát, “vùng đất liền ở phía đông châu Á được bao quanh bên ngoài bởi các quốc gia có chuổi đảo liên tục, giữ thế chiến lược về vị trí và căn cứ hải quân. Chiếm hữu được những nước này sẽ cho phép lực lượng đường biển triển khai hiệu quả các chiến dịch hải quân dọc theo vành đai của lực lượng trên bộ”.[17] Điều này cũng ngăn cản các lực lượng trên bộ có khát vọng đường biển, như Trung Quốc hiện tại, không cho mở rộng chiếm hữu ra vùng biển khơi một cách thuận lợi.

Hiệu quả là, như Rossy quan sát chính xác, các đòi hỏi của chiến lược như thế đã cho phép hải quân Mỹ khả năng đảm bảo cho Mỹ và đồng minh qua lại an toàn các vùng tài nguyên chiến lược, kể cả dầu mỏ. Điều này cũng cho Mỹ một nhiệm vụ đặc biệt như là người bảo lãnh hệ thống trong việc đảm bảo các tuyến hàng hải. Như vậy, như Ross đã ghi nhận, “ngay cả nếu Trung Quốc phát triển khả năng hải quân trong miền duyên hải của họ, trong điều kiện tối thiểu về tài chánh và sự bất tiện về chiến thuật, đội tàu thương mại và quân sự của Mỹ và đồng minh có thể sử dụng các tuyến hàng hải an toàn nằm xa căn cứ máy bay trên đại lục và nằm trong tầm chi phối của máy bay Mỹ và lực lượng hải quân đặt căn cứ tại các đảo quốc”.[18]

Trớ trêu thay, điều này cột chặt vào lý do thứ nhì cho thấy tại sao những dự đoán về sự bất ổn lại không chắc chắn. Nó liên quan đến các ý định bá chủ sức mạnh và khả năng hội tụ các quan tâm giữa Mỹ và Trung Quốc trong việc lưu thông tự do các hàng hóa chiến lược. Một hiện trạng là lực lượng Mỹ giữ an toàn cho các quyền lợi của người Mỹ thông qua việc đảm bảo tuyến hàng hải ngoài khơi không chỉ cho phép Mỹ giữ vững vị thế của các đồng minh trong khu vực, đặc biệt là Nhật. Nó còn cho phép Trung Quốc hưởng lợi từ sự tự do và không giới hạn dòng chảy của dầu mỏ và các tài nguyên năng lượng chiến lược khác. Trong thực tế, các quyền lợi của Mỹ được đảm bảo tốt nhất qua một hệ thống mở trong việc qua lại khu vực, do hải quân Mỹ đảm bảo, mà từ đó Trung Quốc cũng được hưởng lợi. Tôi sẽ trở lại đề mục này chi tiết hơn trong phần tiếp.

Thứ ba, ngay cả khi nếu Trung Quốc mong muốn tăng cường yêu sách của mình về lãnh thổ ở vùng biển Nam Trung Hoa, vùng này đưa ra vài điểm nhảy trượt mà trong Trung Quốc phải đứng trong vị thế xây dựng khả năng tên lửa chiến lược khả dĩ thách thức được Mỹ -đang khống chế hệ thống đường biển đã nêu. Quần đảo Trường Sa(Spratly) đơn giản là quá nhỏ để đóng vai trò bàn đạp cho sức mạnh tên lửa về sau. Điều này giảm thiểu giá trị chiến lược của Trung Quốc xuống cở mức khẳng định đòi hỏi mang tính địa phương. Liệu nó có thật sự hăm dọa đến các trụ chống trong cân bằng chiến lược khu vực nếu như Trung Quốc chiếm đóng các đảo Trường sa (Spratly) ? Soi rọi mức độ nhỏ nhoi của yêu sách như về Mischief Reef thì có thể kể là Trung Quốc khiêu khích đến cán cân hàng hải của Mỹ không, câu trả lời có lẽ là: thực ra rất là ít.

Cuối cùng, các yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Trường sa (Spratly Islands) không hẵn là mâu thuẩn với sự trường tồn trung-đến-dài hạn của hiện trạng an ninh hiện nay. Điều này có vài quan hệ mật thiết sâu sắc đến tương lai thị trường năng lượng châu Á vì nó cho thấy rằng một mức độ lạc quan cần phải được giữ gìn. Sau rốt, ngay cả một giải pháp làm thỏa mãn các đòi hỏi khẳng định thêm của Trung Quốc — một giải pháp nhìn nhận về mặt luật pháp chủ quyền cho Trung Quốc ở vùng biển Nam Trung Hoa– cũng có thể, trong thực tiễn, giữ nguyên các trụ cột thiết yếu của hệ thống an ninh hiện tại, gọi là thăng bằng hàng hải cho người Mỹ. Hiệu quả là nhìn nhận trên pháp lý chủ quyền Trung Quốc trên vùng biển đó có thể thực sự được ổn định lâu dài. Nó sẽ tức thì nhổ mất răng nanh của những người Trung Quốc có tình cảm dân tộc chủ nghĩa điên dại qua việc thỏa mãn một yêu sách chủ quyền cho họ, trong khi cùng lúc, trong thực tiển, cho Trung Quốc rất ít thực chất để có thể khiêu khích an ninh các tuyến đường biển châu Á.

HỢP TÁC HAY XUNG ĐỘT: SỰ ỔN ĐỊNH TRONG LỜI  CAM KẾT ĂN THEO CỦA TRUNG QUỐC

Các lý lẽ thảo luận trên đưa ra một kết luận thẳng thắn: Sự hiện diện của người Mỹ là sống còn cho ổn định khu vực. Nhưng nó cũng cho thấy sự hiện diện chủ đạo của Mỹ trong vùng thuộc tuyến đường biển ở châu Á có các điểm lợi lộc không mâu thuẩn với các mục tiêu của Trung Quốc về chiến lược cung cấp năng lượng. Trong thực tế, có quá nhiều lý lẽ dự đoán về sự bất ổn ở khu vực dựa trên các hình thành đánh giá thấp vào sự lệ thuộc năng lượng của Trung Quốc hoặc đơn giản chỉ lượn quanh sự kiện này. Trong các yếu tố cần thiết của nó, hiện trạng chiến lược –Hải quân Mỹ hiện diện như một người bảo lãnh cho hải lộ Đông Nam và Tây châu Á– làm thỏa mãn các quan tâm cốt lõi của nền kinh tế Trung Quốc (cũng như nhiều mặt an ninh khác). Vậy thì nếu, như các học thuyết gần đây nhất về cách hành xử để bảo vệ an ninh của Trung Quốc dường như chỉ ra, các nhà chiến lược Trung Quốc hành động trên cơ sở những tính toán mềm mỏng cho lợi ích quốc gia, xảy ra một sự khiêu khích của nước CHNDTH (PRC) đối với trật tự hiện tại thì dường như đó là một lựa chọn không thực tế và tốn kém. (Đây là điều tác giả muốn nhấn mạnh về sự cần thiết của Mỹ tại khu vực nầy sau khi thất bại trong cuộc chiến ở Việt Nam—người dịch)

Trong thực tế, tôi muốn nêu rõ là các mục tiêu kinh tế cốt lõi của Trung Quốc có thể đạt được dễ dàng hơn nhiều qua cái mà các nhà lý luận về quan hệ quốc tế gọi là động thái “ăn theo” hơn là qua bất cứ loại biện pháp mạnh nào hoặc phải dính líu đến khu vực vượt-ngoài-vùng-biên để đảm bảo cho SLOCs và tuyến chở hàng xuyên đại dương. Trong khi Trung Quốc một ngày nào đó có thể có đủ sức khiêu khích đối với sự thống trị của hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương, theo cách suy nghĩ truyền thống về cân bằng lực lượng, không xem xét các cơ sở hợp lý về kinh tế và tài nguyên, là điều dường như thích hợp nhất thúc đẩy Bắc Kinh đi theo chiều hướng này.

Đối với các nhà phân tích an ninh năng lượng châu Á, đặc biệt là, điều này dẫn đến sự ổn định trung và dài hạn. Nhưng, dĩ nhiên, nhiệm vụ tạo ra viễn cảnh này tùy thuộc vào hành động của Mỹ và Nhật, không phải Trung Quốc. Vì nếu các nhà chiến lược Trung Quốc có thể giải quyết các vấn đề về tài nguyên và an ninh một cách ít tốn kém hơn qua việc buông lơi để Mỹ chăm lo sự ổn định của các tuyến biển châu Á, thì những tính toán chiến thuật ngoại giao mềm mỏng mà hầu hết các nhà phân tích gán cho giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ cho thấy rằng chỉ khi nào cố tình cắt nguồn cung cấp của Trung Quốc thì mới có thể gây ra các vấn đề về cân bằng sức mạnh , dấy lên một phản ứng từ quân đội Trung Quốc. Với toàn bộ sự giả dối trong tuyên truyền của nước CHNDTH (PRC) về sự bá quyền của hải quân Mỹ ở vùng Châu Á-Thái Bình Dương, sự tồn tại của những tuyên đường biển mở sẽ thỏa mãn mục tiêu cho các bên Trung Quốc, Nhật và Mỹ, sẽ khuyến khích sự hội tụ các quyền lợi về mặt cung cấp tài nguyên chiến lược, và kiểm soát các động thái gây hấn, ít ra cũng trong khoảng thời gian ngắn đến trung hạn.

Như vậy, vấn đề dài hạn là sự cân bằng tế nhị sẽ nầy lệ thuộc vào sự độc quyền cho Mỹ khống chế tuyến đường biển . Nhưng trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, hoàn cảnh ngân sách bị cắt giảm, các áp lực và nhiệm vụ toàn cầu mới, sự ủy thác tầm xa cho Mỹ về triển khai trước sự hiện diện của quân đội trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương có thể không còn được cho phép.[19] Kể đến gánh nặng chia sẻ lớn hơn, các căng thẳng mới với Nhật và sự tăng đột ngột chủ nghĩa hoài nghi trong Quốc hội, tất cả góp thành những áp lực mới (và đang tiến triển) ảnh hưởng đến viễn cảnh về sự duy trì dài hạn các nỗ lực cân bằng hàng hải trên quy mô lớn.

Tuy nhiên, nếu sự hiện diện của Mỹ bị biến mất hoặc co cụm lại, mọi dự đoán về sự kiềm chế của Trung Quốc sẽ biến mất. Các lý do cho việc nầy cũng dễ hiểu thôi. Nếu các mục tiêu cốt lõi của Trung Quốc là rẻ tiền nhất và hiệu quả nhất đạt được qua việc giao phó cho Mỹ sự ổn định ở tuyến đường biển ở Châu Á-Thái Bình Dương , thì bất cứ thay đổi nào trong sự đảm bảo nêu trên cũng làm biến đổi ma trận lựa chọn chiến lược trước mắt giới lãnh đạo Trung Quốc. Đặc biệt, điều này phát xuất từ suy nghĩ hết sức thông thường là do nhiệm vụ của Mỹ ở vùng biển châu Á đã là một sự khống chế . Ví dụ đơn giản nhất như là Mỹ đảm bảo SLOCs là vùng mở đã tạo ra phi điều kiện cho mọi bên, kể cả Trung Quốc và Nhật, được tự do đi lại

Nhãn hiệu nhân từ của quyền bá chủ này là một hệ quả tất yếu hợp lý trong chiến lược của Mỹ về sự cân bằng hàng hải Đông Á. Mỹ thể hiện các nhiệm vụ này ở vùng SLOCs Châu Á là chính xác với những lý do mà Robert Ross đã mô tả. Một nhiệm vụ như thế lập tức ổn định hóa quyền tiếp cận tài nguyên và thương mại của các đồng minh Mỹ trong lúc giúp Hải quân Mỹ duy trì sự có mặt cần thiết nhằm kiềm chế các mối nguy ở đại lục hăm dọa đến vị trí chủ đạo của Mỹ về hệ thống an ninh hàng hải, hiện vẫn đang chiếm ưu thế quanh vành đai Thái Bình Dương.

Vai trò bá quyền của Mỹ, khi cắt bớt, sẽ ảnh hưởng toàn bộ các điều kiện trên.

Đầu tiên, trong khi các nhà hùng biện chính trị Trung Quốc thường xuyên phê bình “quyền bá chủ” của Mỹ trên các báo trong nước, một sự thật tồn tại là chính xác là quyền bá chủ này đã ngăn cản các thế lực khu vực tiến lên đảm nhiệm thay thế. Quyền bá chủ của Mỹ kìm hãm Trung Quốc, dĩ nhiên, và nước CHNDTH(PRC) phổ biến rộng rãi điều không vui này. Nhưng từ một quan điểm chiến lược, nó cũng kìm hãm các quốc gia châu Á khác, quan trọng nhất là Nhật.

Từ quan điểm của Trung Quốc, điều này rõ ràng là một mục tiêu chiến lược xác thực, giải thích chính xác  vì sao các nhà chiến lược Trung Quốc trở nên nóng nảy mỗi lần có thảo luận về vai trò mới của người Nhật, cả khi dưới sự tiếp diễn trong khung đồng minh Mỹ Nhật. Trong chừng mực là giữ hải quân Mỹ “trong” Đông Á có nghĩa là đảm bảo cho quân đội Nhật không tăng vọt, sự hiện diện tiếp diễn của người Mỹ rõ ràng là được yêu thích hơn ở góc độ Bắc Kinh lo về sự trống vắng có thể xuất hiện do quy mô hiện diện của Mỹ ở đây bị giảm đi.

Thứ nhì, không có sự ổn định từ Mỹ ở khu vực đường biển Châu Á-Thái Bình dương, các quốc gia trong vùng bị lệ thuộc vào cung cấp hàng hóa chiến lược thông qua các tuyến trên sẽ buộc phải bước vào để lấp khoảng trống. Đặc biệt là Nhật Bản sẽ bị thúc ép nhiều để duy trì thế hoàn toàn bị tách biệt, một nhiệm vụ từ sự lệ thuộc vào việc cung cấp năng lượng chiến lược phải băng ngang qua vùng biển hiện đang được cho qua lại tự do, tránh khỏi mọi sự cạnh tranh địa phương nhờ vào hải quân Mỹ.

Dĩ nhiên, có những kiềm chế hết sức gắt gao không cho phép Nhật bản gây ra một sự kiện như vậy.[20] Nhưng một khi các thế lực trong vùng châu Á –Trung Quốc và Nhật– mất khả năng ăn theo quyền thống trị của Mỹ, nguy cơ xảy ra cạnh tranh sẽ rõ rệt tăng theo cấp số nhân. Với Trung Quốc, trong ngoại lệ, điều này sẽ tăng tốc nhu cầu xác lập sự hiện diện của hải quân trên biển khơi, trong lúc với Nhật và các nước khác, có thể sẽ phải tăng cường áp lực chiến lược để chọn giữa củng cố sự có mặt độc lập ngoài khơi để chống trả với Trung Quốc, hoặc –có vẻ thích hợp hơn– là liên kết với Trung Quốc như một đối tác chiến lược có giới hạn, phản ảnh việc liên minh kèm theo điều kiện mà các nhà lý luận về quan hệ quốc tế gọi là một “toa xe chở dàn nhạc đi diễu hành”.

Về phía Hoa Kỳ, điều này đề ra những lựa chọn công bằng và thẳng thắn về chi phí và lợi nhuận trong việc duy trì quyền thống trị hải quân trong vùng Châu Á-TBD, ít nhất là trong trung hạn. Trên thực tế, những ai lo lắng nhất về sự phát triển lớn mạnh của Trung Quốc buộc phải nhìn nhận một sự mỉa mai rằng phương cách nhanh nhất để tăng tốc lại chính là cái lộ trình mà họ rất e ngại, đó là chiến lược cô lập nước CHNDTH.

Mọi nỗ lực nhằm dọa dẫm Trung Quốc thông qua sự đe dọa về cấm cửa các tuyến biển ngấm ngầm của Mỹ sẽ đặt giới cầm quyền Trung Quốc vào vị thế gần như không trụ được về mặt chiến lược. Chừng khi nào Trung Quốc có thể đảm bảo cho các nhu cầu kinh tế và tài nguyên của mình qua việc xua đi bá quyền thống trị đường biển của Mỹ, chừng ấy nhu cầu bức xúc đòi hỏi tăng tốc lộ trình xây dựng năng lực hiện thực sức mạnh riêng mình sẽ giảm bớt. Nhưng bất kỳ sự đe dọa nào đến nguồn cấp hàng chiến lược của Trung Quốc –không chỉ qua sự dọa dẫm của Mỹ, mà ngay cả một sự thoái bộ của Mỹ cũng cho phép Nhật Bản, Đại Hàn và số nước Asean trở nên quyết đoán hơn– sẽ trực tiếp là mối hăm dọa đến giao thương chiến lược của Trung Quốc về năng lượng và các tài nguyên khác

Phải nói chính xác là sự đảm bảo của Mỹ về quyền bình đẳng vãng lai trên mọi tuyến biển châu Á đã cho phép Trung Quốc hoàn thành các đòi hỏi về năng lượng chiến lược của mình qua việc tự do qua lại, ngược với chủ nghĩa phiêu lưu quân sự. Một sự biểu lộ nhân từ trong quyền bá chủ của Mỹ – mở rộng SLOCs– cho phép các nước tự do qua lại, kể cả Trung Quốc, là khả dĩ. Nhưng nó hàm chứa một nghịch lý mỉa mai vào quan hệ Mỹ-Trung. “Những Con-te-nơ tân thời” nầy cần được chấp nhận , có lẽ là chiến lược tốt nhất trong đó cho phép Trung Quốc tăng tốc hướng đến mục tiêu tăng cường sức mạnh, chính là chấp nhận Trung Quốc tiếp tục ăn theo việc tăng cường vai trò của Mỹ trong khu vực. Tìm cách làm suy yếu tiến trình nầy của Trung Quốc qua việc hăm dọa hay cô lập chỉ có thể mang lại tác dụng ngược. Trớ trêu thay –ít nhất là xét đến sự giao thương năng lượng chiến lược qua ngã SLOCs của Asian– để đối đầu với Trung Quốc thì, trên thực tế, là kiềm chế sự khẩn trương đẩy nhanh hiện diện hải quân ở vùng nước sâu và thúc đẩy khả năng hình thành sức mạnh của họ . Điều này đòi hỏi nầy hàm ý đảm bảo chiến lược mở cho các tuyến đường biển ở Châu Á trong việc cung cấp hàng hóa chiến lược và đắp thịt lên xương trong “quan hệ đối tác chiến lược” Mỹ – Trung. Không có đảm bảo đáng tin cậy cho hiệu ứng này, việc hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc sẽ trở thành một yêu cầu chiến lược cấp thiết. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thể chỉ khoanh tay ngồi nghiềm ngẫm về khả năng bị tấn công chiến lược sẽ xảy ra khi nhu cầu các nguồn cung ứng năng lượng ngày càng gia tăng mà lại phải chở bằng tàu qua vùng biển bị hải quân Mỹ khống chế.

HIỆN ĐẠI HÓA KỸ THUẬT VÀ NĂNG LỰC QUÂN ĐỘI

Suy cho cùng, bàn về các lựa chọn của Trung Quốc ở mặt an ninh năng lượng, điều quan trọng là hiểu thấu được cấu trúc sức mạnh hiện thời của Trung Quốc cho phép họ làm được gì. Hiện đại hóa của Trung Quốc tập trung ưu tiên vào đâu ? Nước CHNDTH (PRC) hiện bận rộn vào một chương trình chủ yếu về hiện đại hóa kỹ thuật quốc phòng . Điều này bắt nguồn từ ba điểm quyết định chủ yếu. Đầu tiên, vào năm 1977 Trung Quốc chuyển trọng tâm thành tựu của mình từ vũ khí chiến lược sang vũ khí quy ước (1977) để cân bằng lại quy hoạch vũ lực sau hơn hai mươi năm hầu như bị ngự trị bởi lịch trình chạy đua vũ khí nguyên tử và các hệ thống bắn phóng chúng.[21] Quyết định này còn nhận thêm cú hích sau kinh nghiệm gay go của Trung Quốc trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam năm 1979, khi mà những lỗ hổng gay gắt trong trang bị đã gây khó khăn cho các cuộc hành quân. Cuối cùng, vào năm 1985, chiến lược quân sự của Trung Quốc chuyển từ ưu thế hạt nhân tập trung vào “phủ đầu, tổng lực, hạt nhân” (zaoda, dada, da he zhanzheng) sang việc nhấn mạnh vào giới hạn xung đột quy ước dọc theo ngoại biên lãnh thổ, ngược lại việc hướng vào trong lục địa.[22]

Như kết quả đã thấy , đặc biệt phải kể đến là cuộc chuyển đổi chiến lược vào năm 1985, quy hoạch vũ trang của Trung Quốc từ cuối thập kỷ 70 đã tiếp diễn qua 3 thời kỳ chính: thứ nhất là tập trung vào lực lượng lục quân; thứ nhì là tập trung vào hiện đại hóa hải quân; và thứ ba, bắt đầu khoảng 1993, là tập trung chủ yếu vào không quân. Điểm tập trung cuối này bắt nguồn chủ yếu từ tầm quan trọng chiến lược trong vấn đề Đài Loan, nơi Trung Quốc sẽ cần thiết lập ưu thế trên bầu trời phòng khi bộc phát chiến tranh ở vùng eo biển.

Thảo luận mở rộng về năng lực hiện tại của Trung Quốc là vượt khỏi phạm vi bài này. Nhưng là quan trọng để đưa ra một tổng kết gói gọn về khả năng hải và không quân có thể ảnh hưởng đến khả năng của PRC đối với các tuyến vận tải biển cung cấp năng lượng chiến lược.

Hiện đại hóa hải quân đã được tập trung qua sự mở rộng chu vi phòng ngự của Trung Quốc từ vùng duyên hải (jinhai fangyu) đến vành đai lãnh hải (jinyang fangyu) kéo dài đến 400 hải lý, cũng như ở vùng biển Đông. Các lực lượng biển khơi (yuanyang haijun) rõ ràng đã có trong chương trình công tác của Trung Quốc, nhưng các qui mô đầu tư lực lượng cho thấy việc này chưa trở thành một khả năng nghiêm trọng cho đến khoảng giữa thế kỷ tới. Như Paul Godwin đã chỉ rõ, các chuyển đổi chiến lược này rất quan trọng vì nó giải thích sự tập trung vào các sứ mệnh chuyên biệt phát triển từ điều sửa đổi năm 1985 của chiến lược quân sự nhà nước Trung Quốc, ngay cả khi các năng lực để hình thành sức mạnh thực sự có được cải thiện rất ít. Hầu hết năng lực hải quân Trung Quốc vẫn còn hạn chế và khí tài lạc hậu, nhưng một quyết tâm thay đổi cao thì rõ ràng là có.[23]

Hiện đại hóa hải quân Trung Quốc tập trung vào các khả năng trên lẫn dưới mặt nước. Các cải tiến thuộc trên mặt nước, đặc biệt đối với các tàu thuộc lớp Luda (khu trục hạm) và Jianghu (tiểu khu trục), sẽ cho Trung Quốc những khả năng lớn hơn. Điều này đặc biệt đúng từ lúc các chương trình hiện đại hóa này –hầu hết dựa trên các thương vụ từ Pháp– được kèm theo các chương trình cải tiến khả năng tiếp vận tại chỗ, bao gồm các tàu cấp dầu, các tàu hàng, và trực thăng có khả năng tiếp vận cho căn cứ không quân.

Không quân Trung Quốc là một đau đầu lớn cho các nhà hoạch định quân sự. Bắt đầu với một loạt những cuộc tranh cãi về “phi đạn chống máy bay ném bom” vào năm 1956, những người đứng về phía không quân phải chiến đấu với một đội quân ganh tỵ. Tỷ như, toàn bộ các chiến đấu cơ J-6 mới vừa sản xuất (phi cơ siêu thanh đầu tiên của Trung Quốc, một bản sao của chiếc MiG-19 Xô Viết) phải nằm chết ở bãi từ giữa 1959 – 64 do lỗi bế tắc kỹ thuật.[24] Lực lượng không quân cũng bị ghè chân trong hoạt động chính trị tại Trung Quốc trong suốt cuộc Cách mạng Văn hóa, giới lãnh đạo Trung Quốc cả tin vào hành động lật đổ(đảo chính) ảm ảnh rằng phải cẩn thận với không quân hiện đại. Mãi cho đến gần đây, ngân sách của không quân và thắng lợi chính trị đều bị chết yểu, và chỉ từ khoảng 1993 không quân Trung Quốc mới nhận được sự quan tâm đúng mức.

Ngày nay, việc hiện đại hóa không quân là rất có ý nghĩa, nhưng nó không tương xứng với thay đổi chủ yếu trong khả năng sản xuất nội địa vốn bị xem thường từ những năm 1960 trở đi. Quan trọng hơn hết, Trung Quốc mua 24 chiến đấu cơ Su-27 và hai máy bay huấn luyện từ Nga. Các máy bay này đã gia nhập lực lượng không quân PLA vào năm 1995. Như Godwin đã nêu, đây là những phi cơ chiến thuật duy nhất của Trung Quốc có khả năng dẫn dắt các chiến dịch trên không ở vùng biển Đông. Tuy nhiên, điều này cũng sẽ cần dựa vào chiến lược nghĩa là có khả năng giám sát dễ dàng. Những chiến dịch như thế sẽ đòi hỏi là các phi cơ được đặt ở đảo Hải Nam ngoài bờ biển đông nam hoặc trên một căn cứ không quân trên quần đảo Hoàng Sa (Paracel), phía bắc của quần đảo Trường Sa (Spratly). Godwin còn nêu thêm, việc này sẽ đòi hỏi trước tiên một nỗ lực nới rộng căn cứ chính tại quần đảo Hoàng Sa (Paracels), cũng như mở rộng huấn luyện trên vùng biển khơi, dưới mọi thời tiết và các phi vụ bay đêm cho phi công Trung Quốc. Tất cả đều được kém huấn luyện về những kỹ năng này.

Tóm lại, Trung Quốc hiện đang sở hữu các khả năng hầu hết là không đồng bộ — thu hẹp sức mạnh quân sự với mục tiêu nhằm chống lại Mỹ và đồng minh đặc biệt yếu kém. Điều này chắc chắn là chưa kể đến khả năng hoạt động xa khỏi vùng duyên hải, mở hoặc đóng các tuyến đường biển, dẫn dắt chiến dịch không quân hay hải quân trên biển khơi, hoặc khiêu khích sự thống trị của hải quân Mỹ. Hơn nữa, các khả năng này bao gồm khả năng tên lửa của Trung Quốc ở tầm đạn đạo ngắn đến trung và hệ thống tên lửa hành trình.[25] Đánh giá các khả năng này cũng là vượt quá tầm bài luận này. Tuy nhiên, mặc dù tên lửa Trung Quốc tiếp tục có vấn đề về hệ thống dẫn đường và độ chính xác, không nghi ngờ nhiều gì ít nhất một vài tên lửa Trung Quốc có thể gây thiệt hại đáng kể đến vận tải biển về mặt thương mại và quân sự. Tuy nhiên, khả năng quân đội Mỹ đủ sức phản ứng tương đối nhanh đối với các mối đe dọa như thế.

Tóm lại, Trung Quốc đang ở khoảng 40 đến 45 năm cách biệt so với loại hiện đại hóa kỹ thuật toàn diện, xuyên suốt mà lực lượng không và hải quân của họ cần có để có thể trực tiếp khiêu khích sức mạnh của Mỹ hoặc hiện trạng trong vùng Châu Á-TBD. Bốn mươi đến bốn mươi lăm năm là một thời gian dài trong các mối quan hệ quốc tế. Đến năm 2030, liên doanh phát triển tài nguyên hoặc các hình thái khác của hợp tác an ninh năng lượng có thể trở nên hiện thực, đặc biệt là vùng biển Đông. Trong lúc này, thì, như đã nêu ở phần cuối, một sự sụt giảm khả năng của Mỹ trong vùng biển Thái Bình Dương có thể mở ra chỗ trống cho sự cạnh tranh về an ninh Trung Quốc / Nhật Bản nhằm lấp khoảng trống dường như còn nguy hiểm hơn nữa đối với sự ổn định của Châu Á hơn là một tiềm năng Trung Quốc khiêu khích đến hiện trạng. Trung Quốc có quá nhiều để mất từ việc khiêu khích quân đội Mỹ trên đường biển tự do đi lại. Họ có thể xua đuổi sự bảo vệ của Mỹ ở vùng biển trên một cách hiệu quả và ít tốn kém hơn nhiều. Như đã nêu, dù vậy, điều này mạnh dạn chỉ ra rằng với Hiệp Chủng Quốc và các hoạt động của họ –đặc biệt những nỗ lực trong kiểm soát sự cạnh tranh Trung- Nhật và cung ứng cho Trung Quốc nhiều đảm bảo chiến lược khác nhau– không có người Trung Quốc “hung hăng” nào sẽ phải chịu trách nhiệm cho sự ổn định của trật tự ở Châu á.

TRỘN LẪN GANH ĐUA VÀ HỢP TÁC: CÁI MỚI VỀ KINH TẾ ĐỊA CHÍNH TRỊ

Mixing Rivalry With Cooperation: The New Economic Geopolitics

Các nhà phân tích tương lai năng lượng châu Á không được lầm lẫn việc Trung Quốc có những mối quan tâm chiến lược cụ thể về tuyến biển châu Á, cũng như sự phó thác chủ yếu chính sức mạnh quân sự của mình. Nhưng soi rọi về những giới hạn của Trung Quốc trong năng lực thực tế sức mạnh của bản thân, các mối quan tâm này có lẽ được đáp ứng tốt nhất, ít ra là cho một tương lai có thể dự đoán được, thông qua sự hợp tác và sự cộng tác chiến lược. Như đã nêu, điều này có nhiều lý do để lạc quan. Nhưng nó cũng cho thấy việc tại sao kiểu nói kích động về chiến lược ganh đua với Trung Quốc là không lành mạnh lẫn mất ổn định. Sau cùng, tranh luận như thế buộc các nhà chiến lược Trung Quốc đối diện với khả năng quyền lui tới vùng tài nguyên chiến lược của họ có thể bị mất. Điều này đặt các nhà lãnh đạo PRC vào thế không đứng vững được và thúc đẩy động thái nổ lực hiện thực sức mạnh và chiến lược bất hợp tác giống y kiểu đã châm dầu vào sự bi thảm thái quá về Mỹ trong phần đầu.

Trên hết, điều này cho thấy tại sao chiến tranh lạnh là một kiểu mẫu tồi cho quan hệ giữa các cường quốc. Sự ganh đua Mỹ – Xô Viết, sau cùng, là kiểu xung đột thuần túy, thuộc về lịch sử, điều này có gì đó không bình thường. Thường thì, các cường quốc trong lịch sử quốc tế đã trộn lẫn nhiều dạng khác nhau của sự hợp tác và ganh đua. Với tất cả thiếu sót về chiến lược rõ ràng, thứ bậc sau chiến tranh lạnh dường như được hình thành theo cách này, và câu hỏi về cung cấp năng lượng cho vùng Đông Á tạo ra điểm đột ngột thật sự. Mặc dù Hiệp Chủng Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và các nước khác có thể có các mối quan tâm chiến lược cạnh tranh nhau, khoa địa chính trị kinh tế chỉ ra rằng các chi phí cho toàn bộ các bên ganh đua trên mặt cung cấp hàng hóa chiến lược bỏ xa các lợi ích của sự hợp tác. Trung Quốc có thể tấn công “bá quyền” của Mỹ, nhưng để xua đuổi sự bảo vệ của người Mỹ trên các tuyến đường biển nhằm thực hiện các mối quan tâm quốc gia chỉ có hiệu quả vượt xa nếu Trung Quốc phải tự mình đảm bảo các mối cung cấp này. Trung Quốc không thể làm thế với khả năng hạn chế hiện tại của mình. Nhưng điều đó có thể làm cho quan hệ quốc tế vùng Đông Á thành cực kỳ nguy hiểm và tốn kém cho hết thảy nếu các bên toan tính đóng lại quyền lui tới tự do của các nguồn tài nguyên. Sự hiện diện của Mỹ tại tuyến đường biển ở châu Á cũng là kiểm soát người Nhật tái vũ trang và cho Trung Quốc giảm chi phí trong khi tiếp cận các hàng hóa chiến lược cần thiết. Trong lúc đó, với Mỹ, chiến lược đảm bảo cho Trung Quốc là cần thiết để giữ cho Trung Quốc hài lòng với sự tiếp tục làm bá chủ của Mỹ trong vùng hải lộ, là cái giá nhỏ phải trả cho sự đảm bảo sự phục tùng vốn có của PRC đến những điều kiện tất yếu trong chiến lược cân đối hàng hải của Mỹ.

Cuối cùng, phân tích các vấn đề năng lượng này giải thích rõ tại sao sự sắp xếp chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc lại quan trọng đến thế. Nó cho thấy, đầu tiên là, các phân tích về an ninh năng lượng vùng Đông Á phải luôn cẩn trọng không chỉ về sự cường điệu các khả năng của Trung Quốc đồng thời cần nhận thức được rõ các xu hướng chiến lược từ những hành động có hạn chế nhất định của Trung Quốc trên vùng biển Đông. Thứ đến, không có gì để hoài nghi cạnh tranh Mỹ và Trung Quốc về quyền lợi trên nhiều lĩnh vực, tuy nhiên có vài lối đi thoáng mở trong chương trình bảo vệ an ninh và kinh tế Chấu Á nơi mà sự hợp tác chẳng những là có thể mà sẽ là cần thiết. Không đặt quá nhiều kỳ vọng vào đó, các cường quốc có thể và cần phải trộn lẫn ganh đua với hợp tác. Với các vấn đề về thứ bậc hậu chiến tranh lạnh –địa chính trị kinh tế, toàn cầu hóa, thách thức về môi trường, và đại loại– có thể không làm suy yếu thực tế cạnh tranh nhau giữa các cường quốc, nhưng nó sẽ làm cho các mối liên hệ quốc tế càng thêm phức tạp. Các kiểu mẩu xung đột thuần túy theo lối chiến tranh lạnh có giá trị giới hạn trong suy nghĩ về tương lai của vùng Đông Á. Chúng ta phải cẩn trọng về việc sử dụng cặp kính mang quan niệm chiến tranh lạnh vào suy nghĩ về Trung Quốc, Hoa Kỳ, mối quan hệ của họ, và sự nổi cộm về một trật tự ở vùng Đông Á.

Chú thích:

1 Về thảo luận chi tiết các vấn đề năng lượng của Trung Quốc, xem các bài khác trong loạt bài của Viện Baker.

2 Đáng phải ghi nhận ở đây là tính gộp các nhu cầu năng lượng hình thành của Trung Quốc là lấy từ than đá (có dư dật trong nước), thủy điện và nguyên tử lực. Như các báo cáo khác cùng chuyên đề đã làm rõ, tuy nhiên, Trung Quốc trong thực tế cần phải nhập khẩu dầu mỏ để thỏa mãn các nhu cầu năng lượng cho nền công nghiệp chủ chốt của mình.

3 Xem thêm, thí dụ như, Evan A. Feigenbaum, “Soldiers, Weapons, and Chinese Development Strategy: The Mao Era Military in Chinaís Economic and Institutional Debate,” The China Quarterly (Số. 158, tháng 6, 1999, sớm ra mắt).

4 Về thành phần kỹ thuật cao của sự chuyển đổi này, xem Evan A. Feigenbaum, “Who’s Behind China’s High-Technology ‘Revolution’? How Bomb-Makers Remade Beijing’s Priorities, Policies, and Institutions,” International Security (Vol. 24, No. 1, Summer, 1999, forthcoming).

5 Những giai thoại thường không giúp được gì nhiều, nhưng ít ra một mẫu giai thoại chứng minh cho thấy đây là một xu hướng phát triển trong phân tích giữa những học giả trẻ tuổi. Chỉ vỏn vẹn trong vòng vài tháng qua, tôi đã xem lại vài bản thảo viết về chính sách lãnh đạo và một số tạp chí học thuật đều dứt khoát khẳng định một Trung Quốc lớn mạnh rất sẵn lòng dùng sức mạnh để đối phó với các lệ thuộc về kinh tế và tài nguyên. Và các kiểu phân tích theo hướng này đang dâng cao.

6 Đại diện học giả theo loại này có thể tìm thấy trong tác phẩm của Sergei Goncharov, John Wilson Lewis, và Xue Litai; Alastair Iain Johnston; Thomas Christensen; Robert Ross; Chen Jian; and many others. Về chiến lược tiếp cận văn hóa, đọc tác phẩm của Johnston, đặc biệt là quyển Cultural Realism: Strategic Culture and Grand Strategy in Chinese History (Princeton: Princeton University Press, 1995). Thêm nữa về chi tiết cấu trúc, đọc tác phẩm của Robert Ross, luôn cả quyển Negotiating Cooperation: U.S.-China Relations, 1969-1989 (Stanford: Stanford University Press, 1995) của ông ấy. Về tiếp cận thái độ ngoại giao mềm mỏng bén rể trong nghệ thuật lãnh đạo và các khái niệm an ninh, đọc Goncharov, Lewis, and Xue, Uncertain Partners: Stalin, Mao, and the Korean War (Stanford: Stanford University Press, 1993). Christensen cho ta tiếp cận liên kết thú vị cấu trúc / nội địa trong sách của ông là quyển Useful Adversaries: Grand Strategy, Domestic Mobilization, and Sino-American Conflict, 1948-1956 (Princeton: Princeton University Press, 1996) and Chen Jian, China’s Road to the Korean War (New York: Columbia University Press, 1994).

7 Về câu chuyện này, đọc Goncharov, Lewis, and Xue, Uncertain Partners (chapter 1).

8 Alastair Iain Johnston, “China’s Militarized Interstate Dispute Behavior, 1949-1992: A First Cut at the Data,” The China Quarterly (No. 153, March, 1998). pp. 1-30.

9 Các tác phẩm chủ yếu theo dòng này bao gồm một số đã trích dẫn phía trên, cũng như các phẩm của Allen Whiting về Korea, India, và cuộc xung đột đầu tiên ở Đông Dương, Gordon Chang nói về Taiwan Strait, Thomas Robinson về chuyện biên giới Soviet, và Robert Ross về xung đột lần thứ nhì ở Đông Dương. Đọc Whiting’s China Crosses the Yalu: The Decision to Enter the Korean War (Stanford: Stanford University Press, 1968) and The Chinese Calculus of Deterrence: India and Indochina (Ann Arbor: University of Michigan Press, 1975); Chang’s Friends and Enemies: China, the United States, and the Soviet Union, 1949-1972 (Stanford: Stanford University Press, 1990); Robinson’s “China Confronts the Soviet Union: Warfare and Diplomacy on China’s Inner Asian Frontiers,” in Roderick MacFarquhar and John K. Fairbank, eds. The Cambridge History of China (Vol. 15, “The People’s Republic, Part 2: Revolutions Within the Chinese Revolution, 1966-1982”) (Cambridge: Cambridge University Press, 1991); and Ross’s The Indochina Tangle: China’s Vietnam Policy, 1975-1979 (New York: Columbia University Press, 1988).

10 Câu chuyện này được kể trong tác phẩm của Goncharov, Lewis and Xue, Uncertain Partners, Christensen, Useful Adversaries, and Chen Jian, China Road to the Korean War. Về chuyện các chống đối của một số tưởng lãnh quân sự với kế hoạch can thiệp của Mao, đọc Nie Rongzhen, Nie Rongzhen Huiyilu (Memoirs of Nie Rongzhen] (Vol. 3, Beijing: Liberation Army Press, 1987).

11 John Gittings đã liệt kê từng khoản các mối đe dọa này, bao gồm hai mối rõ rệt từ cuộc chiến tranh Triều Tiên, ba mối liên hệ đến Đông Dương, và hai mối liên quan đến các đảo ngoài khơi đang tranh chấp trong eo biển Đài Loan. Đọc Gittings, The World and China (London: Oxford University Press, 1967). p. 203.

12 Về câu chuyện này, đọc John Wilson Lewis và Xue Litai, China Builds the Bomb (Stanford: Stanford University Press, 1988).

13 Johnston, “China’s Militarized Interstate Dispute Behaviour” (pp. 9-11).

14 Phải kể đến việc thuật lại câu chuyện đso trong bối cảnh này là John W. Garver, “China’s Push Through the Biển Đông: The Interaction of Bureaucratic and National Interests,” The China Quarterly (No. 132, December, 1992). pp. 999-1028. Rất tuyệt vời – và rất thận trọng – kể về các mục tiêu của Trung Quốc trong vùng của Michael Gallagher, “China”s Illusory Threat to the Biển Đông,” International Security (Vol. 19, No. 1, Summer, 1994). pp. 169-94. Về quần đảo Spratly, cũng nên xem Greg Austin, China’s Ocean Frontier: International Law, Military Force, and National Development (St. Leonards, Australia: Allen and Unwin, 1998).

15 Kent Calder có cuộc tranh luận phần nào theo các hướng này. Đọc sách của ông là quyển Pacific Defense: Arms, Energy, and Americaís Future in Asia (New York: William Morrow, 1996) .

16 Trong trường hợp Tây Tạng, tầm quan trọng chiến lược này dường như ngày càng lụi tàn như là một kết quả sự cạnh tranh mới Hán – Ấn độ, khiến cho việc chiếm đóng vùng đất dọc theo lối mòn qua các vùng núi cô lập bớt nổi cộm hơn trong mục tiêu của Trung Quốc ở Nam Á.

17 Robert S. Ross, “The Geography of the Peace: East Asia in the Twenty-First Century,” International Security (Vol. 23, No. 1, Spring). pp. 100-1.

18 Ibid (p. 102).

19 Về một vài thí dụ cuộc tranh luận này bắt nguồn từ đâu, đặc biệt xem tác phẩm của Eugene Gholz, Daryl G. Press, and Harvey Sapolsky, “Come Home, America: The Strategy of Restraint in the Face of Temptation,” International Security (Vol. 21, No. 4, Spring, 1997). pp. 5-48; and Christopher Layne, “Less Is More: Minimal Realism in Asia,” National Interest (No. 43, Spring, 1996). pp. 64-78).

20 Đặc biệt xem cách xử sự xuất sắc trong kiềm chế nước Nhật của Michael May, “Correspondence: Japan as a Superpower?” International Security (Vol. 18, No. 3, Winter 1993/94). pp. 182-187. Về hai điểm thừa nhận nhiều khả năng lớn trong việc Nhật trực tiếp tham gia chiến lược một châu Á đa cực, đọc Aaron L. Friedberg, “Ripe for Rivalry: Prospects for Peace in a Multipolar Asia,” International Security (Ibid), pp. 5-33, and Richard K. Betts, “Wealth, Power, and Instability: East Asia and the United States After the Cold War,” International Security (Ibid). pp. 34-77.

21 Trong cuộc chuyển đổi này, các nhân tố cơ bản của nó, và vào phạm vi lịch sử, tất cả dựa trên các cuộc phỏng vấn mở rộng chủ yếu và các nguồn từ Trung Quốc, đọc Feigenbaum, “Who’s Behind China’s High Technology ‘Revolution'” (forthcoming).

22 Paul Godwin đã làm việc đặc biệt rất tốt về những sự chuyển đổi chiến lược này. Xem, thí dụ như, Godwin, “From Continent to Periphery: PLA Doctrine, Strategy, and Capabilities Toward the Year 2000,” The China Quarterly (No. 146, June, 1996). pp. 464-87).

23 Godwin cho ta một cuộc thảo luận thú vị về những thay đổi trên biển và trên không. Đọc “From Continent to Periphery” (pp. 474-82).

24 Tôi bàn về cuộc thảo luận “phi đạn / máy bay thả bom” và những yếu kém thời kỳ đầu của nền kỹ nghệ hàng không ở Feigenbaum, “The Military Transforms China: The Politics of Strategic Technology from the Nuclear to the Information Age,” Ph.D. Dissertation, Stanford University, 1997 (chapter 4). Đọc cùng chủ đề qua tác phẩm của John Wilson Lewis và Xue Litai nói về không quân Trung Quốc, sẽ có sớm trong International Security (Vol. 24, No. 1, Summer, 1999). Về mặt phi cơ hiện đại nhất Trung Quốc cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60, đọc Xie Guang, Dangdai Zhongguo de Guofang Keji Shiye [Contemporary China’s National Defense Science and Technology Cause] (Beijing: Chinese Academy of Social Sciences Press, Contemporary China Series, 1992, Vol. 2). pp. 181-82. Tôi trình bày vài phạm vi cho cuộc thảo luận trên mặt chiến lược đối với lại đầu tư vào lực lượng quy ước ở Feigenbaum, “Soldiers, Weapons, and Chinese Development Strategy” (sắp ra mắt).

25 Về mặt tổng quát năng lực theo thời gian (nhưng với một phiên bản vẫn đang hay nhất nói về thoạt đầu từ đâu nó đến), đọc John Wilson Lewis and Hua Di, “Chinaís Ballistic Missile Programs: Technologies, Strategies, Goals,” International Security (Vol. 17, No. 2, Fall, 1992). pp. 5-40.

http://web.nps.navy.mil/~relooney/QDR2000_7.htm#use%20of%20force

Nhận xét của người dịch:

Bài viết của TS Evan A. Feigenbaum phân tích mối tương quan lực lượng giữa Hoa Kỳ-Trung Quốc-Nhật với ưu thế tuyệt đối của hải quân Mỹ xem đó cơ sở cho sự ổn định lâu dài trên biển Đông, rằng Hoa Kỳ nắm quyền làm bá chủ ở khu vực nầy đảm bảo cho quyền lợi không những của nước Mỹ mà còn giữ vững an ninh năng lượng cho Nhật bản lẫn Trung Quốc. Tác giả nhấn mạnh với sức mạnh yếu kém về quân sự hiện có, Trung Quốc không thể nào lật ngược được thế cờ nầy cho dù có thái độ hung hăng trên lời nói hay tăng cường việc tuần tra trên biển Đông. Từ đó chủ trương không gây căng thẳng với Trung Quốc quá mức cần thiết cho dù Trung Quốc có lấn chiếm những hòn đảo còn lại ở Trường Sa vì cho rằng điều đó chẳng tác hại gì đến an ninh và tuyến đường biển trong khu vực nây mỗi khi còn nằm dưới sự thống trị của hải quân Hoa Kỳ ! Đây là một lập luận khá nguy hiểm (đối với Việt Nam), tác giả không hề đề cập đến vị trí chiến lược của Việt nam trên biển Đông cũng như chủ quyền lãnh hải của một nước bé. Hay nói ngược lại liệu Việt nam sẽ phải có chiến lược và chiến thuật về ngoại giao cũng như quốc phòng như thế nào để củng cố vị trí chiến lược của mình trong bàn cờ khu vực và trên thế giới, một mặt gìn giữ được chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mặt khác tích cực góp phần vào việc đảm bảo sự đi lại và an ninh trên biển đông của hàng hải quốc tế. Phải chăng sách lược cần thiết của Việt Nam là giữ vai trò trung gian điều phối tại chỗ, đảm bảo sòng phẳng lợi ích của cộng đồng quốc tế bằng cách giữ một vai trò trung lập mang tính quyết định trong cán cân tương quan lực lượng giữ các siêu cường trên biển Đông là một khả năng có thể nếu…. Một trong những biện pháp trước mắt, chúng ta nên ra một nghị quyết của Quốc Hội Việt Nam về vấn đề chủ quyền trên biển đông và công bố lập trường hợp tác toàn diện với những sáng kiến đem lại hòa bình ổn định và lợi ích đa phương trước diễn đàn LHQ cũng như trên các diễn đàn quốc tế. Hơn thế nữa nguồn dầu mỏ và khí đốt trên biển Đông vô cùng phong phú như nhiều kết quả điều tra của Trung Quốc và các nước, đây cũng là một trong những nguy cơ đưa đến tranh chấp về chủ quyền lãnh hải mà tác giả bài viết đã không đề cập vì quá chú trọng đến cán cân tương quan lực lượng và sự ăn theo dựa dẫm vào Hoa Kỳ. Nguồn tài nguyên phong phú mà những người lãnh đạo ở Bắc Kinh vô cùng thèm muốn và sẵn sàng “chiến đấu để bảo vệ lợi ích” của mình nhưng Hoa Kỳ nhất định sẽ không nhân nhượng khi toàn bộ nguồn tài nguyên nầy bị Trung Quốc độc chiếm vì ý đồ sâu xa là buộc Trung Quốc phải phụ thuộc vào dầu mỏ vào các nước ở Trung Đông và các lục địa đang bị Tư bản dầu hỏa của Tư bản phương tây, đặc biệt là Hoa Kỳ–chi phối. Cho nên hàm ý của tác giả trong việc đảm bảo an nình trên tuyến đường biển ở Châu Á-TBD cũng như eo biển Malacca và Ấn độ dương là nhu cầu bức thiết mang tính chiến lược, kìm hãm không để Trung Quốc có thể tung hoành như ý đồ bá quyền của họ. Nghĩa là Trung Quốc chỉ có thể phát triển trên cơ sở “ăn theo” hay che chở như Nhật bản trong suốt nửa thế kỷ qua dưới “cái ô hạt nhân” trong thời chiến tranh lạnh nhưng theo công thức mới hơn là những chi phí đó Trung Quốc phải đền bù cho nước Mỹ và chia sẻ những lợi ích của Hoa Kỳ ngay trên mảnh đất Trung Quốc !

Ở ý nghĩa đó, bài viết nầy gợi mở nhiều vấn đề thú vị cho người đọc tuy rằng nhiều đoạn khúc mắc, khó hiểu do khả năng chuyển ngữ hạn chế hay do cách viết “hàn lâm” theo lối học thuật ở Mỹ mà độc giả Việt nam chưa quen. Mong có sự thông cảm và sửa sai nếu có hay phát hiện được để hoàn thiện hơn.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: